Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Núi chầu, nước tụ, chiên thần: cách xác nhận một huyệt thật

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202611 phút đọc0 lượt đọc
Núi chầu, nước tụ, chiên thần: cách xác nhận một huyệt thật

Người xem đất không tin vào một dấu hiệu duy nhất. Họ hỏi ngọn núi phía trước, khoảng đất ngay trước huyệt, dòng nước, ngọn đồi sau lưng, cả hai bên long hổ, như hỏi từng nhân chứng. Chỉ khi các nhân chứng cùng khai một lời thì huyệt mới được xác nhận, còn nơi nào mà tất cả đều quay mặt đi…


Một huyệt thật không tự nói mình là huyệt thật. Người xem đất phải hỏi những thứ quanh nó làm chứng: ngọn núi nào chầu trước mặt, khoảng đất nào mở ra như sân, dòng nước nào tới hội, ngọn đồi nào dựa sau lưng. Và cũng phải biết nhận ra thế đất xấu, thô lậu, mà người nóng vội dễ lầm là cát địa.

Núi chầu làm chứng

"Hám Long Kinh" nói chân long ẩn náu rất khó tìm ra, chỉ có dựa theo triều sơn mới thấy nơi thân long ẩn. Nếu triều sơn rất cao lớn thì có thể hạ huyệt kết ở nơi cao; nếu triều sơn thấp bé thì nên cân nhắc kết huyệt ở dưới thấp. Một bài chỉ nam dạy: lời nói cổ nhân giá ngàn vàng, nếu kết huyệt ở nơi cao thì phải ngang bằng như lông mày, nếu kết huyệt ở nơi thấp thì phải đồng lòng đối ứng. Viên Cơ nói tú tinh ứng chiếu ở bên tả thì địa huyệt đóng bên tả, tú tinh ứng chiếu ở bên hữu thì tìm huyệt bên hữu.

Họ Bốc nhắc rằng ngoại vi sơn mạch có cao chót vót ngàn lần cũng không bằng cái án mở ra trước mặt. Muốn tìm địa huyệt chân chính thì triều sơn xa không bằng triều sơn gần. Các nhà phong thủy ngày nay tham cầu long mạch lớn ở xa mà bỏ qua long mạch nhỏ ở gần.

Minh đường làm chứng

Sau khi nhìn ra xa, hãy cúi nhìn mảnh đất ngay trước mặt huyệt: nó nói nhiều hơn người ta tưởng.

Minh đường có ba loại: tiểu, trung và đại minh đường. Địa huyệt làm chứng cho minh đường, minh đường làm chứng cho triều án. "Trác Ngọc Kinh" nói dù nghiêng lệch hay ngay ngắn, chân long vẫn có tinh khí kết tụ, nên tìm minh đường để làm chứng. Minh đường không dựa vào thủy thành hình vòng cung thì sau khi hạ huyệt sẽ sinh anh hùng. "Minh Đường Kinh" lại nói dù minh đường nghiêng hay thẳng, thanh hay thô đều rất khó đoán là tốt hay xấu. Ngô công dặn nếu minh đường nghiêng lệch thì đừng vội khen huyệt tốt. Dương công dạy khi lập huyệt muốn có chân minh đường thì phải quan sát kỹ nơi chính khí tụ kết; khi xem địa huyệt thấy có nghi vấn cũng phải quan sát kỹ cục minh đường, vì nơi chân khí kết tụ phải có sơn mạch bao bọc.

Thế nước làm chứng

"Táng Kinh" nói huyệt địa có thủy mới được xem là cát; sa chứng minh minh đường, thủy chứng minh địa huyệt. Dương công dạy đừng xem sơn trước mà phải xem thủy lưu trước; nếu chỉ có thủy mà không có sơn thì chẳng nên phí công tìm huyệt. Phàm nơi có chân long và chính huyệt nhất định có thủy tới hội hợp; sơn mạch uốn theo thủy mà đi, thủy cuộc bao bọc sơn mạch.

Liêu công nói nơi chân long tán lạc thì thủy lưu đều đến tụ hợp, nơi thủy lưu giao hội thì có thể tìm huyệt. Huyệt chính thì thủy hội hợp, huyệt không chính thì thủy rời xa. Nếu nơi có huyệt ẩn tàng kỳ dị, khó cắm huyệt, thì hãy quan sát kỹ thủy lưu.

Núi sau lưng làm chứng: lạc sơn và quỷ sơn

Lạc sơn là ngọn núi dựa ở mặt sau địa huyệt. Phàm là các thế một cốt, oa não, trắc não, phản án, thiên tài, hoành long, khi kết huyệt nhất định phải dựa vào lạc sơn. Lạc sơn ở bên tả thì huyệt ở bên tả, lạc sơn ở bên hữu thì huyệt cũng ở bên hữu; lạc sơn ở giữa thì huyệt ắt cũng ở chính giữa. Nếu lạc sơn tạo thành dạng tinh thể, bình phong, hoa cái, tam thai, ngọc chẩm, mành trướng, quý nhân thì đều tôn quý. Nhưng tối kỵ lạc sơn cao lớn hùng vĩ, nhô vút lên sừng sững, nhọn hoắt; gặp những chỗ như vậy phải tránh lập huyệt. Các dạng thường gọi là lạc tả huyệt tả, lạc hữu huyệt hữu, lạc trung huyệt cư trung, lạc sơn tứ ứng, lạc tại lưỡng biên huyệt cư trung, trượng vi lạc, dạ giá vi lạc và đặc lạc.

Quỷ tinh chứng huyệt nghĩa là khi địa huyệt bị xoay ngang hoặc thiên lệch, tất có quỷ sơn chạm thẳng vào. Chạm vào sau lưng thì mới có thể kết huyệt, điều này không đáng ngại. Ngô Hương Sơn nói địa huyệt có chỗ thiên tà là muốn nhờ quỷ chứng huyệt. Liêu công nói phàm đặt huyệt trên thân hoành long, nhất định phải có quỷ lạc sơn; sơn tốt nhất là đứng chắn phía sau huyệt. Quỷ sơn có các dạng trung chính quỷ, tả xanh quỷ, hữu xanh quỷ, hoành thác quỷ, hiếu thuận quỷ, ngọc đới quỷ và tam đài quỷ.

Long hổ và triền hộ làm chứng

Đồng Đức Chương nói xem có long và hổ hay không để biết có địa huyệt hay không; xem long và hổ ở trước hay sau để định địa huyệt ở bên tả hay bên hữu. Nếu long có lực thì địa huyệt dựa gần mé tả, nếu hổ có lực thì địa huyệt dựa gần mé hữu. Nếu long và hổ đều thấp bé thì phải tránh gió, lập địa huyệt ở trong minh đường; nếu đều cao thì cần tránh áp, tìm thiên huyệt ở ngoài minh đường. Phạm công nói nếu long mạnh hơn thì nhất định lập huyệt tùy nơi long đến, nếu hổ mạnh hơn thì lập huyệt tùy theo hổ. Họ Bốc dặn nếu không có long thì phải có thủy lưu vòng sang bên tả, nếu không có hổ thì phải có thủy lưu vòng sang mé hữu mới được.

Triền hộ giống như bậc tôn quý có nô bộc theo hầu. Kinh dạy hộ tòng đa phần trải dài đến mặt trước địa huyệt; có ba lớp, năm lớp thì đều tạo phúc khí liên miên bất tuyệt. Hộ tòng cũng có lớn có nhỏ, lớn hay nhỏ tùy theo long dài hay ngắn mà biến hóa. "Hắc Nang Kinh" nói bên ngoài chân huyệt phải có sơn mạch bao bọc, địa huyệt có bao bọc mới không bị phá. Cát Khê nói phàm địa có tam luân thì cần dựa vào sơn để xác định: huyệt của tống sơn ngắn ở trong, huyệt của tống sơn dài ở tận đầu, huyệt của tống sơn thiên lệch ở nơi nghiêng lệch.

Chiên và thần: tấm chăn và tấm đệm của huyệt

Chỗ ngồi của người quý bao giờ cũng có thảm trải; chỗ ngồi của rồng quý cũng vậy.

Chiên thần là dư khí của huyệt phát lộ ra: nhiều thì gọi là chiên, nhỏ thì gọi là thần, nhìn vuông vức hoặc tròn trặn. Kết huyệt ở đây thì đúng là chân huyệt, đó là cát địa do tạo hóa sản sinh, tự nhiên cảm ứng mà có. Họ Bốc nói chỗ kết huyệt phải có chăn, có đệm. Dương công nói chỗ quý long tọa lạc sẽ có chăn có đệm, huyệt có chăn có đệm là cục thế phú quý. Muốn biết có chiên thần hay không, hãy xem phía dưới huyệt có chỗ đất phẳng như con dê vái chào quý nhân, lại giống đàn tế của tăng nhân đạo sĩ. Chân long trải dài đến trước huyệt thì có chăn, có đệm, dù là chi long cũng sẽ phú quý. Kiểu này có cả ở núi cao lẫn bình địa.

Phân và hợp: chữ bát trên đầu, nước tụ ở chân

Khi điểm huyệt, trước hết phải xem chữ "bát" lớn và chữ "bát" nhỏ; hai bên còn có dòng nước thuận chảy, đưa khí mạch xuống phía dưới, giao hội ở chỗ ngã ba, nhất định sẽ có khai khẩu. Lại phải nhận rõ thế nào là thượng phân và hạ hợp. Nếu bên dưới có hợp, bên trên có phân, âm dương giao độ thì đó là chân huyệt; nếu bên trên có phân mà bên dưới không có hợp thì đó là giả huyệt. Có ba kiểu phân hợp: kiểu thứ nhất gọi là "cầu hiện thủy", nước từ trên phân khai rồi xuống dưới tương hợp; kiểu thứ hai gọi là "tiểu bát tự thủy"; kiểu thứ ba gọi là "đại bát tự thủy". Vì vậy dùng phân hợp để chứng huyệt là đích đáng nhất. "Thân Báo Kinh" nói tam hợp tam phân, thấy được lẽ lấy thổ làm huyệt, lấy kim làm thừa; hai cánh chim, thấy được tình ý tương thủy tương ấn.

Thập đạo thiên tâm: đường chữ thập

Thập đạo thiên tâm là nói tiền, hậu, tả, hữu và thiên tứ ứng, tức đường chữ thập. Nói đến huyệt pháp thì phía sau có cái sơn, phía trước có chiếu sơn, hai bên tả hữu có giáp nhĩ sơn; bốn ngọn ứng đăng phong là Cái, Chiếu, Củng, Giáp. Khi điểm huyệt phải thẩm tra kỹ để định đúng phương vị, không được lệch dù một chút, phải vuông góc như chữ thập mới là chân huyệt. Bài "Trác Bảo Tập" nói nơi chân mạch đã tiết lộ thiên cơ, khi điểm huyệt phải lấy sơn phong hình chữ thập làm chứng cứ. Có kiểu thập đạo cát và kiểu thập đạo bất cát.

Xú huyệt: những thế đất thô lậu cần tránh

Xú huyệt là những thế đất thô lậu, hiểm ác: sơn thế của chúng cao to thô kệch, lộ rõ vẻ hung ác, đá trên núi cũng to lớn kềnh càng, không nhu hòa, nhỏ nhắn, linh xảo. Sơn thế hiểm yếu, dựng đứng, gấp gáp, không thể đặt chân đứng vững; tinh thần nơi đó cũng phù thũng thô lậu cho nên không thể có oa kiềm. Long khí bị hư hao, yếu ớt nên dễ bị thương tổn, hao phí. Những chỗ lõm khuyết, lõm hãm cũng xấu như vậy. Bài phú nói trong sơn cốc phải tránh gió mới được; Sát Tây Sơn nói không chỉnh tề là sự khuyết hãm của thiên địa. Liêu công nói sơn thế gầy yếu, sơn thạch nhọn hoắt đột nhiên lộ liễu thì địa huyệt không thể tàng tụ long khí mà để gió thổi tản mát.

"Khôn Giám" nói long mạch thấp bình mà không khai trướng thì gọi là cô long, chỉ hợp để dựng am miếu cho ông già học Phật pháp và tham thiền. Ngô công nói long không khai trướng mà lộ rõ vẻ cô đơn thì dù vươn thẳng lên mây cũng vô ích; nếu quả thực muốn tìm một địa huyệt cô đơn, ngoại lộ thì chỉ để tới đó tu hành tham thiền, những đỉnh núi cao chơi vơi, lạnh lẽo, cô độc rất thích hợp việc này. Dương công nói sơn mạch của quý long trùng trùng, xuất trướng nhập trướng. Ngạn ngữ nói đất đẹp giống như thiếu nữ khuê các sống trong phòng kín.

Còn loại địa thế đột khởi trên bình địa, bốn bề không có hộ tòng thì sao? Dương công nói ở bình dương thì không sợ gió thổi bốn phương tám hướng. Nhưng nếu "phá diện", tức trên đầu, trên mặt bị người ta đào khoét lấy đất đá nham nhở thì gọi là tinh thần bị phá phách. "Minh Tinh Kinh" nói đào khoét đất đá, động tới sơn mạch làm thần nhân kinh sợ, long mạch đứt đoạn, tinh khí tiết lộ, hàn khí bên ngoài thâm nhập làm thương tổn chân khí; theo lý không được mai táng ở những chỗ như vậy. Liêu công nói nếu đào khoét đất đá, phá vỡ vòng tròn thái cực thì nước sẽ xâm thực hủy hoại quan tài; đào nham nhở thì cây cỏ không mọc được, đất đá như sẹo lỗ chỗ, mặt mũi thô kệch là xấu. Tử Vi nói an táng ở những chỗ như thế thì tinh khí không tụ, con cháu suy bại, gia nghiệp tan tành, nhân đinh giảm thiểu.

Cũng có thế bốn bề núi cao lớn, địa huyệt cũng cường tráng, cổ thụ sừng sững, hàm răng của thanh long bạch hổ giao thoa, bên trong âm u tối tăm; núi không có chính huyệt thì bất đắc dĩ mới lập huyệt. Đồng công nói có địa thế trông như đầu múi giáo, nhọn hoắt, hoặc như đuôi chuột, đều chớ hạ táng. Có những chỗ địa thế trông như da trâu, vảy cá, sần sùi thô lỗ; có chỗ sơn hình cứng nhắc, không linh hoạt, thô lậu, gấp gáp, ương ngạnh, tranh giành, đều nguy hiểm đáng sợ. "Táng Kinh" nói tinh khí tụ kết ở trên cao thì không thể hạ táng. Những thứ ấy đều là xú huyệt, và người thông minh, hiểu xa trông rộng thì không cần xem bản đồ cũng lĩnh hội được.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia