Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tướng Pháp

Bài tổng quan

Đám tang to nhỏ theo túi tiền, thời thế và chữ hiếu

Đạo Học - Tướng Pháp15/10/202611 phút đọc0 lượt đọc
Đám tang to nhỏ theo túi tiền, thời thế và chữ hiếu

Trong một nghĩa địa thị tộc ở Sơn Đông, bà lão nằm giữa hơn chín mươi món đồ gốm, còn ngay bên cạnh có người chẳng được chôn theo thứ gì. Về sau, hết đợt chôn hậu này đến đợt chôn hậu khác nổi lên rồi lại tắt, như có một bàn tay đẩy phía sau…


Giàu nghèo vạch ranh giới ngay trong lòng huyệt

Một đám tang to hay nhỏ trước hết là chuyện túi tiền, nhưng không chỉ có thế. Nó còn dính chặt vào đức tin tôn giáo, vào những điều người ta cho là đúng đạo làm người, vào lời bàn tán của làng xóm và vào cách xã hội được tổ chức.

Dấu vết xưa nhất của chuyện này nằm ở thời đồ đá mới, khi con người còn sống theo thị tộc. Đồ chôn theo người chết bắt đầu nhiều lên, và ngay trong một nghĩa địa của cùng một thị tộc đã thấy hai kiểu mộ khác hẳn nhau: có ngôi huyệt rộng rãi, quan quách tử tế, đồ tùy táng đầy đặn; lại có ngôi huyệt chỉ vừa đủ đặt một thi thể, không quan tài, đồ chôn theo rất ít hoặc chẳng có gì. Đó là dấu hiệu chế độ tư hữu đã nhú mầm, và khoảng cách giàu nghèo đã hiện hình dưới lòng đất.

Ngôi mộ số 10 ở Đại Vấn Khẩu, tỉnh Sơn Đông, thuộc thời đồ đá mới, là một ví dụ rõ ràng. Huyệt dài 4,2 mét, rộng 3,2 mét, đáy chia hai bậc. Người ta xếp gỗ thành chiếc quan tài hình chữ Tỉnh, giữa đáy còn khoét một rãnh. Người nằm trong đó là một phụ nữ lớn tuổi, đeo ba chuỗi trang sức bằng đá, vòng tay và nhẫn bằng ngọc; bên cạnh có xẻng ngọc, ống chạm từ xương, nhiều chiếc lược ngà voi, cùng hơn chín mươi món đồ gốm. Với trình độ thời ấy, đó là bằng chứng chủ nhân thuộc một gia đình quyền quý. Đặt cạnh những ngôi mộ chỉ có một thi thể trơ trọi, sự cách biệt hiện ra không thể chối cãi.

Mộ thị tộc của người Thổ Chú cho thấy sự phân hóa theo ba bậc. Bậc trên cùng là thủ lĩnh và những người có địa vị cao; mộ họ thường có đồ đồng, trống đồng, trâm cài đầu bằng sắt, và số vật chôn theo vượt quá năm loại. Bậc giữa là những người khá giả; mộ họ thiếu một vài thứ trang trọng ở đầu và chân quan tài nhưng vẫn có từ năm đến mười hai món tùy táng. Bậc dưới cùng là người nghèo, chiếm tới tám phần mười thị tộc: một phần mười chỉ có đúng một món đồ, còn bốn phần mười thì chẳng có gì đi cùng. Một nhúm nhỏ người giữ của, và đa số phải chịu thiệt; cảnh đó được ghi lại khá rõ ngay trong nghĩa địa.

Đám tang lớn và nhỏ thay phiên nhau từ đời Thương đến đời Thanh

Cái lệ chôn người chết cũng có triều dâng và triều rút, như sóng. Nhìn dọc theo lịch sử, sóng ấy lên xuống theo một nhịp khá đều.

Người xưa ở Trung Quốc chủ trương đối đãi cha mẹ đã khuất cũng như khi cha mẹ còn sống: phải lo cho họ chuyện ăn ở, đi lại nơi cõi âm, nên mới chôn theo cả một kho đồ dùng hằng ngày. Đem so với các nước khác trên thế giới, nét nổi bật của mộ táng Trung Quốc là thói quen làm tang lớn, tức hậu táng. Dẫu vậy, nếu nhìn từng thời kỳ thì lại thấy có lúc dồn sức cho tang lớn và có lúc quay sang tang nhỏ.

Đỉnh cao của lối hậu táng là đời Thương. Lúc ấy người ta chôn theo một lượng lớn đồ đồng đắt giá, lại còn phổ biến tục chôn nô lệ và gia súc theo chủ. Từ Tây Chu đến Chiến Quốc, tang lễ nhìn chung nhỏ hơn, dù đến Xuân Thu thì xu hướng làm tang lớn có quay trở lại. Tục chôn nô lệ và đồ đồng đen đều giảm từ đời Tây Chu; sang Chiến Quốc, người ta dùng tượng gỗ và người nặn bằng đất nung thay cho nô lệ và gia súc, lấy đồ sứ thay cho đồ đồng.

Sau đó, trong hơn bốn trăm năm Tần Hán, làn sóng hậu táng thứ hai dâng lên. Nó không chỉ hiện ra trong lăng của hoàng đế, người nắm quyền cao nhất và sống xa hoa nhất, mà lan xuống một số quan lại, thương nhân và các địa chủ cỡ vừa, cỡ nhỏ. Người ta chôn theo rất nhiều tiền xu đang lưu hành, và lăng mộ hoàng đế là nơi tốn công tốn của nhất.

Tần Thủy Hoàng vừa lên ngôi đã bắt tay xây lăng cho mình dưới chân núi Ly Sơn, Thiểm Tây. Ông điều thợ từ các nước, các vùng khác về; lúc đông nhất, số nhân công lên tới hơn bảy trăm nghìn người, và công trình kéo dài ba mươi năm.

Lăng mộ của tầng lớp trên xa hoa đến mức khó hình dung, như mộ vợ chồng Lưu Thắng thời Tây Hán, được tìm thấy ở Mãn Thành, Hà Bắc năm 1968. Trong mộ có bộ áo liệm làm bằng vàng và ngọc, vật liệu quý và đắt; riêng để làm xong bộ áo ấy, hai người thợ lành nghề cũng phải mất năm năm. Cạnh đó còn có ba mươi ba vò rượu bằng gốm. Khi khai quật, người ta thấy vết rượu đã khô còn sót lại; trên thành vài chiếc vò còn viết rõ loại rượu và dung lượng, chẳng hạn rượu Lê Thượng Tôn mười lăm thạch, rượu gạo mười một thạch. Theo tính toán, số vò ấy chứa được hơn năm nghìn cân rượu. Đời Hán ủ rượu theo tỷ lệ một đấu gạo ra một đấu rượu, nên chỉ để ủ chừng ấy rượu tùy táng đã phải dùng đến hơn năm trăm nghìn ký lương thực.

Từ Tam Quốc qua Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, nhịp sóng lại hạ xuống. Từ lăng hoàng đế đến mộ dân thường đều thu nhỏ quy mô, đồ chôn theo cũng ít đi. Đời Đường, hậu táng quay lại, thể hiện chủ yếu ở chỗ phòng mộ và đường dẫn vào mộ của giới cầm quyền trở nên phức tạp hơn; đồ chôn bằng đồng, sắt, gốm, sứ và tranh vẽ trên vách mộ tăng lên, hoa văn trang trí cũng cầu kỳ hơn. Đến thời Ngũ Đại Thập Quốc, tang lễ lại nhỏ đi. Từ sau Ngũ Đại, qua Tống, Nguyên, Minh, Thanh, trừ một số ít nhà cầm quyền, không còn đợt hậu táng nào dâng cao nữa.

Vì sao thời thống nhất chôn hậu, thời loạn lạc chôn sơ

Những đợt sóng ấy không đến rồi đi ngẫu nhiên. Mỗi lần dâng lên đều có một bàn tay đẩy phía sau: trật tự của triều đình, sức nặng của đạo lý và độ đầy của kho thóc.

Các đợt hậu táng thường rơi vào lúc nhà nước thống nhất và mạnh. Khi đó triều đại nào cũng ra sức siết chặt việc cai trị, từ tư tưởng chính trị đến nếp nghĩ về luân lý. Gốc rễ của luân lý và chính trị ở phương Đông xưa là sự gắn chặt giữa chữ trung và chữ hiếu. Nhà Hán đặc biệt lấy hiếu để trị thiên hạ. Luật Tây Hán từng quy định ai không để tang đủ ba năm thì không được đi thi; đến đời Ai Đế, cha mẹ mất thì con cái phải ở nhà chịu tang ba năm.

Chữ hiếu vì thế trở thành một điều kiện để đi thi và ra làm quan, và chôn cất hậu hĩnh là một cách dễ thấy nhất để chứng tỏ mình hiếu. Khi đất nước yên ổn, ít chiến loạn, văn hóa truyền thống và ý thức dân tộc của người Hán ít bị văn hóa ngoại lai làm xao động; thế lực dòng họ cũng lớn mạnh. Pháp thuật của các thầy trong dân gian và các tôn giáo cũng được dịp thịnh hành, và tất cả đều lấy chữ hiếu làm nội dung quan trọng. Hậu táng thành một cách để lập thân, phô trương thanh thế.

Lúc ấy kinh tế cũng phát triển khá nhanh. Người ta không chỉ có ý muốn chôn thật hậu mà còn có đủ của để làm. Hai điều kiện gặp nhau, hết đợt hậu táng này đến đợt hậu táng khác nối lên.

Các thời kỳ tang nhỏ thì đều rơi vào lúc chiến loạn. Khi ấy, đạo đức và luân lý bị lối nghĩ thực dụng chi phối, người đời coi trọng tiền của mà xem nhẹ đạo hiếu. Chôn cất cha mẹ cho hậu không còn là con đường quan trọng để lập thân. Mỗi cơn loạn lại là dịp văn hóa các dân tộc thiểu số tràn vào ảnh hưởng người Hán. Thời Chiến Quốc, các nước mở rộng bờ cõi và tiếp nhận văn hóa của nhiều dân tộc. Đến Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, các dân tộc thiểu số lần lượt tiến vào vùng người Hán ở, có nơi còn nắm quyền cai trị cả người Hán. Qua thời Ngũ Đại Thập Quốc, sự giao lưu càng rõ rệt. Văn hóa các dân tộc ấy thường không hình thành hệ luân lý lấy trung hiếu làm trọng tâm, cũng không có nền móng chính trị cho lối hậu táng, nên họ quen làm tang nhỏ, và điều này ảnh hưởng nặng nề đến người Hán. Đời Bắc Tống, rồi Nguyên, Thanh, lối tang lễ giản dị cũng thịnh hành vì những nguyên nhân văn hóa và chính trị như vậy. Thêm vào đó, thời loạn thì kinh tế hao tổn, vật tư để chôn hậu cũng cạn kiệt. Nhiều nguyên nhân cộng lại tạo nên thời kỳ tang nhỏ.

Tống và Thanh cũng thống nhất mà không thấy hậu táng dâng lên

Nếu lẽ trên đúng, thì có hai triều đại thống nhất lẽ ra phải chôn hậu, vậy mà không.

Tống và Thanh đều là những triều đại thống nhất, vậy vì sao không có đợt hậu táng nào dâng cao? Một nguyên nhân quan trọng là qua thực tế lịch sử và qua sự suy xét của nhiều đời, người ta dần nhận ra cái hại của hậu táng. Về hoàn cảnh, nhà Bắc Tống lại bước vào buổi loạn lạc như thời Ngũ Đại Thập Quốc, lại chịu ảnh hưởng không nhỏ từ chính quyền nhà Liêu, nhà Tây Hạ và văn hóa ngoại lai. Nhà Minh thì nối tiếp quyền cai trị của nhà Nguyên, ảnh hưởng ngoại lai chưa thể dứt bỏ trong một thời gian ngắn; những điều ấy đều là nguyên nhân không thể xem nhẹ.

Hậu táng làm được gì cho người đời

Nhà giàu không đổ của vào huyệt chỉ vì thương người đã mất. Mỗi món đồ chôn xuống đều làm thay một việc cho người còn sống.

Đầu tiên, người xưa tin rằng người chết rồi linh hồn vẫn còn, và hậu táng là cách làm thỏa nhu cầu sống của người cầm quyền nơi cõi âm. Có người ngay lúc còn sống đã lo chuẩn bị cho chuyện chôn cất của mình. Nhưng tác dụng thật sự nhất của hậu táng chỉ là thỏa mãn nhu cầu tinh thần. Con cái lo đám tang chu đáo, cầu kỳ cho cha mẹ thì vừa làm tròn nỗi lòng báo ơn cha mẹ, vừa được người đời khen hiếu. Trong một xã hội trọng chữ hiếu, tiếng khen ấy mở ra cơ hội lập thân, thành danh.

Thứ hai, đây là cách để phô tài sản, thế lực và địa vị. Qua những ngôi mộ đồ sộ, những ai tin rằng linh hồn tồn tại mãi buộc phải công nhận quyền thống trị của con cháu chủ mộ, khiến người đời yên phận, cam tâm chịu bị cai trị, bị sai khiến và bị bóc lột.

Tần Thủy Hoàng chôn vào lăng một đạo quân gốm cao to như người ngựa thật, vì muốn xuống cõi âm vẫn nắm binh quyền, và muốn dân sáu nước ở vùng Sơn Đông (đội tượng binh mã đều đứng quay mặt về phía Đông) thấy rằng dưới âm vẫn có một đạo quân hùng hậu bảo vệ nước Tần, để đừng ai nuôi ý chống đối. Ông dốc toàn lực dựng một lăng mộ cao lớn chưa từng có để thiên hạ nhận ra địa vị của mình vượt xa người chết của sáu nước kia. Tất cả đều thể hiện ý muốn giữ vững quyền thống trị của nước Tần, cả ở xã hội thực lẫn trong thế giới tinh thần.

Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tướng Pháp