Bài tổng quan
Chữ Cá trên thân núi và mười hai dáng của long mạch
Nhìn một sườn núi, người thầy địa lý thấy một nét sổ ở giữa và hai nét phẩy, nét mác hai bên, y như cái đầu và đôi vai của một con người. Có dáng rồng khiến con cháu trường thọ, có dáng rồng khiến con cháu tuyệt tự. Làm sao nhận ra chữ ấy ngay trên thân núi?
Mục lục · 8 phần
- 01Vì sao núi được gọi là rồng
- 02Chữ "Cá" trên thân người và trên thân núi
- 03Yết hầu và trái tim của rồng
- 04Rồng đất bằng và rồng núi cao
- 05Ngẩng nhìn tinh tú, cúi tìm long mạch tám phương
- 06Thiếu long, trung long và tận long
- 07Mười hai dáng long mạch và phúc họa theo từng dáng
- 08Chọn núi phải dựa vào gốc rễ
Vì sao núi được gọi là rồng
Núi mà không gọi là núi, lại gọi là rồng, vì rồng có thể lặn xuống vực sâu, bay lên trời cao, thoắt ẩn thoắt hiện, khiến người ta khó đoán nổi sự biến hóa. Rồng là dương tinh thuần túy nên mới có bản lĩnh ấy. Núi cũng vậy: khi chìm mình xuống đáy sông đáy biển, khi vươn lên chín tầng mây, núi cũng sinh ra mây ngũ sắc, tạo thành mưa gió hệt như rồng. Dùng chữ rồng để gọi núi quả là khéo léo và tự nhiên.
Nhưng muốn đi sâu vào cốt tiết, chỗ khai hợp và mạch sống của núi thì không gì xác đáng bằng lấy thân người làm ví dụ. Người xưa dùng chữ "Cá" để so sánh. Chữ "Cá" nằm ở đầu và cuối của rồng, không thể tách rời.
Chữ "Cá" trên thân người và trên thân núi
Hãy bắt đầu từ cái đầu. Hai bên đầu có hai tai như nét phẩy và nét mác của chữ "Cá". Đỉnh đầu gồ lên, xương đầu từ trán chạy xuống mũi giống nét sổ. Trán chia làm hai phần chạy thẳng xuống gò má, lại thành nét phẩy và nét mác. Từ trán xuống sơn căn rồi đến chóp mũi là nét sổ. Ba yếu tố ấy hợp lại thành chữ "Cá" của phần thượng đình trên người.
Từ xương gáy đầu người chia ra hai vai, hai tay, là nét phẩy và nét mác. Phần giữa thân giống nét sổ. Nội khí từ đầu xuống tim, tim ở trung gian lại thành nét sổ. Gan bên trái, phổi bên phải là nét phẩy và nét mác. Đó là chữ "Cá" của nội tạng, thuộc phần trung đình. Tiếp đó tì và thận lại chia ra hai hông, hai đùi, hai chân: đó là phần hạ đình của thân người.
Một chi núi cũng giống một thân người. Nơi đỉnh núi vừa rời tổ sơn để phân long mạch chính là cái đầu. Ở chỗ này nhất định hình thành một chữ "Cá". Từ đó trở đi, gặp chỗ đoan chính, đẹp đẽ kết thành đỉnh thì phần nhiều có chữ "Cá". Đến chỗ sắp kết huyệt sẽ có hai, ba chữ "Cá" chồng lên nhau, luồn vào nhau; hoặc phía dưới còn thêm một chữ nữa, trông như không chồng không luồn nhưng thực chất vẫn chồng vẫn luồn, rất giống chữ "Cá" của thân người. Nét phẩy và nét mác của chữ "Cá" giao hội, ôm lấy hai, ba huyệt phía trước là cách tuyệt đẹp.
Nước cũng đi theo như vậy. Dòng nước xuất phát từ tổ sơn, chia long mạch, kẹp hai bên núi mà chạy. Ở hai bên chữ "Cá" lại có những dòng nhỏ từ tả hữu chảy vào phân long, còn dòng lớn xuất phát từ tổ sơn cuối cùng tụ lại trước minh đường. Nước đến tận cùng thì núi cũng đến tận cùng. Rồng dài thì nước hợp vào sông lớn biển lớn, rồng ngắn thì nước hợp vào suối khe, mương nhỏ.
Đọc độ dài của rồng bằng nước
Chẳng cần nói rồng dài mấy ngàn, mấy trăm dặm. Ngay rồng ngắn mười dặm, năm dặm cũng có nước làm bạn, phân hợp trong mười dặm, năm dặm. Chỉ cần nhìn chỗ khởi đầu và chỗ hội hợp của nước là biết rồng dài hay ngắn. Cũng khỏi phải đi tìm đầu nguồn nước. Chỉ cần từ chỗ rồng kết thúc đi ngược lại hai, ba, năm đốt, thấy nơi nào đầu rồng đoan trang đẹp đẽ, có mạch đâm thẳng xuống thì đó là nét sổ của chữ "Cá". Hai bên đỉnh có hai vai vươn ra là nét phẩy và nét mác.
Thân người thẳng nên chữ "Cá" chồng lên nhau, luồn xuyên vào nhau, dễ nhận ra. Núi đi thì hay chuyển biến, đứt đoạn nên chữ "Cá" ít chồng ít luồn, khó nhận. Nhưng chỗ khởi đỉnh, chỗ đứt đoạn, chỗ chuyển biến, chỗ phân nhánh, nhìn kỹ sẽ thấy chữ "Cá". Hướng đi của nét sổ chính là chính mạch, còn hướng đi của nét phẩy nét mác không phải chính mạch.
Cành cây ngô đồng là ví dụ: hai bên cùng tách ra mà một mạch chạy thẳng ở giữa, đó là một chữ "Cá", cũng là cách vận hành bình thường của long mạch. Còn cành thược dược thì một nhánh phát ra từ bên trái của đốt trên, một nhánh phát ra từ bên phải của đốt dưới, nên không thành chữ "Cá".
Yết hầu và trái tim của rồng
Khi rồng nằm sấp để kết huyệt, nhất định nó thắt lại thành yết hầu, nhỏ như lưng ong, rồi mới nhô lên. Cũng như cổ họng người, khí hô hấp đi qua đó. Điều quan trọng nhất là tìm chữ "Cá" để nhận ra đầu, tìm yết hầu là chỗ hút nhận chân khí. Tìm được đầu sẽ biết đường vào của khí, tìm được yết hầu sẽ biết khí ẩn nấp ở đâu. Đã thấy đầu và yết hầu thì tìm tim ở gần đó, vì tim là huyệt vị, là chữ "Cá" trong nội tạng.
Muốn tìm huyệt mấu chốt là phải biết long mạch. Long có khi kết huyệt ở eo, có khi kết ở nơi tận cùng. Kết ở tận cùng thì phải dùng núi ở mặt ngoài, nên không bằng kết ở eo lưng, vì thế rồng ấy dùng ngay nửa thân của chi núi.
Một chi núi cũng giống một cây ăn quả. Dòng nước chảy qua ba trăm dặm là nước phân hợp của chính quả. Dòng nước chảy hơn trăm dặm là phân hợp của cành lớn. Trên cành lớn lại có phân hợp của cành nhỏ, rồi đến phân hợp của đóa hoa. Vì thế nhận ra long mạch là nhờ nhận ra dòng nước.
Rồng đất bằng và rồng núi cao
Long mạch ở đất bằng với long mạch ở núi cao không khác nhau nhiều về cốt tiết, khai hợp, mạch sống, chỗ luồn xuyên, hai bên phân hợp; nước chảy cũng theo rồng, chỉ khác nhau ở tính nết. Ngũ tinh của núi cao thì đứng thẳng, ngũ tinh của đất bằng thì nằm ngang. Còn phân chi, kết eo, khai trướng, xuất mạch, thuận nghịch, nghênh tống thì không có gì khác.
Muốn tìm cách cắm huyệt, chỉ cần xem kỹ phần đỉnh hơi nhô lên, thẩm định phần mặt hơi gồ, xem hai bên có vết nước thấp đôi chút, phía ngoài dòng nước có chỗ kẹp hơi nhô cao. Như thế là dựa vào chân khí mà tìm đến huyệt.
Hãy tìm kỹ trên mặt đất nơi hai nhánh nước sắp gặp nhau. Thấy một nhánh quanh co vòng vào trong, thấy chỗ nổi cao dù chỉ một thước mà đoán định đó là núi cao, chỉ nhờ ngũ tinh mà kiểm chứng hình nằm ngang: đó là dựa vào nước để tìm ra huyệt. Đất phương bắc trải qua nhiều lần khai khẩn, phần lớn mất hình dạng núi cao, cần xét kỹ miệng, mũi mà đoán định. Đất phương nam trải qua nhiều đợt làm thủy lợi, phần lớn bị đứt địa mạch, nên cần tìm kỹ lại đầu nguồn nước.
Rồng quay đầu nhìn tổ
Chỗ rồng quay lại nhìn tổ vì đi theo chiều nghịch nên cũng chia ra nhiều loại. Quay nhìn tổ mà kết huyệt ở eo lưng thì không bằng kết ở nơi tận cùng. Có rồng quay nhìn thủy tổ sơn, có rồng quay nhìn thái tổ sơn, có rồng quay nhìn thiếu tổ sơn, có rồng quay nhìn phụ mẫu sơn. Quay nhìn nơi gần không bằng quay nhìn nơi xa, vì lực càng mạnh, quy mô càng rộng.
Rồng rời tổ sơn theo hướng nghịch đã rất xa, rồi quay đầu lại vài dặm hoặc vài chục dặm để triều hướng tổ sơn thì đó là cách hồi long thượng đẳng. Nghịch hướng gần, núi nước thuận chiều mà đi, đến chỗ kết huyệt mới quay mình nhìn lại thì cũng đã thành công. Điều chủ yếu nhất là núi sa hộ vệ đan chéo sau lưng, nước triều phía trước nơi kết huyệt uốn lượn ôm lấy đỉnh núi sau huyệt, gọi là "thủy triền Huyền Vũ", như thế là hợp nhất.
Ngẩng nhìn tinh tú, cúi tìm long mạch tám phương
Ngẩng đầu thì xem tinh tú bốn bề, cúi xuống thì xem long mạch tám phương. Bốn bề là sao Tử Vi ở phương Bắc, sao Thiên Thị ở phương Đông, sao Thiếu Vi ở phương Nam, sao Thái Vi ở phương Tây. Long mạch tám phương là lấy bốn xứ Càn, Khôn, Khảm, Ly ở bốn chính của phương vị Tiên Thiên làm dương long, lấy bốn xứ Chấn, Tốn, Cấn, Đoài ở bốn góc của phương vị Tiên Thiên làm âm long. Đối với long, coi âm là quý, coi dương là tiện, bởi vì dương ở trên trời.
Lại có cách nói khác: dùng mắt mình quan sát cho kỹ, dùng tính tình của mình mà nhận cho chắc thì sẽ biết. Đến một làng, một bản nào đó, chợt thấy một ngọn núi nhỏ đơn độc nhô lên, bốn bề đẹp đẽ, lập tức biết đó là chân long. Chỗ nó vận hành nhất định thành đại địa. Đó cũng là ý câu của Dương công: trên núi xuất hiện cảnh tượng kỳ dị không phải tự nhiên mà có, hãy tìm kỹ chân long và địa thế đón nhau ở hai bên tả hữu.
Khi tìm chân long, trước hết phải xác định đầu và mình, sau đó mới đến can, chi, có thai có con, núi triền, núi giáp, núi hộ vệ chạy thẳng tới đầu. Sau đó dùng La Kinh mà định lượng: xem ngôi sao nào trên trời chiếu xuống mảnh đất này, cục viên ở đây hình thành ra sao, hình thế có toàn vẹn không. Nghĩa là xem cục thế lớn nhỏ, tốt xấu, chứ không nên tùy tiện chỉ vào chân núi để tìm rồng, không nên chỉ bừa một chỗ nào đó làm huyệt. Như thế là chưa thấy gốc đã đi tìm ngọn.
Tinh tú trên trời và hình thế dưới đất, trên dưới tương ứng với nhau, thì bảo địa phong thủy tự nhiên hình thành.
Dương đức hình thành từ hình tượng của ta, âm đức hình thành từ vị trí của ta.
Hai câu này cũng ngụ ý tinh tú trên trời và hình thế dưới đất tương phối với nhau. Người nghiên cứu phong thủy nhất thiết phải tính toán từ điểm này thì cách tìm long mạch mới sáng tỏ.
Thiếu long, trung long và tận long
Có thuyết nói về đất thiếu long, là nơi đỉnh núi vừa mới hình thành. Lại nói về đất trung long, là nơi ngựa trạm dừng chân. Lại có đất tận long, là chỗ nước núi hợp lưu, giao kiếm, núi và nước đều đến chỗ tận cùng. Đất thiếu long và trung long đều có thể cắm huyệt mà không cần câu nệ gì. Nơi tận cùng của long chính là huyệt. Những nơi ẩn kín mà đại phú đại quý, bình an không bệnh, phần nhiều là cắm huyệt ở đất thiếu long và trung long.
Mười hai dáng long mạch và phúc họa theo từng dáng
Một bộ sách địa lý cổ chia rồng thành mười hai loại: Sinh Long, Phúc Long, Ứng Long, Ấp Long, Uổng Long, Sát Long, Quỷ Long, Kiếp Long, Du Long, Bệnh Long, Tuyệt Long và Tử Long. Các tên gọi này căn cứ vào chân khí tụ hợp hay phân tán. Sinh Long, Phúc Long, Ứng Long, Ấp Long là bốn loại chân khí tụ hợp. Tám loại còn lại là chân khí phân tán. Khí thế đi xuống của rồng tụ khí thì trải dài, lên xuống nhiều lần. Khí thế đi xuống của rồng tán khí thì ngắn gấp, ít lần lên xuống, có loại lên rồi khó xuống, xuống rồi khó lên, nhưng loại này ít gặp.
Long mạch xuất phát từ tổ tông, vút đi như rắn lướt trên mặt nước, như chim gõ kiến bay lên trời, khi giáng xuống mọc thêm chân tay, đến chỗ nhập thủ thì đoan chính ngay ngắn, ngang dọc trùng trùng, đó là Sinh Long. Long mạch chân tay ngắn, trên thân có hoành án, hai bên như có cánh, là Phúc Long. Long mạch không có hoành án nhưng hai bên ôm vòng trở lại là Ứng Long. Long mạch ôm vòng nhiều lần, trùng điệp, dáng như đang thi lễ với nhau là Ấp Long. Bốn loại này tạo nên địa hình cát lợi.
Long mạch có thế thúc gấp, hiểm ác, không chỉnh tề, không có ý tiếp nhận là Uổng Long. Hai bên nhọn hoắt, sắc cạnh là Sát Long. Phân chi, chia cắt mạch là Quỷ Long. Chia ra nhiều cánh tay là Kiếp Long. Lưu ly tán loạn là Du Long. Hoàn toàn không lên xuống, không chuyển động là Bệnh Long. Vỡ nát là Tử Long. Cô đơn vô lực là Tuyệt Long. Tám loại này tạo thành địa hình hiểm ác, hung địa.
Ở chỗ Sinh Long, con cháu trường thọ. Ở chỗ Phúc Long, con cháu phú quý. Ở chỗ Ứng Long, con cháu trung hiếu. Ở chỗ Ấp Long, con cháu lễ độ, nhường nhịn. Ở chỗ Uổng Long, con cháu tà ác. Ở chỗ Sát Long, con cháu bị trùng độc, thú dữ làm hại. Ở chỗ Quỷ Long, con cháu bệnh tật, ôn dịch. Ở chỗ Kiếp Long, con cháu gặp tai họa chết chóc. Ở chỗ Du Long, con cháu dâm loạn, tản mác bốn phương. Ở chỗ Bệnh Long, con cháu quanh năm bệnh tật và sinh nở khó khăn. Ở chỗ Tử Long, con cháu thương vong không dứt. Ở chỗ Tuyệt Long, con cháu tuyệt tự.
Mười hai loại long mạch chủ về cát hung như thế, có ảnh hưởng, báo ứng và linh nghiệm, nên khi mai táng người chết không thể không chọn kỹ nơi cắm huyệt.
Chọn núi phải dựa vào gốc rễ
Phương pháp chọn là lấy núi phải dựa trên gốc rễ bên sau. Gốc rễ ở đây là ý nói các danh sơn làm tổ tông sơn và phụ mẫu sơn.
Từ xa thấy một ngọn núi lớn cao vút tầng mây, dưới chân núi hình thành dáng rồng nhấp nhô phát mạch chạy ra xa. Có khi thành dáng hổ phục, lớn trội nhỏ khởi. Có khi thành dáng phượng hoàng vỗ cánh. Có khi tản mát trên đất bằng như tấm thảm. Có khi thành dạng chuỗi ngọc. Có khi thành dạng lầu gác nguy nga. Hàng ngàn lẽ đều quy về một điểm nào đó, nên mới có thể bàn chuyện phong thủy địa lý.
Một dãy núi dài có chính long làm chúa tể. Suy từ rồng này có thể hiểu kết quả, thành tựu, sẽ có chính thụ. Có khi một dặm kết huyệt, có khi mười dặm, có khi trăm dặm. Khí thế lớn thì thành kinh đô, khí thế nhỏ thì thành phủ, trấn.
Hình thế của rồng lên xuống nhấp nhô, vòng đi lượn lại, có tướng sinh mà đến chỗ tụ, nước chảy quanh Huyền Vũ thì gọi là sinh vượng. Vượng là một đốt tốt nhất. Nếu có một chỗ đốt đứt đoạn, không theo tứ tượng mà phân tán thì gọi là đốt tử tuyệt. Khỏi phải đi quan sát rộng, chỉ cần tìm chỗ chân khí đứt đoạn, cái gọi là chính long, chính thụ, hoặc đất lớn hoặc đất nhỏ, tùy sức rồng nặng hay nhẹ mà tìm chỗ khí tuyệt của nó. Gặp tình thế núi nước làm hại nhau, âm dương lẫn lộn thì quay ngược về gốc mà tìm chỗ vượng khí sắp tuyệt mà chưa tuyệt, quay nhìn tổ tông triều nghênh đi theo hộ vệ, không nhờ núi nước nào khác bảo vệ xung quanh và che giấu thần sát. Ở nơi rồng quay lại nhìn tổ sơn, chủ nhà sẽ được trước giàu sau sang.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
