Bài tổng quan
Điều tốt, điều e sợ và ba mươi sáu huyệt cưỡi rồng
Long tốt thì như loan bay phượng múa, nước tốt thì như rắn sống ra khỏi hang, còn long e nhập huyệt mà không có chủ, nước e có tiếng ai oán trước mộ. Mạch đến theo ba cách, hợp với mười hai thế giáng của long mà thành ba mươi sáu kiểu huyệt. Chỉ thần tiên mới phân biệt nổi, hay còn cách nào khác?
Long, hiệp, huyệt đi trước; sa và nước đến sau
Thời cổ chỉ nói đến long, hiệp và huyệt. Về sau người ta mới thêm sa và nước để kiểm chứng họa phúc. Nghiên cứu đạo lý đến chỗ sâu thì đều lấy sinh khí làm chủ, lấy long huyệt làm gốc, lấy sa và nước làm phần kết. Tất cả cũng chỉ là chuyện thuận nghịch giữa núi và nước, hơi thở âm dương, tính tụ tán và phương hướng mà thôi.
Điều hệ trọng của địa lý phong thủy là xem tổ tông của long mạch bề thế, thân long sống động, nhấp nhô lên xuống, uốn lượn có lực, đứt rồi lại nối, thanh thoát hiền từ, càng già càng dẻo dai, trong thô có tinh, phân rõ đực cái, mạch xuất ở giữa, trùng trùng xuất trướng, có đủ tháp tùng hộ vệ, có đón có tiễn, qua hiệp thì tụ khí, như lưng ong gối hạc, gió thổi hai bên, mái chèo cân đối, sánh vai thân ái, hòa hợp tinh thần. Thanh Long giáng, Bạch Hổ phục, tả hữu ôm ấp. Núi chầu tú lệ hữu tình, minh đường bằng phẳng, thủy khẩu giao kết, la thành kín đáo, mạch rơi xuống kết huyệt, âm dương hài hòa, thấp cao minh bạch, hai vai mở rộng, trên phân dưới hợp, có nhọn có tròn, nước trong ngoài đều uốn lượn, núi trong ngoài đều vây bọc kín. Đạt được như thế thì tự nhiên là đất lớn phú quý, khỏi cần dùng quẻ cũng cát lợi. Thiên hạ chớ nghe lời gian trá, chớ tin kẻ tiểu nhân bốc quẻ hồ đồ mà chuốc lấy sai lầm.
Sáu điều cốt yếu và mười yếu quyết chọn đất
Bàn về sa và nước thì chữ nghĩa chất lên được hàng nghìn quyển, nhưng điều thật cần để tìm long điểm huyệt lại ít hơn nhiều.
Đọc kỹ các bài ca địa lý của hiền sĩ đời trước thì chỉ cần dạy vài khẩu quyết là đủ. Chỉ cần nắm vững một số thuật là thông hiểu toàn bộ. Hắc Nang kinh đã nói rõ: long mạch chủ yếu xem hai bên tả hữu có dựa vào nhau không; huyệt vị chủ yếu xem hai bên tả hữu; minh đường chủ yếu xem bốn góc tốt xấu; Tam Dương chủ yếu xem tình hình thành quách. Sáu phương diện ấy đã rõ thì có thể nhập huyệt mà đoán định. Còn việc có dùng quẻ hay không thì chủ yếu phải xem có cần định hướng huyệt hay không. Nay nhiều thầy phong thủy dùng quẻ để đoán định, sau mới biết là sai. Không dùng quẻ mà điểm huyệt thì đúng là tài của Quách Phác.
Về mười yếu quyết chọn đất: long mạch phải có giáp tùng đi kèm, có giáp tùng thì thân long trầm nặng. Huyệt vị phải có bao bọc, có bao bọc thì mới không có chỗ khuyết phá. Sa phong phải có tình ý, có tình ý mới tôn quý. Dòng nước phải uốn lượn, có uốn lượn mới phát phúc lớn. Long mạch phải có chính tinh, huyệt vị phải có chính danh, sa phong phải có chính hình, dòng nước phải có cái chính của nó. Xem long thì xem tổ tông trước rồi mới đến con cháu. Xem huyệt thì xem tình ý trước rồi mới đến phương hướng đi đến.
Hai mươi hai điều tốt
Long tốt thì có hình loan bay phượng múa. Huyệt tốt thì có sự tôn trọng nhau giữa trời đất trăng sao. Sa tốt thì như đồn quân ủng hộ. Nước tốt thì như rắn sống ra khỏi hang.
Long tốt thì không đổi chính tính. Huyệt tốt mà sa hung ác thì giấu mình trong tấm chắn. Sa tốt thì có chầu có ứng. Nước tốt thì như rắn bò qua đường mòn.
Long tốt thì có hộ tống trùng trùng. Huyệt tốt thì tám hướng đều kín gió. Sa tốt thì có ngàn ngọn cùng nhô. Nước tốt thì dáng như cánh cung chùng dây.
Long tốt thì cờ xí rợp trời. Huyệt tốt thì minh đường ngay ngắn. Nước tốt thì như có nắng rọi xuống dòng sông tươi đẹp.
Long tốt như vị hòa thượng, đạo sĩ ngồi thiền. Sa tốt như người giơ nắm tay. Nước tốt như dây cung trên cung nỏ.
Long tốt thì có trên có dưới. Huyệt tốt thì có bao có bọc. Sa tốt thì có gò có đống. Nước tốt thì có khép có khóa.
Hai mươi sáu điều e sợ và những điều kiêng
Long e nhập huyệt mà không có chủ. Huyệt e không có sa ngoảnh nhìn. Sa e núi đơn độc, cây lẻ loi. Long e qua hiệp mà không có chỗ đỡ. Huyệt e mộ đầy nước. Sa e nhọn cứng như mũi thương. Nước e xung phá minh đường.
Huyệt e có hình đèn treo trên vách. Sa e giống chiếc dù rách. Nước e có tiếng ai oán trước mộ phần. Long e mang quỷ sa. Huyệt e méo miệng. Sa e đá nhe răng. Nước e giống như rắn chết.
Long e cô phong độc lĩnh, đỉnh đơn độc một mình. Huyệt e nhọn như đao thương. Sa e thế như cổ vịt vươn đầu. Nước e hung thần xông vào. Long e thô ác. Huyệt e nhọn hẹp. Sa e tả hữu núi quay lưng ngược lại. Nước e xối thẳng trước mộ. Long e bị đào đứt ở dưới sâu. Huyệt e quỷ thần uế tạp. Sa e có đền miếu. Nước e hỏa thành giao kiếm.
Sau lưng đền miếu thì không nên đặt mộ, nếu không, lâu ngày con cháu sẽ ít dần. Long sợ ngắn, huyệt sợ nông, sa chầu sợ hẹp, nước chảy sợ vòng vèo. Long như rắn chết thì kết giả, sa như trái dưa thì phình lồi, nước như đĩa đèn đầu thì chảy tràn. Long ngắn thì có giàu cũng không bền. Huyệt rơi vào hư không thì không cắm được. Sa hướng đến mà nông thì ruộng vườn bán hết. Nước cuộn lại thì thiếu niên tổn thất.
Long tuy tốt mà không kết huyệt gọi là kiếp. Huyệt tuy tốt mà không có long đến gọi là huyệt giả. Sa tuy triển khai mà theo nước chạy đi gọi là vô tình. Nước tuy uốn lượn mà không có sa thành gọi là thiên nga gãy cánh.
Bắt mạch chọn huyệt và ba dạng mạch
Mạch trong núi cũng như mạch trong thân người; muốn chọn huyệt phải biết nó đến theo cách nào.
Việc bắt mạch chọn huyệt vô cùng tinh vi, các bậc hiền triết đi trước đều dặn phải thận trọng kỹ lưỡng. Cách của cổ nhân có đứt có nối, có lớn có nhỏ, có dài có ngắn, cách nào cũng hàm chứa đạo lý. Núi có mạch như mạch máu của cơ thể. Muốn nghiên cứu thịnh suy, cát hung và biến hóa hình dạng thì có thể tham khảo kỹ kinh thư.
Dùng hành độ của tinh phong mà định huyệt mạch của long thì phải nhờ vào thế giáng của long mà bắt mạch, xem chỗ dùng mà chọn huyệt, đó là yếu quyết. Lại có phép nhìn hình dạng mà lấy huyệt, vì khi khí thế của long đã thành thì nhận ra được mạch. Mạch long đã rõ ràng mà huyệt lại lộ ra bên ngoài, không thể tránh. Tình huống ấy có ba loại.
Một là mạch khởi phục, xuất hiện trên núi cao, từ lớn xuống nhỏ, như long từ trên núi cao từ từ mệt mỏi đi xuống. Hai là mạch tiên đới, như cái đai bay xuống, long cũng từ trên cao nhưng lao xuống gấp. Ba là mạch bình thụ, xuất hiện trên đất bằng: chỗ rộng rãi bằng phẳng chỉ hơi nhô lên, có thể có ứng hoặc không, mà có ứng cũng không phải là ứng rơi xuống, chỉ như tấm chăn trải rộng. Từ ba loại mạch ấy hợp với mười hai thế giáng của long mà thành ba mươi sáu kiểu huyệt, biến hóa ra ba trăm sáu mươi tám loại.
Ba mươi sáu huyệt cưỡi rồng
Ba mươi sáu huyệt kỵ long, chỉ có thần tiên mới phân biệt nổi. Nước tách thành hình chữ Bát mà chảy về phía trước, không có Thanh Long, không có Bạch Hổ, không có minh đường, nước chảy dài mấy dặm. Núi Huyền Vũ tuy đoan chính nhưng chân khí không thông, thầy bất tài làm sao đoán nổi. Khí của chân long cuồn cuộn dâng trào, đã kết huyệt rồi mà còn muốn tràn đi. Bản thân huyệt tự tạo ra núi án, hình thế bốn phương tám hướng đều hội về đây. Khỏi cần hỏi đất ngoài có hay không, chỉ cần xem tình hình che chắn. Nếu hai bên tả hữu đã có long, nước bảo hộ thì chính long ở giữa. Huyệt có lúc giống mu rùa, lưng trâu, có lúc giống cổ hạc, bụng nhện, có lúc như ngựa ngẩng đầu hay rắn bò qua đường.
Núi án bất kể nhọn hay tròn, ngang hay dọc đều phải ngay ngắn, không thiên lệch. Chỉ cần tìm đúng chỗ có chính khí. Chính khí có khi ở lưng chừng núi cao, có khi ở đất bằng, có khi ở bên dòng suối. Nếu tìm được huyệt kỵ long thì đời đời vinh hoa, lắm tuấn kiệt chí sĩ.
Nói về kỵ long trên đầu chân long thì thiên biến vạn hóa kể không hết. Há bảo chỉ có ba mươi sáu kỵ long là hết, chỉ những bậc cao nhân mới hiểu cái ảo diệu bên trong. Núi có huyệt thì phải cao hoặc bằng phẳng, núi án trước huyệt phải nhọn hoặc tròn. Núi chủ dù chạy đi cũng không quá xa, nước tách chữ Bát cũng không chảy quá xa. Núi nước chạy đi cuối cùng lại trở về, núi nước hộ vệ hai bên tả hữu cũng không rời xa nhau. Nước nếu chảy đi thì cũng chỉ xa năm ba dặm, uốn lượn kỳ diệu.
Ngoài ra còn mười hai huyệt trực long, phối với ba mươi sáu kỵ long thành bốn mươi tám. Bốn mươi tám huyệt này cắm đúng thì con cháu phát đạt phú quý. Lại có mười hai đảo kỵ long, gần giống phép sa. Thiên biến vạn hóa quy về một mối, bậc cao nhân đều thông hiểu.
Có thuận kỵ, có đảo kỵ, có hoành kỵ; huyệt đều cần quần sơn tụ tập, giấu gió giữ khí mới đẹp. Nếu loại bỏ khí giả làm núi án thì thấy rõ vật trong huyệt. Đảo kỵ hướng về tổ tông, mặt trước kéo dài, mặt sau là quỷ. Hoành kỵ thì mặt trước còn rớt lại khí giả, quay đầu làm Long Hổ, mặt sau phải có lạc sơn mới được.
Luận huyệt: núi biến hóa khi sắp tạo huyệt
Núi khi sắp tạo huyệt nhất định có biến hóa: hoặc cao hoặc thấp, tiến sang đông một chút rồi quành sang tây, sau đó chuyển lên bắc rồi quẹo về nam. Có lúc nhanh lúc chậm, lúc ngả lúc nghiêng, lúc mạnh lúc yếu. Có lúc rời bỏ tổ tông mà xuống ruộng, có lúc lơ lửng quay lưng về phía nước, khiến người khó đoán.
Có khi huyệt bình dị không chút kỳ quái mà lại có phúc lớn. Xem chỗ xuất mạch thấy như rau như rêu, nhìn chỗ kết huyệt thấy tựa tâm hoa. Cánh hoa hộ vệ tâm hoa thì sinh khí không bị tổn thương. Phương pháp tìm huyệt nhất thiết phải đến gần mà quan sát địa hình, xem đỉnh đầu non già, hình dáng cổ họng yết hầu ra sao, sau đó xem não nó hóa sinh thế nào, đường mạch chạy ra sao. Trong chỗ trũng thì lấy chỗ nhô, chỗ nhô thì lấy chỗ lõm, trong cái đói lấy cái no, trong cái no lấy cái đói. Đó là dương đến thì âm nhận, âm đến thì dương nhận, một phương pháp không bao giờ đổi.
Người ta thường cắm huyệt ở chỗ cuối cùng của long, không biết rằng trước đó long đã chuyển hướng, chạy ngang ra chỗ khác tạo huyệt; hoặc đã quay mình tạo huyệt hướng về tổ; hoặc long đi thẳng mà tạo huyệt lệch; hoặc long chìm xuống mà tạo huyệt ở trên cao. Nếu biết tình hình xuất mạch kiểu chữ Cá thì huyệt ngang, huyệt lệch, huyệt hướng tổ, huyệt trên cao đều có thể biết rõ.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
