Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Rồng đất bằng: thế quành trái, quành phải và cách tìm huyệt

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202615 phút đọc0 lượt đọc
Rồng đất bằng: thế quành trái, quành phải và cách tìm huyệt

Đuôi rồng khoanh về một phía, đầu giấu ở giữa, móng vuốt chưa lộ: người xưa bảo uy chưa phát thì phúc lớn cũng chưa đến. Ở đồng bằng, mỗi khúc sông, mỗi gò đất đều có thể hóa thành rồng cuộn sóng, ba ba ngoảnh nhìn đàn con hay thánh nhân lên điện. Nhưng có một dáng đẹp như tranh mà tuyệt đối không được đặt huyệt?


Khí rồng chìm sâu dưới đất bằng

Nơi đồng bằng, khí rồng lặn sâu và ẩn mình trong đất. Bờ sông, bờ hồ tích tụ lại thành thân rồng nằm ngủ, quây tròn bốn phía thành một cục đất thoáng và rộng. Khí thế của mạch rồng nơi bình nguyên còn thâm hậu và mạnh mẽ hơn cả những dãy núi nhấp nhô. Nó đã trải qua nhiều lần tiêu ẩn và đổi thay, không biết đã nằm phục, tụ kết từ nơi xa mấy ngàn dặm mới tới được đây.

Sa ở đồng bằng cũng muôn dạng: có dạng chầu bái, có dạng ứng hợp, có dạng như bình phong che chắn, có dạng đan xen liên tục. Dòng nước cũng từ xa vòng vèo mà đến. Ở đồng bằng, một ngọn sa thanh tú có thể vượt hơn cả đỉnh núi cao mấy dặm, một khúc sông có thể xuyên qua hang núi mấy đoạn. Quan sát kỹ sẽ thấy hình thế dồn nén, nhấp nhô, hòa hợp như nhịp của âm nhạc, và hiểu rằng tạo hóa vốn có quy củ đâu ra đấy.

Chưa nắm vững phép điểm huyệt thì không được tùy tiện chọn. Xem rồng và sa ở đồng bằng phải thông hiểu vạn vật và bản tính tự nhiên của chúng, lại phải có tâm trí linh hoạt để thấu cái ảo diệu của trời đất. Hiểu hình rồng và huyệt, biết thu nạp dòng nước và núi, thưởng thức sự huyền diệu của phúc, lộc, thiện, đức, mới thành điều đáng tin; đó không chỉ là chuyện tay nghề giỏi.

Mười hai thế rồng quành sang bên phải

Đuôi rồng khoanh về một phía, đầu giấu ở giữa, và mỗi dáng ấy được người xưa đặt cho một cái tên sống động.

Rồng quành sang phải: đuôi rồng khoanh tròn về mé phải, đầu ẩn ở giữa, móng vuốt và chân không lộ ra, uy phong của rồng chưa phát. Họ Tần từng nói thần uy chưa phát thì cũng chưa phát được phúc lớn quý lớn, vì long thần không hiển lộ nên không sinh ra diệu tinh.

Rồng cuộn sóng: rồng vàng cuộn sóng thì bốn phía có mưa. Rồng phát huy thần uy, dựng bờm lên thì ân huệ được ban cho muôn dân. Họ Tôn nói chúng sinh được hưởng ân trạch tức là phát phúc lớn, vì long thần phát uy phong, dựng bờm mà sinh diệu tinh.

Rồng giơ móng vuốt: hoàng long hùng tráng giơ móng vuốt thì nổi phong vân. Nếu đầu và hai góc rồng nhô cao thì có sấm chớp, mưa lớn.

Chim yến bay vào hồ: chim yến vào hồ, vươn cổ, giương cánh là đúng chỗ thích hợp nhất, tất thành bậc lãnh tụ của vạn người. Có dáng khác, chim yến vào hồ mà hình quá thẳng thì thường sinh người thông minh nhưng không được vào triều làm quan vì dáng không đẹp.

Rồng khát uống nước: rồng khát cúi uống nước, đuôi cuộn lại tự vệ, tất có mây mưa, thu được nhiều tiền bạc, châu ngọc. Rồng lớn giữ châu quý: rồng cuộn mình tự nhiên, bỗng nghe lệnh gọi trên trời, phóng thẳng lên mây tung hoành.

