Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Từ Yên Bái đến Điện Biên Phủ: người đời đọc sấm Trạng Trình thế nào

Đạo Học - Đạo Gia04/10/202615 phút đọc3 lượt đọc
Từ Yên Bái đến Điện Biên Phủ: người đời đọc sấm Trạng Trình thế nào

Cứ mỗi lần đất nước có biến cố lớn, người ta lại lật những câu sấm cũ ra, tìm trong đó một năm, một địa danh, một cái tên. Có những cách đọc khớp đến lạ kỳ, và có những cách đọc phải đặt dấu hỏi thật lớn…


Hai khổ thơ về đêm khởi nghĩa Yên Bái

Trong những cách đọc sấm gắn với biến cố thế kỷ hai mươi, hai khổ nổi tiếng nhất có lẽ là khổ mười một và khổ mười hai. Chúng được chép như sau, với những chữ viết hoa là chỗ người đọc thường dừng lại.

Kìa kìa gió thổi lá rung cây,
Rung Bắc rung Nam, Đông tới Tây.
Tan tác KIẾN kiều AN đất nước,
Xác xơ Cổ thụ sạch AM mây.
LÂM giang nổi sóng mù THAO cát,
HƯNG địa tràn dâng Hóa nước đầy.
Một ngựa một YÊN ai sùng BÁI?
Cha con nhà VĨNH BẢO cho hay.

Người ta gắn tám câu này với cuộc khởi nghĩa vũ trang của Việt Nam Quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, đêm ngày 9 tháng 3 năm 1930. Ở Yên Bái, Nguyễn Thị Giang tổ chức bằng cách đóng vai người buôn bán bất bình với viên cai Thiết, để rồi Binh đoàn Yên Bái tấn công vào thành Yên Bái của thiếu tá La Taron. Cũng trong đêm đó, tư lệnh chiến khu Một, gồm Hà Nội, Hà Đông, Kiến An, Hải Phòng, là Nguyễn Khắc Nhu, tiến đánh Lâm Thao, rồi Phú Thọ, Hưng Hóa, Sơn Tây. Còn ở huyện Vĩnh Bảo, Trần Quang Diệu đến huyện lỵ lúc mười giờ đêm, vờ báo cho tri huyện Hoàng Gia Mô biết tin khởi nghĩa để viên này sợ hãi cùng lính hầu lên ô tô chạy về Hải Dương. Vừa rời huyện hai cây số, họ bị chi đội do Đào Văn Thế cầm đầu chặn lại và giết.

Vì Trần Quang Diệu quê ở làng Cổ Am, nên sau đó năm chiếc máy bay Pháp đến ném bom triệt hạ ngôi làng này. Người ta kể rằng chính trong lúc phá làng Cổ Am, người Pháp tìm thấy quyển sấm của Cụ Trạng. Cũng có người gắn hai câu cuối với hai cha con nhà Nguyễn lúc bấy giờ là Vĩnh San (Khải Định) và Bảo Đại để giải câu "cha con nhà Vĩnh Bảo cho hay".

Từ tiếng nổ của một đêm, lời sấm đi sang những năm tháng dài hơn, trải trên cả địa cầu.

Đuôi rồng đầu rắn: năm tháng của cuộc chiến thế giới

Hai khổ thơ kể về tám năm liên tiếp theo thứ tự con giáp, đọc rất khó dứt: Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
Rắn mới hai đầu khó chịu thay.
Ngựa đã gác yên không người cưỡi,
Dê không ăn lộc ngảnh về Tây.
Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu,
Gà kia vỗ cánh chập chùng bay.
Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa,
Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày.

Một khổ khác dùng chính những con giáp ấy để tả cuộc đại chiến thứ hai.

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,
Can qua xứ xứ khổ đao binh.
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân, Dậu niên lai kiến thái bình.

Hai câu đầu được giải là cuộc đại chiến mở rộng vào cuối năm Rồng (Canh Thìn, 1940), đầu năm Rắn (Tân Tỵ, 1941), dân chúng khổ sở vì bom đạn. Bản dịch ra Nôm là: đuôi rồng đầu rắn nổi chiến tranh, khắp hòa thiên hạ khổ đao binh. Hai câu sau ứng với tháng Giêng năm 1943, cuối năm Ngọ, khi Liên Xô mở cuộc phản công ở Stalingrad; sang cuối năm Mùi, phát xít Hitler bắt đầu núng thế. "Móng dê chân ngựa anh hùng hết" là chỉ cảnh đó. Chiến thắng của phe Đồng minh đem hòa bình cho thế giới vào cuối năm Giáp Thân, đầu năm Ất Dậu (1945), khớp với câu "Thân Dậu rồi ra mới thái bình".

Khi chiến tranh thế giới khép lại, thì trong nước, những chữ của lời sấm đã chuyển sang một mùa thu khác.

Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long

Khổ bốn mươi mốt có hai câu cuối được người đời nhắc nhiều nhất.

Đầu thu gà gáy xôn xao,
Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.

Đầu thu là tháng bảy âm lịch, tức tháng tám dương lịch, năm gà là năm Ất Dậu 1945. "Mặt trăng xưa" là "cổ nguyệt", ghép chữ "cổ" với chữ "nguyệt" thành chữ "Hồ". Người ta hiểu đó là ông Hồ trở về đất Thăng Long, vào ngày 26 tháng 8 năm 1945, tức mười chín tháng bảy năm Ất Dậu.

Hai câu tiếp theo trong khổ ấy được liên hệ với năm 1946.

Chó kêu ầm ĩ mùa đông,
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi.
Lợn kêu tình thế lâm nguy,
Quỷ Vương chết giữa đường đi trên giời.

Đó là năm Bính Tuất, khi Bảo Đại lợi dụng chuyến sang Trùng Khánh để đi thẳng theo Pháp, không trở lại. Câu sau có người cho là ám chỉ đại tướng Pháp Leclerc gặp nạn máy bay chết cháy. Trước đó, bốn câu nữa cũng được nối với việc Bảo Đại thoái vị năm 1945.

Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân,
Đến thời thiên hạ vô quân,
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung.

Năm 1945 Bảo Đại thoái vị, nguyện làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua nô lệ, nhưng rồi đâu có được yên: đúng là thiên hạ vô quân, làm vua chẳng dễ làm dân chẳng lành. Cuối năm Thân chuyển sang năm Dậu, tức đầu năm 1945, nhà Nguyễn cáo chung, vì "phụ nguyên" ghép lại là chữ Nguyễn.

Còn một khổ nữa về Hà Nội mười năm sau.

Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thời tiết hoa tàn,
Trực đáo dương đầu mã vĩ,
Hồ binh bát vạn nhập Trường An.

"Càn khôn dĩ định" là số trời đã định, chín lần chín là tám mươi mốt năm, tức thời gian người Pháp đô hộ Bắc Kỳ. Tiết thanh minh, đầu năm Mùi, cuối năm Ngọ, tức cuối 1954 đầu 1955, tám vạn quân của ông Hồ vào đất Trường An, giải phóng Hà Nội, kết thúc tám mươi mốt năm đô hộ. Ngày ấy là mười tháng mười năm 1954.

Các câu sấm khác cũng được đem ra gắn với năm tháng ấy, nhưng chúng khó nói rõ hơn.

Tiền ma bạc quỷ, tám gà trên mây và ba đồng đổi một

Từ khi tập sấm được in vào những năm ba mươi của thế kỷ, mỗi lần có biến cố đáp ứng lòng mong của dân, hoặc đôi khi là toan tính của những người muốn mượn uy tín Cụ Trạng, lại rộ lên những mối liên hệ suy đoán giữa câu sấm với thời cuộc. Dưới đây là một số đoạn thường được nhắc.

Tiền ma bạc quỷ trao tay,
Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua.
Giữa năm hai bảy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây!

Có người cho hai câu đầu ứng với việc Pháp thu số bạc dùng để đổi lấy tiền giấy phát hành, khiến nhân dân điêu đứng, và các cuộc khởi nghĩa nổi lên khắp nơi: Đô Lương, Hóc Môn, Nghệ An, Thái Nguyên. Hai câu sau được gắn với việc viên toàn quyền Pierre Pasquier chết trong tai nạn máy bay năm 1933. Họ cho rằng năm 1933 nhuận hai tháng bảy, tức có mười ba tháng, còn Pasquier phiên âm đọc thành "Bát Kê", nghĩa là tám gà, bị thiêu xác trên trời. Tuy nhiên, nếu xem lại, năm ấy theo âm lịch không có tháng nhuận nào.

Ba con đổi lấy một cha,
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền.

Vào những năm ba mươi, đầu triều Bảo Đại, đất nước gặp nhiều khó khăn vì biến cố thiên nhiên "đất lở cát bồi", lại thêm người Pháp chủ trương phát hành đồng tiền Bảo Đại thay dần đồng Khải Định, mà ba đồng Bảo Đại mới bằng một đồng Khải Định. Ba con đổi lấy một cha khiến dân chúng càng khổ sở.

Rồng bay năm vẻ sáng ngời,
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng.
Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng,
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời.
Chín con rồng lộn khắp nơi,
Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu.

Rồng qua rắn, năm Thìn 1952 sang năm Tỵ 1953, là lúc chuẩn bị hết thời bọn "sa tăng", tức giặc Pháp sắp phải rút; sang năm Ngọ 1954 thì trận Điện Biên Phủ khiến quân Pháp chết nhăn răng, và "thầy tăng" tức người Tây hết thời, phải rút vào miền Nam. Có người lại cho hai câu cuối ứng với mạng lưới bốt đồn của địch như nhện giăng khắp chốn, mà vẫn không chống nổi sức kháng chiến của quân dân.

Tám câu Hán văn dưới đây thì được ông Ngư Phố dịch ra Nôm.

Ô hô thế sự tự bình bồng,
Nam, Bắc hà thời thiết lộ thông.
Hồ ẩn sơn trung Mao tận bạch,
Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng.
Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông.
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong.
Than ôi thế sự thật bình bồng!
Nam, Bắc chừng nào thiết lộ thông?
Hổ ẩn trong non, mao thấy trắng,
Kình ngoi ngoài biển huyết loang hồng.
Gà kêu cây ngọc trời nghiêng Bắc,
Trâu tới Lam điền bóng rạng Đông.
Tới lúc ưng về sư tử dậy,
Thái bình mới tỏa khắp non sông.

Có người đọc rằng: cuộc đời đổi thay như cánh bèo, không biết bao giờ đường sắt Bắc Nam mới nối liền. Ông Hồ vào núi kháng chiến, ông Mao đánh tan quân Trắng của Tưởng, cá voi ngoài biển máu đỏ hồng.

Có những cách đọc lại đến từ một chiếc tạp chí và từ chính quê hương Trạng.

Tám câu về Sài Gòn và hai câu về vùng quê Tiên Lãng

Một tạp chí mỹ thuật kể lại giai thoại về tám câu sấm được gắn với Sài Gòn tạm chiến: người Pháp về nước, ông Diệm nắm quyền, Mỹ đến, bà Trần Lệ Xuân thao túng, cuộc đảo chính của Nguyễn Chánh Thi bất thành, cuộc đánh bom Dinh Độc Lập, rồi đến họ Dương đảo chính thành công.

Nước đi leo lẻo đổ về tây,
Nhị hỏa xưng vương cũng có ngày.
Dê vẫn hai đuôi mừng ngựa đến,
Hoàng thành trơ trụi cỏ cùng cây.
Đông A nhập xuất khôn cung thịnh,
Tý khởi hầu mình sự bất thành.
Hổ khiếu chỉ kinh thiên hạ nội,
Thỏ lai nhất mộc dị tường trình.

Có người giải như sau. "Nước đi" là "thủy khứ", ghép lại thành chữ Pháp. "Nhị hỏa" là hai chữ "hỏa" và chữ "vương" ghép thành chữ Diệm. "Dê" thêm hai đuôi là chữ Mỹ, Mỹ đến vào năm Ngọ (1954). Kinh thành Huế hoang tàn vì Bảo Đại bị phế truất. "Đông A" ghép lại thành họ Trần, "khôn cung" chỉ người đàn bà, tức Trần Lệ Xuân. Năm Tý (1960), ngày 23 tháng 9 âm lịch tức 11-11-1960, cuộc đảo chính của Nguyễn Chánh Thi thất bại. Năm Dần, tháng Dần chỉ làm kinh sợ: ngày 23-2-1962, hai máy bay bỏ bom Dinh Độc Lập. Năm Mão (1963), ba chữ "nhất mộc dị" ghép thành họ Dương: cuộc đảo chính của Dương Văn Minh ngày 1-11-1963 lật đổ ông Ngô Đình Diệm.

Ở quê hương Trạng, các bô lão gần đây lại nhắc đến hai câu truyền miệng.

Bao giờ Tiên Lãng chia đôi,
Sông Hàn nối lại thì tôi lại về.

Họ cho rằng hai câu này ứng với việc khơi lại con sông đào chia đôi huyện Tiên Lãng, và việc bắc chiếc cầu phao mới qua sông Hàn để đại biểu toàn quốc về thăm quê Trạng, khi đền thờ được trùng tu nhân hội nghị khoa học kỷ niệm bốn trăm năm ngày mất của Trạng năm 1985. "Tôi lại về" chính là như thế.

Một giai thoại đăng trên báo Quan hệ quốc tế số 8 năm 1991 kể rằng bốn câu cuối của một bản sấm khác cũng có người tìm cách giải.

Tướng thần hệ xuất y, chu,
Thức cơ phục kiến Đường Ngu thị thành.
Hiệu xưng thiên hạ thái bình,
Đông tây vô sự Nam thành quốc gia.

Họ cho rằng vào thời điểm năm 1991 có những người giỏi giang ra làm việc nước như thời Nghiêu Thuấn, thiên hạ thái bình, và đất nước Việt Nam dần trở thành một quốc gia đáng kể.

Giữa những cách đọc ấy, có những khổ sấm không gắn với một năm nào cả, chỉ giữ lại một niềm tin về thời bình.

Những khổ sấm hẹn một thời thái bình

Về cuối lời sấm, giọng thơ chậm lại và nói với con cháu. Ông bảo lời truyền để lại chỉ có chừng ấy; phương Tây giặc đã đến chiều bại vong, kẻ hậu sinh hãy thuộc lấy làm lòng để khi gặp biến còn biết giữ mình.

Lời truyền để lại bấy nhiêu,
Phương Đoài giặc đã đến chiều bại vong.
Hậu sinh thuộc lấy làm lòng,
Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.
Đầu can Võ tướng ra binh,
Ắt là trăm họ thái bình âu ca.
Thần Kinh Thái Ất suy ra,
Để dành con cháu đem ra nghiệm bàn.

Ông cũng ghi lại rằng mình thấy lạ đời mà viết, và từ Lạc Long Quân đến đời nay, mỗi triều đều có một bề tôi ngoan giúp nhà nước, dân an thái bình.

Ngày thường xem thấy quyển vàng
Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi.
Bởi Thái Ất thấy lạ đời,
Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân.
Kể từ Lạc Long Quân,
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian.
Mỗi đời có một tôi ngoan,
Giúp chung nhà nước dân an thái bình.

Rồi ông tả cuộc sống dần ấm no: giàu sang như giấc mộng bụi hồng, khốn cùng thì tóc bạc; làng quê có tiếng chó sủa, trẻ chăn trâu giục người canh gác. Phía Bắc có Kim Thành vững, phía Nam có Ngọc Bích thành, tùng bách mọc lên xanh, bối rối thuở đông chinh, rồi bậc thiên tử xuất hiện, chẳng đánh mà thành tự nhiên.

Phú quý hồng trần mộng,
Bần cùng bạch phát sinh.
Hoa thôn dã khuyển phệ,
Mục giã giục nhân canh.
Bắc hữu Kim thành tráng,
Nam hữu Ngọc bích thành.
Phân phân tùng bách khởi,
Nhiễu nhiễu xuất Đông chinh.
Bảo giang thiên tử xuất,
Bất chiến tự nhiên thành,
Rồi ra mới biết thánh minh,
Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.

Sông Nhị một dải quanh co chính là nơi đặt kinh đô: Hà Nội, với dòng sông Nhị chảy qua, mới là chốn kinh đô thật. Và những người từng cậy phép mầu, cậy vào văn minh cơ khí, nay thời ấy đã hết.

Nhị Hà một dải quanh co,
Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào.
Khắp hòa thiên hạ nao nao,
Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?
Nói đến độ thầy tăng ra mở nước,
Dám quỷ kia xuôi người đến đâu.
Bấy lâu những cậy phép mầu,
Bây giờ phép ấy để lâu không hào.

Những khổ cuối nhắc những người non trèo biển lội, lánh mình vào nội Ngô, Tề; người phụ giúp thánh minh, quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai; trẻ già biết sự lòng ghi vào bản để giở xem; và lời khuyên ai sớm biết khuông phù thì giúp thiên hạ về với đời Đường, Ngu.

Những người phụ giúp thánh minh,
Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai.
Phùng thời nay hội thái lai,
Can qua chiến trận để người thưởng công.
Này những lúc thánh nhân chưa lại,
Chó còn nằm đầu khải cuối thu.
Khuyên ai sớm biết khuông phù,
Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngõ hầu.
Cơ Tạo Hóa phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào,
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

Có điều đáng nhớ: nhiều câu giải trên đây do người đời sau đặt ra và suy diễn, và người ta đã thần thánh hóa Trạng, có khi vô tình, có khi cố ý mượn uy tín của ông. Điều chắc chắn là ông là một nhà nho thấu hiểu thời cuộc, tinh thông lý số cũng như Kinh Dịch, song chỉ ở mức cao siêu là nhận xét và dự báo sát tình thế của thời ông. Còn những suy diễn cho hàng trăm, thậm chí mấy trăm năm sau, rõ ràng vẫn cần được nghiên cứu lại. Nguồn gốc quyển sấm ở đâu, ai tìm ra, tìm ra từ bao giờ, phần nào do ông viết, phần nào người sau thêm, trong nhiều bản khác nhau thì đâu là bản cũ nhất: những câu hỏi ấy còn chưa có lời đáp. Các năm Tý, Sửu, Dần, Mão trong bài sấm lại lặp lại sau mỗi giáp mười hai năm, nên rất khó xác định và dễ giải theo ý riêng.

Nguồn: Nguyễn Nghiệp (sưu tầm), Trạng Trình – Sấm và Ký.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia