Bài tổng quan
Táng năm Dần, năm Mão phát và ngọn núi sinh trạng nguyên
Người ta bảo ngôi mộ này táng vào năm Dần thì năm Mão đã phát, và đúng là tài đinh đầy nhà suốt sáu mươi năm, rồi sút dần theo những bệnh về máu. Một ngôi mộ khác có đủ núi xa, sông dài, minh đường rộng, nhưng chỉ một ngọn núi nuôi lên được một vị quý nhân vì không gặp thời. Còn một dòng họ sau lưng là ruộng thấp…
Mục lục · 5 phần
Biển hồ nối nhau, giàu có dư thừa nhưng khoa bảng còn nghi ngờ
Ngôi mộ họ Đường lập sơn Giáp hướng Canh, vào vận 4. Đại long ở phương Tốn theo Chấn, Cấn mà đi, mạch tới hai phương Dần, Giáp thì kết huyệt. Hai bên phải trái có sa ôm; trong nội đường có nước Nhâm tụ lại sáng như gương, tới Hợi thì dừng chứa, tới Tuất Kiền mở thành biển hồ, rồi theo Khôn Thân vòng qua Canh, Dậu, Tân lại mở thành biển hồ, chuyển qua các phương Mùi, Khôn, Thân chảy ra sông lớn, rồi một lần nữa mở thành biển hồ sáng như gương.
Chương Trọng Sơn nhận xét cuộc đất này cực kỳ tề chỉnh, những nơi nước mở thành biển hồ lại được quẻ thiên vượng thần, sao lại không đại phát tài. Cổ thư nói nội đường có nước Nhâm thì phát khoa cử đỗ đạt, tiền của không tới trăm vạn thì chưa dừng. Ông chưa rõ công danh nên lấy tọa sơn để định hay lấy thành môn để định, nhưng cuộc này rõ ràng là giàu có dư rồi mới tới quý, còn nói về khoa bảng thì vẫn còn nghi ngờ. Nước lưu uốn khúc chảy về kho, lại mở rộng thành biển hồ; nước tới đúng vị trí nước, núi tới đúng vị trí núi, nên chủ đại phú. Đáng tiếc địa vận quá ngắn; qua vận 6 hướng tinh nhập trung cung thì cả tài lẫn đinh thoái. Đến hai vận 9 và 1 thì khởi sắc trở lại vì hai phương Cửu và Nhất có nước.
Tắc Tiên cho biết long mạch kết huyệt ở Dần Giáp. Sở dĩ có câu rồng đi ra khỏi quẻ thì không phát quan quý là vì vận tinh Liêm Trinh bày tới Kiền; nếu nước dừng chứa ở Tuất, tức cùng một khí âm dương, thì vẫn còn là thành môn. Nay nước dừng ở Hợi, còn Tuất Kiền mở thành biển hồ, nên khí khó tránh sự không thuần. Phi tinh Nhất ở hướng tới Kiền ngầm hợp số sinh thành, cũng là thành môn biến cách; nhưng Nhất của phương Kiền ở đây thuộc sơn tinh chứ không phải thủy thần. Tọa sơn và thành môn đều chưa đủ lý lẽ để luận, nên Trọng Sơn mới nói về khoa bảng vẫn còn nghi.
Bạch Hạc Minh kết rằng cuộc này đại lợi về tài vận và sự nghiệp ở vận 4 và vận 5; các vận 6, 7, 8 suy thoái vì long thần thủy bao bọc Lục, Thất, Bát đều không thấy nước; đến vận 9 thì đại vượng liên tục bốn mươi năm.
Táng năm Dần, năm Mão phát và sáu mươi năm tài đinh
Có cuộc đất mà dân gian chỉ cần nói một câu là cả vùng hiểu; nhưng người xem phải nói được vì sao con cả không phát.
Ngôi mộ họ Đường thứ hai lập sơn Thân hướng Dần, vào vận 4. Long từ phương Ly tới, nhập thủ ở Khôn. Hai phương Khôn và Đoài có sông nước; phương Kiền có nhà cao; phương Cấn có sông lớn phóng sáng chiếu trước mặt rồi theo phương Chấn mà đi mất.
Chương Trọng Sơn nói đây là cuộc đất mà người ta thường gọi là táng năm Dần thì năm Mão phát, tài đinh đều vượng trong sáu mươi năm. Một khi qua hạ nguyên thì tổn thương thiếu niên, kiêm nhiều bệnh về huyết, tài khí cũng suy nhiều. Chủ nhân hỏi cuộc đất có ba phòng thì thế nào; ông đáp phòng trưởng tài đinh đều ít từ lúc táng tới nay, hai phòng thứ và nhỏ thì suy giảm nhiều. Hỏi lý do thì ông bảo khó nói, nhưng điều thấy rõ là ở phương tây bắc có lầu cao.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích táng năm Dần năm Mão phát là vì vượng sơn vượng hướng, lại ở hướng có sông lớn phóng sáng chiếu trước mặt nên phát nhanh. Qua vận 7 tài đinh suy thoái và sinh bệnh về huyết, vì hướng tinh nhập tù; huống hồ trung cung là Thất Nhất đồng cung, và vận tinh tới hướng ở vận 7 cũng là Nhất, địa bàn ở hướng là Thất, lại là Thất Nhất đồng cung. Thất là nhỏ, ứng phòng nhỏ; Nhất là huyết. Nước lớn ở hướng biến thành huyết nên tổn nhân đinh, suy tài vận và sinh bệnh huyết. Phòng trưởng không phát vì bản vị của phương Kiền là Lục, phi tinh tới Kiền cũng là Lục, phạm phục ngâm, lại có nhà cao áp bức. Nhưng phòng trưởng không bại vì vượng tinh ở hướng là Tứ, vượng tinh ở sơn cũng là Tứ; Tứ tức Tốn, Tốn chủ trưởng. Còn tới hướng là Thất, tới phương có nước là Cửu; Thất là nhỏ, Cửu là thứ hai, nên hai phòng thứ và nhỏ phát; tới vận 7 nhập tù thì cả hai phòng ấy đều bại.
Tắc Tiên nói vượng tinh Tứ Lục đáo sơn đáo hướng, Tốn thuộc trưởng nên phòng trưởng cát; nhưng Lục phạm phục ngâm lại bị nhà cao áp sát, Kiền cũng thuộc trưởng nên phòng trưởng hung. Cát hung xen nhau nên phòng trưởng không phát cũng không bại. Điều này chứng tỏ khi luận cát hung phải gia giảm giữa phi tinh của tám phương và hình tượng Loan Đầu.
Bạch Hạc Minh thêm một điều sót: vận 7, long thần ở sơn hạ thủy, phương vị ấy là Cấn; Cấn chủ phòng nhỏ, Đoài Thất cũng chủ phòng nhỏ, nên đây là cách cuộc thương tổn phòng nhỏ.
Ngã ba sông, núi cao ở Tốn và vận bại ở cuối
Ba dòng nước hội về một chỗ nuôi giàu người ta nhiều năm, nhưng bên cạnh chúng có một ngọn núi chắn lối.
Ngôi mộ họ Phùng lập sơn Mùi hướng Sửu, vận 4. Phương Kiền có cầu, nước chảy qua cầu tới, vòng qua Nhâm, Tý, Quý đến Sửu, Cấn, Dần thì thành ngã ba sông mà đi. Các phương Giáp, Mão, Ất có sông lớn cũng tới Sửu, Cấn, Dần hợp thành ngã ba sông rồi mất. Phương Tốn có một ngọn núi cao.
Chương Trọng Sơn nói mộ này sau khi táng những năm đầu bất lợi, đến vận 5 thì phát lớn tài đinh, qua vận 6 thì kiện tụng không dứt và đại bại, tới vận 7 không còn cứu được. Thẩm Trúc Nhưng giải thích năm đầu bất lợi vì vượng tinh tới phía sau. Vận 5 phát vì sông lớn ở phương Chấn có Ngũ tới. Vận 6 đại bại, kiện tụng liên miên vì phương Tốn là Lục bế tắc không thông, lại có sao Quan nhô cao, nên có họa chốn quan. Đến vận 7 nhập tù nên không còn thuốc cứu.
Tắc Tiên nhận xét quẻ tam ban quái khí thông nhau nên gặp hung hóa cát, được phúc lộc lâu dài; tuy phạm thượng sơn hạ thủy và phản ngâm phục ngâm cũng không kỵ. Nhưng cuộc này Loan Đầu và Lý Khí rất trái nhau; long thần hạ thủy, may chỗ ngã ba sông nước ra vào khí thế bàng bạc, nên tuy hợp tam ban mà năm đầu vẫn bất lợi. Nếu chỉ có dòng nước đối ứng thì không trở ngại. Qua ca này thấy rằng muốn thuận lợi từ những năm đầu thì phải lấy hình cuộc không có minh thủy chiếu trước mặt mà hợp cách. Cũng chớ hiểu lầm: tam ban ở đây không phải tam ban phụ mẫu khởi qua bốn vị trí.
Bạch Hạc Minh nêu hai nguyên nhân khiến vận 6 đại bại. Một: phương Tốn là nơi hướng tinh Lục Bạch đến, thấy núi, là long thần thủy bao bọc thượng sơn, chủ phá tài. Hai: phương Khảm là nơi sơn tinh Lục Bạch đến, thấy sông nước, là long thần ở sơn hạ thủy, chủ tổn hao nhân đinh. Gộp hai điều, đây là cách cuộc thượng sơn hạ thủy.
Ruộng thấp sau mộ, thủy ở xa và những người đàn bà ở lại
Sơn thủy đảo ngược mà vẫn nhà giàu, vì đất phía sau thấp trống và nước nằm xa đúng chỗ của nó.
Ngôi mộ họ Thi lập sơn Dậu hướng Mão, vận 4. Đất sau mộ là ruộng thấp; nước từ xa theo phương Đoài qua Kiền, Khảm, Cấn, Chấn tới Tốn Tỵ thì chảy qua dưới cầu mà đi. Trước mộ có ao hồ, phương Giáp Mão có nước phóng sáng.
Chương Trọng Sơn nói cuộc đất sơn thủy đảo ngược nên không tốt, nhưng vì long là vượng long, lại thêm trung cung và tọa sơn đều hợp thập nên phát cả tài lẫn đinh, chỉ là không tránh được có góa phụ. Hai vận 5 và 7 tốt, vận 6 bình, nước ra ở Tốn chủ phát học trò.
Thẩm Trúc Nhưng chú: vượng long là sơn Dậu, vận tinh là Lục, địa bàn là Thất, Tỵ Dậu hòa nên vượng. Hướng tinh tới phía sau nơi có ruộng thấp, nước ở xa; Tứ Lục ở trung cung và Tứ Lục ở sơn hợp thập, nên sau táng tài đinh phát lớn. Vận tinh ở hướng là Nhị, trung cung cũng Nhị, Nhị Khôn là sao Quả nên xuất hiện ba bốn người góa phụ. Nhưng bàng khí rất thông, đã phát ắt lâu bền. Vượng tinh tới Cấn là Ngũ, Kiền cũng là Ngũ, cả hai đều có nước nên vận 5 tốt. Vận 6 bình bình vì Lục tới Ngọ mà không có nước; phương Khảm là Thất có nước nên vận 7 lại tốt. Nhất tới phương Tốn, địa bàn là Tứ, Nhất Tứ đồng cung nên liên tục ra tú tài, đáng tiếc có cầu xung chiếu nên không thể đỗ cao hơn.
Tắc Tiên nói cuộc này vốn phạm nước thượng sơn; nay đất sau mộ là ruộng thấp và nước ở xa, tức thủy thần vẫn ở đúng chỗ của nó, vì vậy khí của rồng này trống mà không trống. Từ đó thấy công hiệu của Lý Khí là phối hợp với hình thế Loan Đầu. Trước mộ có ao hồ nhưng cuối cùng lại phạm hạ thủy; vả lại âm thần tụ nhiều ở đầu hướng cũng là điều người hiểu biết rất kỵ.
Bạch Hạc Minh cho rằng ca này cho thấy tầm quan trọng của thủy pháp: trong tám phương đã có sáu phương có nước, chủ về sáu vận tài nguyên dồi dào, đáng tiếc có vận phạm long thần ở sơn hạ thủy, rõ ràng bất lợi về nhân đinh. Vì vậy con cháu ngôi mộ này có nhiều góa phụ, do nhiều đàn ông mất sớm.
Mộ họ Trâu: núi ở Kiền sinh quý nhân nhưng đất đẹp không gặp thời
Núi xa mười dặm, sông dài mười dặm, minh đường mênh mông; vậy mà người xem đất vẫn nói tiền của không dày.
Ngôi mộ tổ của Trâu Trạng Nguyên lập sơn Mão hướng Dậu, vận 9. Phương Mão có núi cao đỉnh nhọn lạc mạch, núi co lại rồi nhô đỉnh nhọn, như cái kềm đá kẹp lấy một ngọn đồi đất ở trước mặt; huyệt táng sát ngọn đồi. Núi ở phương Kiền cách xa hơn mười dặm; minh đường rộng lớn; phương Đoài có sông dài hơn mười dặm uốn khúc tới chầu.
Chương Trọng Sơn nói cuộc này chỉ riêng ngọn núi ở phương Kiền là phát quý nhân. Nước ở hướng, núi ở tọa, hình thế Loan Đầu tuy rất đẹp nhưng e rằng tài đinh không đại vượng vì không đắc thời. Thẩm Trúc Nhưng nhận xét cuộc đất đẹp mà gặp thời gặp vận thì nhất định đại phát phú; đáng tiếc cuộc này không đúng thời. Chỉ ngọn núi ở phương Kiền phát quý cho thấy chỉ có Loan Đầu mà không có thời thì đất tốt giảm nhiều sức mạnh. Phương Kiền có Nhất Lục cùng họ, thêm Tam Bích mộc cũng chủ danh tiếng, nên vận 3 phát đỗ đạt khoa giáp.
Tắc Tiên nói núi đẹp chủ phát quý nhân; phát ở vận nào thì phải xem phi tinh ở sơn mà đoán, cũng có khi suy từ phi tinh ở hướng. Cuộc này chỉ có núi ở Kiền phát quý nhân; hướng tinh Tam Bích tới Kiền vốn chủ về công danh. Vận 3, khách tinh Tứ bay tới Kiền cùng vận bàn hợp thành Nhất Tứ đồng cung, đúng là đầu mối thúc đẩy phát quý nhân; cho nên qua vận 3 thì phát đỗ đạt. Còn nếu chiếu vận 4 mà bày phi tinh thì dù lấy được nước ở hướng uốn khúc chầu cũng chẳng được gì, vì hướng tinh nhập tù, sao không đắc lệnh, ngược lại phải luận nước ở hướng là hung sát.
Bạch Hạc Minh nói trạch này vào vận 9 có song tinh đáo hướng, vượng đinh nhưng không vượng tài. Đầu hướng thấy nước, mà hướng tinh Tứ Lục là suy khí, thấy nước thì luận hung. Hơn nữa Dậu của hướng Dậu là quẻ Đoài, theo đại quái Huyền Không thuộc khí hạ nguyên, nên thông thoáng chứ không nên thấy nước. Nay ái tinh thất vận lại thấy nước nên tiền tài hao phá. Cuộc đất này Loan Đầu rất đẹp; giả sử lập sơn Giáp hướng Canh thì tài đinh ắt đều vượng, vì hướng thấy nước, long thần thủy đắc vị, sơn tinh Tỵ Hòa; nhưng muốn luận như thế thì sau chỗ nước ở hướng phải có núi.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