Rồng con rời bụng mẹ: nước uốn quanh theo hầu, ngọc sáng và bướm đẹp vây quanh. Đây là huyệt đẹp hiếm thấy trong thiên hạ. Rồng con về thăm mẹ: mẹ con quấn quýt, huyệt này sinh con trung hiếu tiết nghĩa, phúc lộc song toàn, gia đình đoàn viên hạnh phúc.

Linh xà cướp mồi: hình thái thanh tú, khí thế hùng mạnh, huyệt như thế sẽ có lâu đài cung điện, làm quan quý hiển. Bầy thiên nga ra khỏi ruộng: bầy thiên nga cùng bơi trong nước ruộng sâu, con cháu hưởng nhiều tài lộc. Cua bò ngang khỏi ruộng: chủ về hạng phú hào lắm tiền nhiều của nhưng khí thô, hoành hành ngang ngược nơi thôn quê.

Mười hai dạng địa mạo trên đều thuộc cục bao bọc bên phải. Còn nhiều biến dạng khác, nhưng đại loại tương đồng, đều là mạch rồng quành sang phải lại có dòng nước mà thành huyệt.

Mười tám thế rồng quành sang bên trái

Rồng giơ móng vuốt phát diệu: đầu vươn cao, thần uy đã phát, sấm vang chớp giật, cuồng phong nổi lên, vinh hoa cực lớn. Phượng hoàng dang cánh: tung cánh bay vút lên mây, tiêu dao sung sướng. Cá thu uốn khúc: dòng sông cuộn sóng chảy bằng bằng, cá thu uốn lượn vẫy vùng, huyệt này phát giàu có vô cùng.

Rồng dựng bờm: huyệt giống rồng lớn sắp bay lên không trung, đem lại vinh hoa hưng vượng. Rồng lên mây thì mưa tưới nhuần mặt đất, hạnh phúc dồn dập kéo đến. Thần tiên nằm nghiêng: huyệt như bậc thần tiên nằm yên ổn, khí sinh vượng ẩn ở đan điền, thu nạp tinh hoa trời đất, phúc lộc song toàn, uy danh hiển hách, làm chủ thiên hạ.

Phi long trình diễn móng vuốt: rồng lớn vẫy vùng, uy phong lẫm liệt, dân được mưa thuận gió hòa, chủ nhân là bậc anh hùng hảo kiệt lưu danh ngàn đời. Hoàng long cướp châu ngọc: rồng vàng đoạt ngọc quý, thần khí uy phong hiện hết nơi móng vuốt sắc nhọn, vô số ngọc quý bày la liệt, huyệt này đem lại cho chủ nhân vô số lợi lộc, may mắn.

Ba ba nhìn đàn con: huyệt như con ba ba lớn thần kỳ ngoảnh đầu nhìn đàn con, chủ nhân sẽ đông con cháu, gia tộc vui vầy. Nếu trước huyệt lại có hồ nước lớn thì phú quý hiển hách. Ba ba thăm con: đầu và chân ba ba đều hoạt bát sống động thì bên mắt con ba ba có một huyệt quý hiếm, khiến chủ nhân nổi danh và hưởng vinh hoa.

Thánh nhân lên điện, rết xuống núi, rồng ra khỏi động

Ở những thế này, người xưa so đất với người: kẻ uy nghi lên điện, kẻ ngồi xếp bằng, kẻ cầm quân.

Thánh nhân lên điện: địa hình như bậc thánh nghiêm trang bước lên cung điện, đông đảo đại thần dưới điện chắp tay nghênh đón; chủ nhân sẽ được gần gũi bậc đế vương chí tôn, hưởng phúc lộc vinh hoa.

Rết xuống núi: địa hình như con rết lớn bò xuống núi; chủ nhân làm quan văn quan võ trong triều đến chức tam công, trở thành trọng thần hiển hách.

Rồng ra khỏi động: địa hình như rồng lớn lao ra khỏi cửa động; con cháu liên tiếp có tên trên bảng vàng, nổi danh khoa cử, hưởng vinh hoa phú quý lâu dài.

Tiên nhân ngồi xếp bằng: địa hình như vị tiên uy nghi đoan trang ngồi xếp chân tròn; chủ nhân được kính nể như trạng nguyên, được hoàng đế ban thưởng, quyền lực và phúc lộc lớn lao. Hai rồng đùa nhau: dân chúng nhận ân đức, chủ nhân an nhàn mạnh khỏe.

Rồng vàng cuộn sóng: mạch rồng vùng vẫy trong sóng lớn dưới sông. Huyệt loại này mấy năm đầu chưa cát lợi lắm, nhưng về sau ắt sinh đại quan đến bậc tam công, lục khanh. Họ Tôn giải thích rằng mấy năm đầu chưa tốt vì nước sông chảy xiết; nếu nước chảy đến quanh gò cao ở cửa nước thì sắp phát phúc, nước từ phía sau chảy mạnh tới theo thế nghịch nên vận mệnh mỗi ngày một tốt hơn.

Tướng quân ngồi trong doanh trướng: địa hình như vị tướng ngồi uy nghiêm trong trướng, có thảm tròn, có cây trượng dựng trong doanh; chủ nhân võ nghệ siêu quần, anh dũng vô song.

Rồng khát uống nước suối và đôi cá vờn nước

Rồng khát uống nước suối: nếu huyệt có dáng rồng khát uống nước suối, dòng nước xanh trong từng lớp chảy tới, chủ nhân sẽ làm quan nắm việc triều chính. Họ Tôn nói rằng mặc áo tía ra vào triều đình dĩ nhiên có liên quan tới dòng nước trong xanh chảy tới, nhưng còn cần có những ngọn núi nhọn như ngòi bút dàn hàng ngang gần đó; núi và nước cùng trợ lực thì chức cao quyền trọng là lẽ tất nhiên.

Đôi cá vờn nước: địa hình như hai con cá chép đùa giỡn trong nước, phía trước có lầu đài vuông vức, nơi đó sinh mỹ nhân tuyệt sắc nhưng dâm đãng, gây nên họa. Họ Tôn nói dâm tà phóng đãng mà gây họa là vì dáng như hai con cá đùa trong hồ; nhưng nếu là hai mạch rồng thực thụ tạo thành dáng song ngư, lại có lầu đài đẹp đẽ, thì nơi ấy ắt có trọng thần quyền quý, uy danh hiển hách, đâu chỉ có mỹ nhân tuyệt sắc mà thôi.

Dáng cuối cùng không thể điểm huyệt. Bốn thế đứng ngay trước nó đều là huyệt thực. Các hình thế kể trên đều là cách chọn huyệt khi đứng quay lưng về hướng nước. Dáng cao thấp bên trong huyệt rất khó nhận ra, nên phải quan sát kỹ, không được vội vàng.

Cao hơn một tấc là núi, thấp hơn một tấc là nước. Chỗ mạch rồng nhập thủ nhất định có nước mới tốt nhất. Đó là phép cố định không thay đổi.

Rồng đất bằng cũng có sống lưng, chỉ khác tính tình

Núi cao giấu sống lưng sâu kín, đồng bằng thì lộ sống lưng ra bằng dòng nước, và bắc nam mỗi nơi một tính.

Mạch rồng ở vùng đất bằng rộng lớn cũng có đốt có tiết mở đóng đúng độ, sống lưng liền suốt từ đầu đến cuối, chẳng khác gì mạch rồng vùng núi cao. Cũng có mạch phân ra rồi hợp lại ở hai bên, uốn theo hình dòng nước. Nó chỉ khác mạch rồng vùng núi cao đôi chút về tính tình, sắc thái: rồng núi cao giấu sống lưng thật sâu, bản tính thuộc dương nên khó quan sát. Vì thế cách kết ở mỗi vùng mỗi khác, không thể gượng ép.

Đất Thẩm, Biện, Tề, Lỗ là đồng bằng phía bắc, đất Tô, Tùng, Gia là đồng bằng phía nam, tính tình nam bắc không giống nhau. Đồng bằng phương bắc thì núi thắng nước, nên từ mặt bên mà tiếp khí, từ mặt trước mà tiếp nước. Đồng bằng phương nam thì nước thắng núi, nên từ mặt bên mà tiếp nước, từ mặt trước mà tiếp khí. Khí là gốc, là thể, nên người sinh ở phương bắc thể phách tráng kiện. Nước là dụng, nên người sinh ở phương nam đầy đặn, phúc hậu. Đồng bằng nam bắc đều có chỗ dài chỗ ngắn. Mạch rồng nghiêng về thể thì tìm trong nước: chỗ nào thấp hơn xung quanh một tấc là nước. Mạch rồng nghiêng về dụng thì tìm trong núi: chỗ nào cao hơn xung quanh một tấc là núi.

Cách nhận huyệt nơi đất bằng

Huyệt ở đất bằng là khó nhận nhất. Muốn biết thì trước hết phải xem huyệt ở vùng núi cao, biết nhận huyệt vùng núi rồi tự nhiên biết nhận huyệt vùng đồng bằng. Nói chung, năm sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ở núi cao thì đứng thẳng, ở đồng bằng thì nằm ngang. Chuyện giao nhau, phân tán, kết tụ, mở trướng, thuận thế, nghịch thế, đón và tiễn cũng đại loại như nhau. Cho nên người xưa chỉ vẽ hình mạch rồng vùng núi cao, và có thể dùng những hình ấy để xem thế rồng đất bằng.

Cách tìm huyệt là quan sát kỹ chỗ hơi lồi lên, chỗ hơi lõm xuống, rồi xem hai bên có vết nước chảy hơi trũng xuống không, hai bên chỗ nước chảy có thế kẹp lại không. Đủ các điều kiện ấy là đã có một huyệt tiếp được khí. Nếu thấy nơi hai dòng nước giao hội hoặc một dòng uốn lượn vòng quanh, thấp hơn ruộng cao chừng một thước, thế nằm ngang hợp với ngũ tinh thì đã có một huyệt tiếp được nước. Đồng bằng phương bắc mất huyệt vẫn có thể dựa vào tầng đất dày và cứng, đồng bằng phương nam mất mạch rồng vẫn có thể dựa vào chỗ nước giao hội tụ lại.

Khi điểm huyệt, phải leo lên chỗ mạch rồng nhập thủ. Đứng ở đó mà xem thế đến và đi của mạch, phương vị của nó, minh đường tụ về phía nào, hợp với vì sao nào, kết thành huyệt dáng ra sao; nhất là xem đỉnh đầu mạch nhô hay lõm, mặt rộng hay hẹp, tay chân có thu lại hay không. Đó mới là phép xem mạch điểm huyệt đúng nghĩa. Còn phải xem mạch nào là sinh mạch, mạch nào là tử mạch, mạch nào là hộ sa, mạch nào là chính mạch.

Âm dương của mạch và sáu cách cứu chỗ khuyết

Mạch rồng cũng chia Âm Dương. Mạch lộ rõ sống lưng là âm mạch, không rõ sống lưng là dương mạch. Đỉnh núi cao là âm, đồng bằng thấp là dương. Chỗ nhô lên, phân đốt, nhú mầm, dáng cây đào, cây lê, cây dương xỉ, cái khiên là huyệt âm. Dáng cắm xuống, cúi mặt, mím môi, khóe miệng, dáng lõm hẹp, trải đệm, hình tổ yến, hình sóng là huyệt dương. Cách dùng là dương đến âm nhận, âm nhận dương làm, trong âm có dương, Âm Dương hài hòa.

Mạch to thô, bẹt dẹt, tản mác thì chỗ khuyết ở khí mạch phân tán, cách cứu là lấp đầy đoạn cong của nó. Mạch rộng lớn, thô cứng, mạnh mẽ thì chỗ khuyết ở khí mạch cao và gấp, cách cứu là nhanh chóng tránh sát khí của nó. Mạch to thô, trải dài, thấp và chậm thì chỗ khuyết ở khí mạch chậm chạp, cách cứu là dựa sát vào thế cao gấp của nó. Mạch ngắn, nhỏ, co rút, mềm yếu thì chỗ khuyết ở khí mạch nhỏ yếu, cách cứu là mượn khí thế thịnh vượng của nó. Mạch tản loạn, lệch lạc thì chỗ khuyết là không có vết tích, cách cứu là chọn lấy một mạch kỳ dị trong đó. Mạch uể oải, lười nhác, vô lực thì chỗ khuyết là không tụ kết, cách cứu là đem trồng nó ngay giữa tổng mạch.

Rồng ở đất bằng, điều cần nhất là đào địa huyệt, hai bên có hộ vệ như cái mâu cái thuẫn. Rồng ở ruộng thấp, điều cần nhất là khai thông cửa ra để lấy khí thuận. Mạch rồng trên dưới đều nhọn, bé, không ngay ngắn là do đi qua chỗ ẩm thấp mà khuyết khí rồng. Huyệt nhỏ hẹp, đầu não của mạch quá nhỏ là do đi qua nhiều thủy mạch. Mạch đột ngột nhô cao, cứng thô là do âm khí đi qua chỗ hung sát. Mấy loại này đều hư giả về hình thể, không có khả năng kết huyệt.

Nước râu tôm, cánh ve, nước cá vàng và nước mắt cua

Ở đồng bằng không có núi để nhìn, nên người ta nhìn vào những hình dáng nhỏ của nước: râu tôm, mang cá, mắt cua.

Dù vùng núi cao hay đồng bằng, rồng và huyệt đều lấy nước râu tôm làm bằng chứng. Nước râu tôm là dòng nước đã cạn, chia ra ở phía sau huyệt và tụ lại ở phía trước, giống râu con tôm. Hai sợi râu, một dài một ngắn, đều khoanh quanh đầu tôm. Khi tôm di chuyển, râu vươn thẳng ra; khi đứng yên, râu khoanh lại. Khi có thức ăn, sợi râu dài vươn ra cuộn lấy rồi đưa cho sợi râu ngắn đưa vào miệng. Vì vậy, nếu huyệt có dáng đầu con tôm, hai bên trái phải hơi lộ vết tích, một đoạn nước nhỏ phía trên huyệt chia ra rồi đến tiểu minh đường thì hợp lại như hai chiếc râu, thì gọi là nước râu tôm. Huyệt ở đồng bằng hoàn toàn nương vào nước râu tôm mà nhận ra.

Bên cạnh nước râu tôm nhất định có hai ngọn sa nhỏ bao quanh, gọi là cánh ve, vì cánh ve tuy mỏng vẫn che kín thân. Bài phú Tuyết Tâm có câu nói mạch rồng dáng chữ Tam, chữ Nghĩa, chìa ra hai cánh ve kẹp lấy nước râu tôm, chính là nói dáng này.

Nước cá vàng cũng gần giống vậy. Các loài cá uống nước thì nước vào miệng ra mang, riêng nước cá vàng thì nước vào từ hai bên mang rồi ra ở miệng. Cho nên khi khí mạch ngắn nhỏ, huyệt nhô ra giống mép cá vàng.

Còn có nước mắt cua. Mắt cua khác mắt các loài vật khác ở chỗ xoay tròn được. Cua lại bò ngang, bò sang trái thì mắt trái mở to, sáng rực. Vì thế huyệt kết trong hầm hố, ở giữa hơi lộ ra phần miệng tròn như cái yếm, cái mai cua thì gọi là nước mắt cua. Nói chung, nước có ba dáng: chầu về, tụ lại và uốn vòng quanh.

Nước lớn và nước nhỏ quanh huyệt

Dòng nước quá lớn, quá mạnh mà núi sa không xứng với huyệt thì ắt ẩn chứa tai họa. Nước chảy yếu thì phải sát hai bên huyệt, nước chảy mạnh thì phải uốn lượn ở nơi thoáng rộng bên ngoài. Không nên chọn huyệt ở gần nước lớn, vì sau khi đặt huyệt, con cháu sẽ bị tuyệt diệt. Nơi những dòng nước nhỏ đan vào nhau thường có vết tích kỳ diệu, đặt huyệt ở đó thì con cháu có thể làm đến bậc tam công quý hiển.

Lại có thế phía trước hình bán nguyệt, phía sau như trăng khuyết, hai bên như cánh cung, thì huyệt nằm sát dòng nước. Cổ thư còn nói rồng ở đồng bằng ẩn trong ruộng như đầu và chân con rùa; có nước bao quanh thì đó là rồng thực thụ. Loại rồng ấy không rời dòng nước, mà dòng nước cũng không rời huyệt.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia