Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Núi án, tả phụ hữu bật và thành núi bao quanh huyệt

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202612 phút đọc1 lượt đọc
Núi án, tả phụ hữu bật và thành núi bao quanh huyệt

Trong sơn cốc không thấy mặt trời vẫn có đại quý nhân xuất hiện, và người xưa bảo vái rõ không bằng ngầm chầu. Nhưng núi đẹp bao quanh mà long mạch không thật thì cũng vô dụng. Vậy khi nào núi đẹp quanh huyệt là phúc, khi nào chỉ là lớp vỏ?


Ngọn núi nhỏ và thấp ngay trước huyệt, người xưa gọi là án sơn; nó thấp và nhỏ bao nhiêu thì càng ngoan bấy nhiêu. Ở vùng đồng bằng không có lấy một ngọn núi, người ta lại lấy cả bờ ruộng cao một tấc làm án. Xung quanh huyệt còn có hai quả núi tả phụ hữu bật, có cả một vòng núi gọi là La Thành, và có một chỗ dựa phía sau gọi là lạc sơn.

Án sơn: núi nhỏ, thấp, ngay trước huyệt

Phàm phía trước huyệt có núi nhỏ, thấp thì gọi là án sơn. Án sơn nên thấp và nhỏ, không nên cao to. Hình dáng giống ngọc cơ, hoành cầm, ngọc đới, đốc kiếm, nga my, tam đài, quan viên, thiên mã, thư đài, kim tương, ngọc ấn, bút giá và những thứ tương tự là cát lợi. Núi nằm ngang dọc che ngoại dương, chầu vào sơn cước cũng không cần câu nệ hình dáng thấp bé; chỉ cần đoan trang, vuông vức, đầy đặn, linh xảo, tú mỹ, sáng sủa, ngay ngắn, lại rất có tình thì cát lợi.

Ngược lại, án sơn đâm thẳng như bắn vào huyệt, thân núi thô lậu, phù thũng, nham nhở, đá nhấp nhô, hình dạng xấu xí khó coi, nhớn nhác bất định, quay lưng về phía huyệt, không có tình ý thì là hung hiểm. Hơn nữa, dù núi từ ngoài đến hay núi do thân sơn sinh ra, đều nên ngược dòng nước, gọi là nghịch lưu án.

Dương công nói huyệt cát nên có nghịch lưu án; đã có án sơn thì nên có thân can long của chính nó. Trên thân can lại sinh ra chi mạch trải dài về phía trước, tạo thành các ngọn núi hộ vệ cho chủ can. Ông cũng nói rằng nếu án sơn bức bách quá gần thì sẽ hóa hung hiểm. Sách "Tiệp Kinh" nói can long tự sinh ra một tòa án sơn đứng ngay phía trước thì là có tình; án sơn nhọn, tròn hoặc vuông vức, lại nghịch dòng nước, chắn cước ngoài của chủ sơn thì vô cùng cát lợi. Phía ngoài án sơn còn có vài ngọn núi kỳ dị, càng lúc càng cao, càng lúc càng xa; đó là địa thế tốt nhất. Người xưa phân thành ba dạng: án sơn do thân núi sinh ra, án sơn từ ngoài tới, và án sơn ở ngoài mà trúng vào chỗ tú.

Đất bằng không núi, thung lũng không thấy mặt trời

Có người hỏi: địa huyệt cố nhiên lấy triều sơn, án sơn đối diện làm cát, nhưng ở vùng bình nguyên, nhìn xa mãi vẫn không có núi nào thì có dùng được chăng? Trả lời rằng địa huyệt trên bình nguyên thì lấy chính bình nguyên làm án; trên đất bằng, chỗ đất nổi cao một tấc cũng coi như án sơn. Có khi bờ cỏ, bờ ruộng, bờ hồ cũng có thể làm án sơn, hà tất phải câu nệ núi đồi. Liêu công nói điều thứ ba cần kỵ là không có án sơn; không có án sơn thì cuộc sống nhất định đói kém, gian nan.

Một thung lũng kín bóng núi tưởng như tối tăm, vậy mà đôi khi nơi ấy lại sinh ra bậc đại quý.

Lại có người hỏi: trong sơn cốc không nhìn thấy ánh mặt trời mà vẫn có đại quý nhân xuất hiện, vì sao? Trả lời rằng ở thế đất này trước hết phải quan sát long. Nếu long rất nhỏ, ngắn, sơn cước của long mạch phần nhiều tán lạc, lại bế tắc, hẻo lánh thì tuyệt đối không thể có đại quý nhân. Nhưng nếu là đại long kết huyệt thì trong sơn cốc có rất nhiều núi chồng chất quy tụ, vì thế không thấy ánh mặt trời. Ở ngoài sơn cốc, các ngọn núi tú mỹ ngầm chầu vào, long là chân long, địa huyệt cũng đẹp; đại quý nhân xuất hiện là lẽ đương nhiên, có gì lạ?

Vái rõ không bằng ngầm chầu

Sách "Địa Lý Thư" nói vái rõ không bằng ngầm chầu. Long từ trăm dặm tới thì có cục thế trăm dặm, từ ngàn dặm tới thì có cục thế tương xứng; mỗi cái tùy theo sức của long mà có cách ngầm chầu của mình. Ngày nay người ta luận về huyệt mà không chịu xét sức long lớn hay nhỏ, chỉ chú trọng hình thức tú mỹ mà bỏ quên đại cục; chưa gì đã cho rằng đó là cách ngầm chầu, đến khi thấy núi hung, nước ác lại bảo không có gì đáng ngại. Như thế là chỉ thấy cục bộ mà bỏ qua đại cục.

Dương công nói sa như mỹ nữ, dù sang hay hèn đều phải phục tùng trượng phu; dòng nước như binh sĩ, tiến lui đều phải theo lệnh tướng lĩnh. Họ Bốc nói nếu bản sơn thấp nhỏ thì văn bút sẽ biến thành họa bút; nếu tọa sơn đẹp đặc biệt thì sát đao cung cũng biến thành nhã đao. Lời của hai vị tiên sinh ấy ngụ ý nhấn mạnh rằng long huyệt mới là chủ yếu.

Núi chầu chồng chất và ngọn núi đứng một mình

Sách "Táng Kinh" nói cục thế của long giống như người mang trên mình trăm thứ châu báu mà vẫn lặng lẽ kín đáo, có vạn món cao lương mỹ vị mà lại ăn chay, có thể điều khiển cả thiên hạ mà chỉ ấp ủ trong lòng. Sách "Hắc Nang Kinh" nói sa ở phía trước phải chồng chất mấy ngọn mới tốt. Bài phú nói xung quanh như có ba ngàn mỹ nữ, tám trăm giai nhân, ở giữa một ngọn sơn phong tú lệ ngoi thẳng lên; chỉ cần một hoặc hai tòa sơn phong là đủ.

Khẩu quyết của Ngô công: có ba tòa sơn phong thì cần có núi châu đầu vào giữa; có hai tòa, núi châu đầu vào cũng như không. Nếu bên dưới không có chân long, núi châu đầu vào cũng vô ích.

Dương công nói dưới núi không có khí mạch của chân long thì đằng trước có ngàn vạn ngọn núi cũng vô dụng. Họ Từ nói người đời đều thích sơn phong cao nhọn mà không biết khoa phong thủy chỉ coi trọng chân long; nếu không phải chân long thì huyệt không đẹp, triều sơn xung quanh có đẹp như tranh cũng vô ích.

Dinh cơ nhà Ngô Bá Tông ở huyện Kim Dung, phía trước có bảy mươi hai ngọn sơn phong chầu vào, sinh ra bảy mươi hai quý nhân. Dinh cơ nhà họ Trương ở huyện Quý Khê, đối thẳng vào Tì Bá Sơn, sinh ra nhiều văn sĩ. Đó là ứng nghiệm của quý long. Lại có trường hợp mộ phần của Từ phò mã ở huyện Lạc Bình: theo lý luận thông thường thì triều sơn phía trước là hung hiểm vì có hai ngọn núi châu đầu vào nhau; nếu cứ theo lý luận ấy thì chẳng phải đã bỏ sót Từ phò mã hay sao.

Có thuyết nói sơn phong cô đơn, dù linh tú cũng không cát lợi. Vì sao? Trả lời rằng nói như vậy là bàn về thân của long, không hề bàn đến triều sơn. Long rất kỵ chỉ có một ngọn linh tú cô phong, vì e nó cô đơn, lạnh lẽo; đó cũng là câu "long sợ cô đơn". Nhưng lại có câu rằng triều sơn chỉ có một ngọn, độc tú, chĩa thẳng lên trời cao thì gọi là "văn bút tháp thiên", chính là tiêu chí tối tôn quý. Riêng "Tuyết Tâm Phú" nói một ngọn núi chĩa lên như cây bút là kỵ, rồi sau đó lại nói sơn phong tú lệ chỉ cần một ngọn là đủ; hai câu rất mâu thuẫn, khiến người ta khó tin, lại còn truyền cho đời sau, chẳng rõ chữ nghĩa có bị chép sai hay không.

Đổng Đức Chương nói văn bút nghiêng nghiêng là không cát lợi. Họ Bốc nói nếu sơn phong cao to như cột trụ chống lên trời thì con cháu thọ mệnh cao như tằng tổ; núi ở ngoài dù cao vạn trượng cũng không bằng một tòa án sơn thấp bé ngay trước mặt. Dương công nói người gặp nạn nên ngẩng mặt cầu trời; nếu phía trước thập phần thoáng đãng thì cần có triều sơn từ xa hướng tới; nếu lại có dòng nước chảy tới, sa cũng bao bọc thì mới biết hoạn nạn của người ấy không phải là yêu ma hay hung hiểm.

Tả phụ hữu bật và hai cánh cửa của dòng nước

Tả Phụ, Hữu Bật gọi tắt là phụ bật, là bằng chứng cho sự tôn quý của long huyệt, gồm hai quả núi nằm hai bên tả hữu, kẹp hai bên mà chiếu ứng mật thiết với nhau. Hai bên càng cân xứng về độ cao thấp, lớn nhỏ, xa gần, không so le cọc cạch thì càng tốt, gọi là hợp cách. Phụ bật có khi như Thái Dương và Thái Âm, gọi là nhật nguyệt giáp chiếu; có khi sừng sững như hai cây bút cắm hai bên, gọi là văn võ thị vệ; có khi vuông vức trải rộng, gọi là liệt bình, liệt trướng; có khi sơn phong nhô cao, thanh tú, nhẹ nhàng; có khi che chắn khúc chiết, bao ôm mấy tầng liền như hàng trăm binh sĩ hộ tống. Tất cả đều là Tả Phụ, Hữu Bật, là sa thị vệ, chủ về địa huyệt cực quý.

Phụ bật ở hai bên long huyệt, dịch về phía sau thì gọi là Thiên Ất, Thái Ất; quá lên một chút thì gọi là Thiên Hộ, Thiên Giác; xa hơn nữa về phía trước, vẫn ở hai bên và châu đầu vào, thì gọi là Kim Ngô, Chấp Pháp; nằm hai bên minh đường thì gọi là Thiên Quan, Địa Trục; nằm hai bên thủy khẩu thì gọi là Hoa Biểu, Cản Môn. Có khi một bên có, một bên không; một bên nhiều, một bên ít; một bên cao, một bên thấp; một bên lớn, một bên nhỏ; các loại này đều không hợp cách. Phụ bật so le, không cân xứng thì địa huyệt cũng sai lệch theo.

Môn hộ của trời đất còn gọi là Tam Môn Ngũ Hộ. Chỗ dòng nước chảy tới gọi là Thiên Môn, chỗ dòng nước chảy đi gọi là Địa Hộ. Thiên Môn cần rộng rãi, Địa Hộ phải thu hẹp. Nếu Thiên Môn lại thu hẹp, Địa Hộ lại rộng rãi thì núi và nước không giao hội với nhau, nơi đó không có chân long, tuyệt đối không thể kết huyệt.

Họ Bốc nói viên cục tuy tôn quý nhưng Thiên Môn nhỏ hẹp thì chẳng nên phí công quan sát; hình huyệt tuy kỳ lạ nhưng Địa Hộ không thu hẹp thì chọn chỗ ấy làm gì? Sở dĩ tôn quý là vì Địa Hộ thu hẹp, ẩn tàng; còn Thiên Môn thì tối kỵ nhỏ hẹp, bế tắc. Triệu Duyên Đốc nói nước từ bên tả chảy đến thì bên tả là Thiên Môn, bên hữu là Địa Hộ; nước từ bên hữu chảy đến thì bên hữu là Thiên Môn, bên tả là Địa Hộ. Đổng Đức Chương nói nếu hạ thủy sa thu hết dòng nước đầu nguồn thì con cháu đời sau đại phú đại quý, mua hết ruộng đất trong thiên hạ.

La Thành bao quanh và lạc sơn phía sau lưng

Một vòng núi khép kín như tường thành, và một ngọn dựa lưng: hai thứ ấy làm nên chỗ ngồi vững của huyệt.

La Thành viên cục là thế tiền triều hậu thác, tức phía trước chầu, phía sau đỡ, bao bọc quanh địa huyệt. Thế này cần trùng điệp, lên xuống nhấp nhô, tầng tầng lớp lớp vây quanh, bù kín các chỗ khuyết, như một bức tường thành bảo hộ, nên gọi là La Thành. Họ Bốc nói sơn mạch từng lớp vây quanh hộ vệ, như Tử Vi uy nghiêm ngồi trên tòa đế vương; sơn mạch trùng điệp vây quanh trông tựa các cánh hoa sen quanh nhị hoa. Chỗ khuyết lõm vòng trong đã có sơn mạch vòng ngoài che kín; Hoa Biểu và Cản Môn ở hai bên thủy khẩu La Thành giống như một tòa lâu đài cung điện.

Họ Lại nói sơn mạch xung quanh như Tứ Thần, Bát Tướng đứng bao bọc, còn chân long sừng sững ở giữa, cao vút lên mây; địa thế này vô cùng cát lợi về phú quý, công danh. Dương công nói ngoại sơn trong vòng trăm dặm tạo nên La Thành. Chu Tử nói La Thành viên cục là thế nhấp nhô bao bọc xung quanh không một chỗ khuyết, hiển nhiên tự nó là một thế giới càn khôn.

Lạc nghĩa là hoan hỉ, yêu thích. Địa huyệt của hoành long thích có loại sơn mạch này làm chỗ dựa phía sau. Lạc sơn cần đối xứng ngay đằng sau huyệt trường, và có ba loại: đặc lạc, tá lạc, hư lạc. Đặc lạc là sơn mạch từ xa đến, trải ra viền bao ngay sau địa huyệt. Tá lạc là sơn mạch đã đứng sẵn ở đó, viền ngay sau địa huyệt. Hư lạc là sơn mạch thấp bé, thế núi tán loạn như muốn chạy đi xa, địa huyệt hoàn toàn không có chỗ dựa.

Liêu công nói phàm hoành long kết huyệt nhất định phải có quỷ lạc mới xong; núi phải đứng ở đằng sau huyệt vị. Ngô công nói phải có lạc sơn viền gần sau lưng, cân xứng với huyệt trường. Một ngọn núi nhỏ đột ngột sà xuống thấp ở một bên, không vòng lại gần huyệt thì đó là giả huyệt, tức hư huyệt.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia