Bài tổng quan
Chủ và khách, ba thế rồng và mười ba cách long mạch
Ngọn núi ngồi ở chỗ huyệt là chủ, ngọn núi tiến tới chào là khách, và chỉ cần khách lấn át chủ thì cả thế đất đổi nghĩa. Từ cái nhìn ấy người xưa chia rồng thành ba thế và mười ba cách, mỗi cách một vận. Có con rồng trông rất khỏe mà vẫn bị xếp vào hàng chết, vì sao?
Một ngôi nhà có chủ và có khách, một triều đình có vua và có quan, và một con rồng đất cũng vậy. Núi ngồi ở chỗ huyệt là chủ, núi đến chào là khách; thân rồng khi tản ra nhiều nhánh thì khí yếu đi, khi gom lại thì khí mạnh lên. Đọc được những quan hệ ấy là biết rồng này đang đi, đang nghỉ hay đã đến đường cùng.
Phân phách: rồng chia nhánh quá nhiều thì khí tản
Tinh khí tụ kết nơi long diện là cát lợi nhất. Chi cước của nó tuy phân tán nhưng thân long đã có khác biệt giữa bàng và chính, quý và tiện. Vì vậy long mạch tốt phải tụ giữ chính khí của mình; nếu phân chi ra quá nhiều thì tinh khí tản mát, khiến long mạch suy nhược, tinh khí không thể tụ kết.
Bài "Táng Minh" nói nếu long phân tán ắt là "thiên kiếp", long đã đi qua thiên kiếp mà không trở lại là hung. Nhưng nếu long sau khi bị thiên kiếp áp chế mà vẫn quay đầu lại, sông nước uốn lượn hiền hòa, sơn thế cũng chuyển mình, thì thiên kiếp đã mất tác dụng, không gây tai họa. "Khôn Giám" nói phách mạch và phân chi tách ra từ chủ mạch thì thẳng như ruột ngựa, cong như cánh cung; nhỏ gọi là "quỷ", lớn gọi là "kiếp", chỉ tốt cho việc xây chùa miếu. Tạ Tử Kỳ nói long vì có kiếp mới phân tán; long vượt qua quỷ và kiếp thì khí lực đã suy nhược, chỉ có thể là nơi dựng chùa miếu. Dương công thì gọi gọn: long mạch phân phách gọi là thiên kiếp.
Chủ sơn và khách sơn
Hai ngọn núi đứng đối diện, tình nghĩa của chúng quyết định ai là người ngồi trên.
Tân chủ là các núi nghênh đón và núi thụ huyệt: núi thụ huyệt là chủ nhân, núi nghênh đón là tân khách. Điều quan yếu là hình thế của chủ và khách phải tương xứng, đôi bên ý hợp tâm đầu, tối kỵ khách lấn át chủ. Nếu hai bờ đều có nơi chân long kết huyệt thì thủy thành phải vây bọc một bên trước, sau đó mới chuyển mình kết thành một cục thế khác, thủy thành của nó cũng ôm lấy bên còn lại; như thế mới thành hai địa huyệt.
Phạm công nói long ở giữa trăm núi ngàn sông là người chủ trì, núi phía trước tiến tới chào đón, và một địa huyệt chân chính tọa lạc trên đầu long của chủ sơn. Nếu sơn mạch bỗng nhiên phân tán, không có cục thế nhất định, cũng không biết đâu là tổ sơn thì đừng phí công tìm huyệt. Một bài kinh khác nói triều sơn cùng long dài ngắn như nhau, chúng cùng xuất thân từ một tổ sơn; khách sơn từ xa tới triều bái, nếu triều bái trước long diện thì thành "án" trước mặt chủ sơn. Nhưng nếu có tinh phong tiến tới thì long mạch ấy chẳng có phúc khí gì; chúng giống nô lệ và sĩ tốt, suốt ngày quỳ dưới đất và gác ngoài cửa.
"Long Kinh" nói chủ sơn và khách sơn cùng đoan chính thì hai bờ đều ứng hợp xảo diệu. Hai tòa núi hộ vệ núi chủ an tọa thành hình chữ "phẩm", khách sơn cũng như vậy; từ khách sơn nhìn sang chủ sơn thấy rất đẹp, từ chủ sơn nhìn ra khách sơn cũng đoan chính. Vậy làm sao phân biệt tân và chủ? Chỉ cần dựa vào hình thế sông nước bao bọc: nơi thủy thành tương phản thì đó là khách sơn. "Táng Thư" cho biết nếu hình dạng và khí thế của tân chủ đều tạp loạn thì cũng có thể hạ táng ở đó.
"Minh Đường Kinh" nói nếu thủy uốn lượn chảy về hướng nam thì địa huyệt ở phía bắc ắt tốt, và ngược lại; nếu thủy lưu ôm ấp một phía thì địa huyệt nơi đó cũng tốt. "Tiệp Kinh" dạy đứng xem núi trước tiên phải xem thủy, biết nơi sở tại của thủy thì biết nơi sở tại của huyệt; hai tòa núi nam bắc đối nhau, chủ sơn và khách sơn đều có địa thế kết huyệt, cần cân nhắc kỹ cả hai bên. Dương công có một câu rất hình tượng: ngoài cửa sổ trắng sáng thì trong cửa sổ cũng không tối tăm; bên đông nước hoa nở thì trong lòng nước cũng rực hồng. Tử Vi nói chủ sơn phải hơn khách sơn, khách sơn nhất định phải tiến tới nghênh đón chủ sơn mới được. Núi tống long đều tương đối ngắn, lùi lại phía sau, thác sơn cũng không thể bao bọc như hai tay tả hữu; long hộ vệ nhất định phải hộ vệ tới trước mặt Thanh Long và Bạch Hổ. Những sơn mạch ấy nếu có ba lớp, năm lớp thì nhất định phú quý mãi mãi.
Nô tòng: đám tùy tùng của rồng chính
Nô tòng là các sơn mạch bao bọc, bảo vệ, hộ tống, nghênh tiếp chân long. Chân long kết tụ giống như mây màu vờn quanh rồng, cuồng phong theo hổ, các tinh tú trang điểm cho mặt trăng. Sơn mạch ở phía sau gọi là Tống, Thác, Lạc; ở phía trước gọi là Triều, Án, Ứng, Đối; uốn lượn bao bọc phía trước gọi là Triền; chạy tới chào đón gọi là Nghênh; sắp xếp hai bên tả hữu gọi là Hộ vệ.
"Tiết Thiên Cơ" mô tả: sơn mạch ở phía trước đi tới gọi là Triều, không sợ từ ngàn dặm tới; Tống là tùy long đi theo xa hàng trăm dặm, vừa thấy huyệt thì dừng lại; Nghênh là tùy long tiến tới trước mặt, vừa thấy huyệt thì quay đầu lại. Có sơn mạch tùy theo Triều, Nghênh tiến tới tụ tập, nhìn từ xa thấy chúng đều cúi đầu như chào. Hộ là bảo vệ long, đi theo hai bên tả hữu, bảo vệ phía trước địa huyệt, âm thầm lặng lẽ. Viễn nghênh và cận vệ đều không thể thiếu, nhưng phải sắp xếp có thứ tự. "Táng Kinh" dặn tinh khí vì long mà tụ kết ở một chỗ; nếu chỉ có một ngọn núi cô độc thì không thể mai táng ở đó. Kinh nói thêm: núi Triều, Nghênh và Hộ vệ cũng có huyệt địa, nhưng tuy huyệt đã hình thành vẫn phải phân tốt xấu, và sự nặng nhẹ của chúng không giống quý long.
Ba thế của rồng: Ngọc Long, Bình Cang, Bình Địa
Cùng là rồng, nhưng rồng trên núi, rồng trên sườn đồi và rồng trên đất bằng đi mỗi nơi một kiểu.
Tam thế là Ngọc Long thế, Bình Cang thế và Bình Địa thế. Long mạch Ngọc Long nhấp nhô trùng điệp, lên lên xuống xuống, lúc dừng lúc vượt, sơn thế hùng vĩ, cao thấp không ngừng. Bình Cang long thì uốn lượn chuyển ngoặt không ngớt, kéo dài từ đông sang tây, vô cùng uyển chuyển. Long mạch Bình Địa nằm trên khoảng đất bằng phẳng rộng lớn, kéo dài bất tận. Đa số sơn cốc kết theo cách khởi phục, Bình Cang theo cách "tiên đới", Bình Địa theo cách "bình thụ".
"Táng Kinh" nói ngũ hành vận hành trong đất, phát tiết mà sinh ra vạn vật; nó vốn từ trên giáng xuống như thác đổ, khí thế như vạn ngựa từ trời lan xuống, uốn lượn kéo dài theo hướng đông tây. Mặt đất kết tụ cát khí, thuận theo long mạch mà bốc lên; chi mạch cũng có tinh khí thuận theo thủy lưu mà dịch chuyển. Ngọc Long, Bình Cang, Bình Địa sắp xếp từ trên xuống theo thứ tự như vậy.
"Luận Kinh" nói cao sơn đại lĩnh có nhiều đỉnh nhọn, không như bình địa, nhưng nơi ấy không sinh được quý nhân vì đỉnh nhọn quá nhiều mà biến thành "trọc", tức đục. Có long mạch từ núi cao hạ xuống đồng bằng, có long mạch từ đại sơn giáng xuống tiểu sơn; khi không biết tận cùng long mạch hạ xuống bình địa ở đâu thì địa huyệt ẩn tàng trong đó, và vì vậy càng tôn quý. Họ Bốc nói nếu long mạch liền lại như sợi đai thì không cần núi cao hay sơn phong hùng vĩ. Khi thân long nhấp nhô, đứt rồi lại đứt, đến lúc tận cùng nhất định xuất hiện kỳ dị. Khẩu quyết của Ngô công nói khi thấy long duỗi tới nơi có tinh thần nổi lên, cao lớn như sơn phong, như bầy dê quần tụ, tựa rắn bò khỏi hang. Long mạch bình thụ thì nối liền nhau, khí thế như sóng dữ xô bờ.
Dư khí: rồng đã đến nơi mà vẫn còn sức đi tiếp
Địa huyệt của can long nằm ở nơi long mạch rất dài, khí rất vượng; khi đến chỗ kết huyệt hoàn tất, sơn thế rất khó dừng lại, ắt có long dư khí. Có long kéo dài vài dặm, có long kéo dài vài chục dặm, và những nơi này lại kết thành các địa huyệt nhỏ; theo khí thế và lực lượng mạnh yếu, ắt có chỗ vượt trội. Không thể xem nơi tận cùng long mạch là chính huyệt, rồi cho địa huyệt chính là phụ, bằng không sẽ không nhận ra sự khác biệt giữa đại thụ và bàng thụ; không phân biệt rõ lớn nhỏ thì sẽ coi đại địa là huyệt tiểu phú quý.
Kinh nói nếu tìm long mà tìm đến nơi tận cùng của long mạch, hai dòng nước hội họp giao lưu thì địa huyệt sẽ bị "phong xuy", mà "phong xuy, thủy kiếp" lại không phải chính huyệt, nên long mạch này không thuộc loại tốt. Dương công nói khí thế chân long rất thịnh vượng, khó có thể dừng bước, khi huyệt đã kết khí vẫn còn muốn tràn tới; có nơi địa huyệt nằm ở hông long, có thể xây thành đô. Tử Vi nói khi long sắp đi hết, khó đi tiếp, dư khí phân tán ra từ đây hoặc thành chi diệp, dư pha; nên biết trường hợp này không có bao nhiêu long khí.
Ba lần lạc cục: sơ, trung, mạt
Sau khi long lạc cục, tinh khí dư không chỉ kết tụ ở một nơi mà có ba cách lạc cục là sơ lạc, trung lạc và mạt lạc. Sơ lạc là long mạch xuất phát từ tổ sơn rồi kết huyệt gần tổ sơn. Liêu công nói long mạch sơ lạc ở gần chủ sơn nhưng cục thế rất hoàn chỉnh, kín đáo; Lý công nói khi long sơ lạc, tinh khí thịnh vượng. Trung lạc là long xuất phát từ tổ sơn, đến nửa chừng thì đứt đoạn, vượt lên thiếu tổ sơn mà kết huyệt. Liêu công nói dư chi của trung lạc có thể dựng quận, cát khí ẩn tàng, dừng nghỉ ở nơi này; Lý công nói sơn mạch có tinh khí thịnh vượng ở khoảng giữa. Mạt lạc là long xuất phát từ tổ sơn, kéo dài tít tắp, nhấp nhô lên xuống rồi cuối cùng đại tận. Liêu công nói mạt lạc còn gọi là Đại Tận Long, khí thế hào tráng, hùng vĩ nhất; Lý công nói long mạch quy kết ở nơi tận cùng. Sơ lạc, trung lạc, mạt lạc chính là thiếu long, trung long và tận long; hai cách gọi cùng một ý nghĩa.
Mười ba cách của long mạch
Theo họ Liêu, long có mười ba cách: Sinh, Tử, Cường, Nhược, Thuận, Nghịch, Tiến, Thoái, Phúc, Bệnh, Kiếp, Sát, Hung.
Sinh long có đỉnh ngọn hùng vĩ, chi cước linh hoạt, khí độ uy nghi. Tử long có đỉnh ngọn và chi cước không phân minh, thân long thẳng tuột. Cường long có đỉnh ngọn oai dũng khác thường, chi cước mở rộng, thân long cường kiện. Nhược long có đỉnh ngọn teo tóp, chi cước co rút, thân long nhu nhược. Thuận long có đỉnh ngọn thuận thế mà ra, chi cước tung dung, khí độ tàng ẩn. Nghịch long có đỉnh ngọn nghiêng lệch, chi cước ngược xuôi. Tiến long có đỉnh ngọn sắp xếp có trật tự, chi cước cân đối, khí độ tề chỉnh. Thoái long có tinh phong hỗn loạn, chi cước không chỉnh tề, đi lùi về sau. Phúc long có tổ tông vốn rất tôn quý mà lại có nhiều hộ vệ bên mình. Bệnh long bị lấn ép, giao long xâm hại, sơn thạch nhấp nhô, thân long bị tổn thương nghiêm trọng. Kiếp long có thân long phân phách quá nhiều. Sát long có tinh phong mang theo quá nhiều sát khí. Hung long thì thân long tuy rất tốt nhưng có nơi khiếm khuyết.
Bài "Nhập Thức Ca" của Liêu công nhắc lại: sinh long có cao có thấp, nhưng nếu có quá nhiều đốt mà không nhấp nhô uốn lượn thì đó là tử long. Cường long khí thế dũng mãnh, thân long tráng kiện. Nhược long nhỏ hẹp, sơn thạch lởm chởm. Thuận long nở nang thuận thế đi lên; nghịch long lại thoái bộ về sau. Tiến long thì đốt sau cao hơn đốt trước; thoái long thì dần dần tiêu trừ. Trong mười ba cách ấy chỉ có sinh, cường, thuận, tiến, phúc là cát lợi, các cách còn lại đều hết sức hung hiểm.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
