Bài tổng quan
Đại Học: tu thân làm gốc, nên nhà rồi mới trị nước
Muốn trị được nước, người xưa dặn phải nên nhà trước; muốn nên nhà, phải sửa mình trước. Tám chữ ấy treo ở đầu một bộ kinh nhỏ suốt hàng nghìn năm, từ lớp học của trẻ đến phòng thi của sĩ tử. Còn ba điều lớn mà cổ nhân gọi là đạo của người học lớn thì…
Mục lục · 8 phần
- 01Môn học lớn của bậc đại nhân
- 02Sửa mình trước, vì mọi con đường đều bắt đầu từ đó
- 03Nhà yên thì nước yên
- 04Một người đứng đầu, cả nước nghiêng theo
- 05Nhân, ái, thành, hiếu, nghĩa làm hạt nhân của sự dạy đạo đức
- 06Ba điều lớn và tám bước đi
- 07Vì sao một bài học nhỏ đứng vững lâu đến thế
- 08Năm câu ngắn còn được nhắc mãi
Môn học lớn của bậc đại nhân
Đại Học nghĩa là môn học rộng lớn, là sự học của bậc đại nhân, người sống đàng hoàng và có tầm nhìn lớn. Nó cũng là sự học hướng tới đại đồng, tức một thiên hạ thống nhất trong nếp sống ngay thẳng. Bao đời nay, Đại Học với nội dung hàm ý rộng lớn được xếp vào hàng đầu của Tứ Thư, đứng trước cả ngũ kinh. Tâm điểm của nó là tám chữ quen thuộc: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Ánh sáng của tám chữ ấy chiếu rọi suốt mấy nghìn năm, đến mức nó trở thành chuẩn tắc tu đức và trị nước của người Trung Hoa, với sức ảnh hưởng không sao đo hết.
Đại Học vốn là một thiên trong Lễ Ký. Đến đời Tống, Trình Di tách riêng thiên ấy ra, biên soạn lại, nhờ vậy tiếng tăm của nó lan rộng. Sang đời Nam Tống, đại nho Chu Hy gom bốn bộ Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Trung Dung thành Tứ Thư rồi chú giải từng bộ. Từ đó Đại Học được nâng lên thành kinh điển của Nho gia, trở thành một phần quan trọng trong nền tảng tư tưởng của cả một thời đại dài.
Giá trị của nó, theo lời Chu Hy, nằm ở chỗ đây là bài học lớn của người xưa, là phép dạy người. Ông còn dẫn lời Trình Tử rằng Đại Học là cuốn sách Khổng Tử để lại cho đời sau, là cửa vào của đạo đức cho người mới học. Nhìn cách cổ nhân sắp thứ tự môn học, đến nay chỉ còn thiên này giữ nguyên dáng cũ, còn Luận Ngữ và Mạnh Tử được xếp sau; người học cứ theo thứ tự ấy mà đi thì hầu như không sai.
Tương truyền Đại Học là do học trò của Khổng Tử là Tăng Tử viết, thành sách khoảng đời Tần Hán. Về sau nhiều đại học giả viết thêm để giảng giải: Vương Thủ Nhân đời Tống với Đại Học vấn, Chân Đức Tú nhà triết học Nam Tống với Đại Học diễn nghĩa, Khâu Tuấn đời Minh với Đại Học diễn nghĩa bổ. Riêng bộ Đại Học chương cú của Chu Hy còn được đưa vào Thập Tam Kinh Chú Sớ. Ngần ấy lớp giải thích chồng lên nhau cho thấy bộ sách nhỏ này đã được người ta đọc kỹ đến thế nào.
Điều cốt lõi nằm ở một quan niệm giản dị mà sâu: cá nhân không đứng riêng một mình. Tu dưỡng của một người gắn chặt với chính trị của xã hội, và gia đình gắn chặt với quốc gia. Vì thế Đại Học dùng làm tài liệu giảng dạy đạo đức của cả một thời đại, và cũng là sách mở đầu cho ai bước vào nghề luân lý.
Sửa mình trước, vì mọi con đường đều bắt đầu từ đó
Muốn ra tới thiên hạ rộng lớn, người xưa bảo phải đi qua một cánh cửa nhỏ nhất: chính lòng mình.
Đại Học đặt tu thân làm gốc. Cái gốc ấy là tiền đề để giải quyết mối quan hệ giữa một con người với xã hội xung quanh. Lời dạy rất rõ ràng:
Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân.
(Người muốn trị nước mình, trước hết phải nên nhà mình; người muốn nên nhà mình, trước hết phải sửa thân mình.)
Về chuẩn tắc sửa thân, bộ sách nêu hai điều: chính tâm và thận độc. Với chính tâm, chuỗi các bước được kể ra như một chiếc thang. Muốn lòng ngay thẳng thì ý phải thành; muốn ý thành thì sự hiểu biết phải đến nơi; muốn hiểu biết đến nơi thì phải xét kỹ lý lẽ của sự vật. Bước thứ nhất là cách vật, tức nhận rõ lẽ của vật. Bước thứ hai là trí tri, tức biết cho thật, dựa trên điều đã xét. Bước thứ ba là thành ý, tức đạt được ý thành để đối xử với sự việc. Chính nguyên văn cũng nói: ý thành thật nghĩa là không tự dối mình.
Có ba bậc đó rồi, thái độ mới uốn nắn được và lòng mới ngay. Nhưng còn phải gạt bỏ những thứ quấy nhiễu: trong người có điều cáu giận, sợ hãi, vui sướng, lo phiền thì chưa thể có chính tâm. Chỉ khi gạt được mọi riêng tư và tạp niệm gây nhiễu thì lòng mới ngay thật sự.
Còn thận độc là khả năng tự kiềm chế lúc chỉ có một mình, ở nơi chẳng ai biết, chẳng ai thấy. Người giữ được mình ở nơi vắng vẻ mới là người giữ được mình thật.
Nhà yên thì nước yên
Một mái nhà nhỏ chứa sẵn khuôn mẫu của cả một đất nước lớn.
Từ chỗ tu thân, Đại Học đi tiếp sang việc nên nhà. Muốn trị được nước thì trước hết phải trị được nhà mình. Lời dạy nói thẳng: nhà mình còn không dạy nổi thì không thể dạy được người khác. Có hòa thuận với người nhà mình thì sau mới dạy được người trong nước. Có phép tắc với cha mẹ, anh em thì sau mới đủ phép tắc với dân.
Từ đó mới có câu rất nổi tiếng:
Nhất gia nhân, nhất quốc hưng nhân; nhất gia nhượng, nhất quốc hưng nhượng.
(Một nhà có lòng nhân thì cả nước dấy lòng nhân; một nhà biết nhường nhịn thì cả nước dấy lòng nhường nhịn.)
Ý của câu là việc nhà yên hay loạn, tốt hay xấu, ảnh hưởng thẳng đến cả nước. Gia đình là nơi dạy con người làm quen với điều nhân, điều nhường, điều kính. Những thói quen ấy từ trong nhà lan ra phố xá, ra triều đình.
Một người đứng đầu, cả nước nghiêng theo
Khi người ngồi ghế cao đi sai một bước, cả đoàn người phía sau cũng lệch theo.
Đến tầng cao nhất là trị nước, bình thiên hạ. Đại Học coi đây là tôn chỉ tối cao của đạo đức luân lý Nho gia, đồng thời nhấn mạnh sự gắn bó giữa người đứng đầu với vận hưng vong của đất nước. Quân chủ là biểu tượng của một nước. Vua có hiếu thì trăm họ cũng biết hiếu; vua tôn trọng bề trên thì dân cũng biết tôn trọng bề trên; vua nhân ái thì nước thịnh; vua bạo tàn thì nước suy.
Nhất nhân tham lệ, nhất quốc tác loạn.
(Một người đứng đầu tham tàn thì cả nước rối loạn.)
Để chứng minh, Đại Học nêu hai cặp đối nhau. Vua Nghiêu, vua Thuấn lấy lòng nhân dẫn dắt thiên hạ nên dân theo về điều nhân, đất nước hưng thịnh. Vua Kiệt, vua Trụ lấy sự bạo tàn dẫn dắt thiên hạ nên dân cũng theo thói bạo, và nhà cầm quyền mất cả thiên hạ. Một lời nói làm hỏng việc, một người định đoạt cả đất nước: điều ấy cho thấy vai trò rất nặng của người ở trên.
Tất cả những mạch ấy đan vào một chuỗi: tu thân rồi mới nên nhà, nên nhà rồi mới trị được nước, trị được nước rồi mới bình được thiên hạ. Mỗi mắt xích không thể nhảy qua mắt xích trước.
Nhân, ái, thành, hiếu, nghĩa làm hạt nhân của sự dạy đạo đức
Mấy chữ quen thuộc ấy không đứng riêng lẻ mà nương vào nhau như các nan của một chiếc quạt.
Hạt nhân đạo đức trong Đại Học là sự tiếp nối và mở rộng những điều Khổng Tử đã nói trong Luận Ngữ, và có vai trò lớn trong việc dạy luân lý của Nho gia.
Trước hết là chữ nhân. Bộ sách nhấn mạnh lòng nhân ái và mối quan hệ giữa nhân với nghĩa, giữa nghĩa với lợi. Chỉ người có lòng nhân mới biết yêu mến người khác; nhất là người làm vua phải lấy đạo nhân làm đức cao nhất. Câu nói quen thuộc là: người làm vua thì dừng ở lòng nhân; người làm bề tôi thì dừng ở lòng kính. Nhân với nghĩa móc vào nhau: không có chuyện bề trên hiếu nhân mà bề dưới lại không hiếu nghĩa. Chu Hy giải thích rằng bề trên chuộng nhân để thương kẻ dưới, thì kẻ dưới chuộng nhân để trung nghĩa với bề trên. Nhân là tấm lòng của trên đối với dưới; nghĩa là sự trung của dưới đối với trên.
Về nghĩa và lợi, ý được giữ rất rõ: nghĩa nặng hơn lợi.
Quốc bất dĩ lợi vi lợi, dĩ nghĩa vi lợi dã.
(Một nước không lấy lợi làm lợi, mà lấy điều nghĩa làm lợi.)
Tiếp đến là chữ thành. Thành là gốc của chính tâm, nghĩa là thành ý, thành tâm, thành thực, và là tiền đề để nhận biết sự vật. Muốn lòng ngay thì ý phải thành; muốn ý thành thì sự hiểu biết phải đến nơi. Cho nên bộ sách nhấn rất mạnh: ý có thành thì tâm mới chính.
Rồi tới chữ hiếu. Hiếu, từ, hiền thân được coi là đức quan trọng của gia đình và xã hội: làm con phải trọn hiếu, làm cha phải nhân từ, giao thiệp với người trong nước phải giữ chữ tín. Người quân tử đối đãi tốt với người hiền, thân với người thân; kẻ tiểu nhân thì chỉ thích vui thú và hám lợi. Bộ sách còn khuyên: người hiếu thì thờ vua được, kẻ biết kính nhường thì hầu hạ được bề trên. Muốn bình thiên hạ trước hết phải dấy lên lòng hiếu, dấy lên lòng đễ:
Vua kính trọng người già, dân sẽ hưng hiếu; vua tôn trọng bề trên, dân sẽ hưng đễ.
Ba điều lớn và tám bước đi
Một con đường dài cần cả cái đích lẫn từng bậc thang để leo.
Đạo của người học lớn được gói trong ba điều: minh minh đức, thân dân, chí thiện. Ba điều này là ba cương lĩnh. Biện pháp để thực hiện là tám bước: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Ba cương lĩnh lại lấy chí thiện làm tôn chỉ cao nhất. Chí thiện là đạo đức đến mức cùng tột, mà thước đo cao nhất của chí thiện là nhân ái, nhân nghĩa. Hạt nhân của nó là nhân, nên Đại Học rất nhấn mạnh rằng từ cá nhân đến quốc gia đều phải dấy lòng nhân, như câu: một nhà nhân thì cả nước dấy nhân.
Ở chỗ then chốt thứ hai, thân dân được đặt vào vị trí quan trọng. Theo Trình Di và Chu Hy, chữ này được viết thành tân dân. Tân nghĩa là làm mới, đổi mới hằng ngày: bản thân mình sau khi đã làm sáng đức sáng của mình thì còn phải lan tỏa đến nhân dân, để mọi người trong thiên hạ đều coi trọng sự dạy đức. Chu Hy nói: tân là bỏ cái cũ đi, ý bảo người ấy tự thấy rõ đức sáng thì cũng phải đưa đến cho mọi người, để họ gột rửa những vết nhơ cũ.
Còn ở vị trí đầu tiên là minh minh đức. Người chưa thấy rõ đức sáng thì trước hết phải làm rõ nó; người đã thấy rõ thì phải giữ mình đừng để nhiễm điều xấu. Đức ở đây là đạo đức vốn có của con người, gồm nhân, nghĩa, lễ, trí. Phải dốc lòng làm cho trọn ba điều ấy, thành tâm với đạo đức, để người trong thiên hạ đều đạt đến mức chí đức, chí thiện. Đó chính là tôn chỉ của đạo Đại Học.
Vì sao một bài học nhỏ đứng vững lâu đến thế
Điều gì đi qua bao triều đại mà không cũ, hẳn đã chạm vào điều con người cần nhất.
Địa vị và ảnh hưởng của Đại Học có thể nhìn qua ba hướng.
Thứ nhất, nó là tác phẩm kinh điển của Nho gia. Được Trình Di đời Tống coi trọng, tách ra khỏi Lễ Ký thành thiên riêng, rồi được Chu Hy hợp cùng Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung thành Tứ Thư kèm bộ Tứ Thư Tập Chú, nó có ảnh hưởng to lớn trong xã hội thời đó. Tứ Thư được chính thức xác định là tài liệu học tập và là tiêu chuẩn xét đỗ đạt trong khoa cử qua các triều đại. Từ ấy, Đại Học giữ vị trí quan trọng trong Nho gia, góp sức định hình ý thức xã hội.
Trong đó, mạch tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ có ảnh hưởng sâu rộng nhất. Ý nghĩa của nó nằm ở ba điểm: nhấn mạnh quan hệ giữa việc sửa mình của cá nhân với đời sống chung của xã hội, vai trò tích cực đối với phẩm chất của dân tộc; coi trọng quan hệ giữa trị nhà và trị nước, góp phần giữ cho xã hội ổn định; nêu cao lý luận về nhân và thành.
Thứ hai, nó là tài liệu dạy luân lý. Cái nổi bật là xây dựng đạo làm người xoay quanh nhân, nghĩa, trung, hiếu, nhằm đi tới mức chí đức, chí thiện. Đặc điểm của lối nghĩ này là coi trọng vai trò của sự tu dưỡng cá nhân đối với quốc gia xã hội, và coi trọng quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ ba, nó có công kế thừa và phát triển tư tưởng của Khổng Tử. Tư tưởng ấy chủ yếu nằm trong Luận Ngữ, còn Đại Học đi tiếp ở ba điểm. Một là nhấn mạnh giá trị và tinh thần trách nhiệm của con người trong xã hội, hòa nhịp với quan niệm sống tích cực, dấn thân của Nho gia. Hai là nối mối quan hệ giữa luân lý cá nhân với chính trị xã hội, như câu một người tham tàn thì cả nước rối loạn, vừa làm rõ thêm đạo trị nước, vừa thúc đẩy việc tự tu dưỡng. Ba là nhấn mạnh quan hệ gia đình và xã hội: trị nhà được thì mới trị nước được, từ đó làm giàu thêm phần luân lý xã hội của Khổng Tử. Quan điểm ấy không chỉ có ích suốt tiến trình lịch sử Trung Hoa mà đến nay vẫn còn đáng học.
Năm câu ngắn còn được nhắc mãi
Mấy dòng ngắn được người đời trích đi trích lại có sức nặng riêng, vì mỗi câu là một bài học thu gọn.
Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia.
Đây là luận điểm nổi tiếng mang tính cương lĩnh của Đại Học. Nó cho thấy cá nhân, gia đình và xã hội dựa vào nhau mà tồn tại, đặc biệt nêu bật ý nghĩa to lớn của sự tu dưỡng bản thân đối với đời chung.
Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, giai dĩ tu thân vi bản.
(Từ thiên tử cho đến dân thường, ai nấy đều phải lấy việc sửa thân làm gốc.)
Điểm trung tâm của câu là việc tu đức của bậc thiên tử và của dân thường phải được coi trọng như nhau. Vào buổi đầu của thời phong kiến, tinh thần ấy đại diện cho lực lượng mới và mang ý nghĩa tích cực.
Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân.
(Nếu một ngày đổi mới, thì ngày ngày đổi mới, lại càng đổi mới thêm.)
Đây là danh ngôn mở đầu Đại Học, phản ánh quan điểm cho rằng đời sống nên tiến lên, càng ngày càng thêm tươi mới. Người đời sau chịu ảnh hưởng rất lớn từ câu này.
Nhất nhân tham lệ, nhất quốc tác loạn.
Câu này nêu ý nghĩa quan trọng của người đứng đầu đối với vận hưng vong của đất nước. Khi Nghiêu Thuấn lấy nhân dẫn thiên hạ, dân theo; khi Kiệt Trụ lấy bạo dẫn thiên hạ, dân cũng theo. Lời bàn đời sau cho rằng nhấn vào vai trò quần thần như thế có phần hơi quá, nhưng không thể xem nhẹ tính tích cực của quan điểm ấy vào buổi đầu của thời đại phong kiến.
Quốc bất dĩ lợi vi lợi, dĩ nghĩa vi lợi dã.
(Nước không lấy lợi làm lợi, mà lấy điều nghĩa làm lợi.)
Câu này phản ánh rõ quan điểm nghĩa lợi của Nho gia, là một đòn giáng mạnh vào những kẻ thấy lợi mà quên nghĩa, và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sau.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
