Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Phúc đừng hưởng cạn, thế đừng cậy hết, miệng đời hơn bia đá

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202611 phút đọc4 lượt đọc
Phúc đừng hưởng cạn, thế đừng cậy hết, miệng đời hơn bia đá

Có người được phúc mà ăn tiêu như thể phúc chẳng bao giờ cạn, có kẻ nắm quyền mà hống hách như thể quyền chẳng bao giờ hết. Cổ nhân thấy cảnh ấy nhiều đến mức phải dặn: việc đừng dùng hết sức, lời đừng nói hết ý, phúc đừng hưởng hết phần. Còn khi tiền, thế và sắc đã rút đi, thứ ở lại bên mình là…


Miệng thế gian là tấm bia không ai khắc

Một câu thơ trong Kích Nhưỡng Thi nói về người sống ngay thẳng, không gây điều trái ngang thì đời cũng chẳng có ai nghiến răng căm giận mình:

Bình sinh bất tác trứu mi sự. Thiên hạ ưng vô thiết xỉ nhân.

Nhĩ hại biệt nhân do tự khả. Biệt nhân hại nhĩ khước như hà?

Nộn thảo phạ sương, sương phạ nhật. Ác nhân tự hữu ác nhân ma.

Hữu danh khởi tại thuyên ngoan thạch. Lộ thượng hành nhân khẩu thắng bi.

Hữu xạ tự nhiên hương. Hà tất đương phong lập.

Cả đời không làm điều khiến người nhíu mày thì trong thiên hạ không ai nghiến răng với mình. Mình hại người thì cứ việc, nhưng khi người hại lại mình thì tính sao? Cỏ non sợ sương, sương sợ nắng, kẻ ác rồi sẽ gặp kẻ ác khác ngang tay. Danh tiếng đâu phải do đá khắc bia mà có, lời kể của người đi đường còn bền hơn bia đá. Có xạ hương thì tự khắc thơm, cần gì phải đứng ngược gió để khoe.

Mạnh Tử chỉ gói trọn vào một câu về chuyện người giúp, người bỏ:

Đắc đạo giả đa trợ. Thất đạo giả quả trợ.

Người giữ đạo thì được nhiều người giúp, người đánh mất đạo thì ít ai đỡ đần.

Phúc, thế và lời nói đều có đáy

Cái bình rót mãi cũng có lúc cạn, và cạn đúng vào lúc người ta quen tay nhất.

Trương Vô Tận nêu ra bốn điều không nên dùng cho hết rồi nói thêm hậu quả của từng điều:

Sự bất khả sử tận. Thế bất khả ỷ tận. Ngôn bất khả đạo tận. Phúc bất khả hưởng tận.

Hữu phúc mạc hưởng tận, phúc tận thân bần cùng. Hữu thế mạc ỷ tận, thế tận oan tương phùng.

Phúc hề thường tự tích, thế hề thường tự cung. Nhân sinh kiêu dữ xỉ, hữu thủy đa vô chung.

Việc không nên bắt làm cho hết sức, thế không nên cậy cho hết mức, lời không nên nói cho hết ý, phúc không nên hưởng cho hết phần. Có phúc đừng hưởng trọn, vì phúc cạn thì thân nghèo túng. Có thế đừng cậy trọn, vì thế mất thì oan gia tìm đến. Phúc thì cứ tích dần, thế thì cứ cung kính giữ mình. Người đời sống kiêu căng xa xỉ thường có đầu mà không có đuôi, khởi đầu khá giả mà kết thúc tàn tạ.

Thái Công dặn gọn hơn về chuyện giàu nghèo:

Bần bất khả khi, phú bất khả thị. Âm dương tương thôi, chu nhi phục thủy.

Nghèo thì chớ khinh, giàu thì chớ cậy, vì âm dương đẩy nhau xoay vần, hết một vòng lại trở về chỗ bắt đầu.

Lời khắc của Vương Tham Chính, gọi là Tứ Lưu, dạy cách chừa lại bốn thứ cho người khác:

Lưu hữu dư bất tận chi công dĩ hoàn tạo hóa.

Lưu hữu dư bất tận chi lộc dĩ hoàn triều đình.

Lưu hữu dư bất tận chi tài dĩ hoàn bách tính.

Lưu hữu dư bất tận chi phúc dĩ hoàn tử tôn.

Chừa công lao ra, đừng làm cho hết, để trả lại cho tạo hóa. Chừa bổng lộc ra, đừng nhận cho hết, để trả lại cho triều đình. Chừa của cải ra, đừng gom cho hết, để trả lại cho trăm họ. Chừa phúc đức ra, đừng hưởng cho hết, để lại cho con cháu.

Về chuyện chia sẻ và giữ kín, Cảnh Hạnh Lục có một đoạn cho thấy lợi và mưu khác nhau thế nào:

Lợi khả cộng nhi bất khả độc. Mưu khả độc nhi bất khả chúng. Độc lợi tắc bại. Chúng mưu tắc tiết.

Lợi thì nên chia cùng nhau chứ không được nuốt một mình, mưu thì nên giữ kín trong một người chứ không đem ra bàn giữa đám đông. Nuốt trọn món lợi thì hỏng việc, đem mưu ra bàn chung thì lộ.

Tình đời nương theo thế, theo tiền, theo sắc

Có những người đến gần bạn không phải vì bạn, mà vì thứ bạn đang cầm trong tay.

Hán Thư viết:

Thế giao giả cận, thế tận giả vong.

Tài giao giả mật, tài tận giả sơ.

Sắc giao giả thân, sắc suy nghĩa tuyệt.

Gần nhau vì thế lực thì thế hết là tình mất. Thân nhau vì tiền của thì tiền hết là tình thưa. Mặn nồng vì nhan sắc thì sắc tàn là nghĩa đứt.

Một đoạn khác nói về giá trị của lời hay và về chuyện cầu ở người hay ở mình:

Hoàng kim thiên lượng vị vi quý. Đắc nhân nhất ngữ thắng thiên kim.

Thiên kim dị đắc, hảo ngữ nan cầu. Cầu nhân bất như cầu kỷ. Năng thụ bất năng suy.

Tri sự thiểu thời, phiền não thiểu. Thức nhân đa xứ, thị phi đa.

Ngàn lượng vàng ròng chưa gọi là quý, được người cho một lời hay còn hơn ngàn vàng. Ngàn vàng dễ có, lời hay khó tìm. Nhờ người chẳng bằng tự nhờ mình. Khéo nhận chẳng bằng khéo từ. Biết ít việc thì phiền não ít, quen nhiều nơi thì thị phi nhiều.

Hai câu ngắn đi liền nhau về miệng và của:

Phi tài hại kỷ, ác ngữ thương nhân.

Nhân vị tài tử, điểu vị thực vong.

Của phi nghĩa hại mình, lời độc làm đau người. Người chết vì của, chim chết vì mồi.

Rồi hai bài thơ nhỏ về nỗi khốn của người nghèo, bài đầu trách nhầm, bài sau cay đắng:

Bất hiếu oán phụ mẫu. Phụ trái oán tài chủ.

Tham đa tước bất tế. Gia bần nguyện lân hữu.

Con bất hiếu thì trách cha mẹ, người mắc nợ thì oán chủ nợ. Ăn tham nhai không kịp nhuyễn, nhà túng lại mong hàng xóm giàu có.

Bần cư náo thị vô nhân vấn. Phú tại thâm sơn hữu khách tầm.

Thế tình khan lãnh noãn. Nhân diện trục cao đê.

Nhân nghĩa tận tòng bần xứ đoạn. Thế tình thiên khán hữu tiền gia.

Nghèo ở giữa chợ đông không ai hỏi đến, giàu ở trong núi sâu vẫn có khách tìm. Lòng người đời chỉ ngó xem mình ấm hay lạnh, mặt người đời cứ theo cao thấp mà đổi sắc. Nhân nghĩa đều dứt ở chỗ nghèo, tình đời chỉ nghiêng về nhà có tiền.

Mã hành bộ mạn chỉ nhân sấu,

Nhân bất phong lưu chỉ vị bần.

Ngựa đi chậm chạp chỉ vì gầy, người không phong lưu chỉ vì nghèo.

Rượu, quỷ thần và cửa chùa

Có thứ họa không từ ngoài đến, mà từ chính cái chén ta nâng lên.

Sách xưa kể chuyện nuôi heo, nấu rượu vốn để cúng tế, chứ không phải để sinh họa:

Hoạn thỉ vi tửu, phi dĩ họa dã, nhi ngục tụng ích phồn, tắc tửu chi lưu sinh họa dã.

Thị cố tiên vương nhân vi tửu lễ, nhất hiến chi lễ, tân chủ bách bái, chung nhật ẩm tửu nhi bất đắc túy yên.

Thử tiên vương chi sở dĩ tị tửu họa dã.

Nuôi heo nấu rượu không phải để gây họa, thế mà kiện tụng ngày càng nhiều, ấy là dòng rượu đã chảy ra họa. Vì vậy các vua đời trước định ra lễ uống rượu: một lần mời rượu, chủ khách vái nhau cả trăm vái, uống suốt ngày mà không thể say. Đó là cách bậc tiên vương tránh cái họa của rượu. Luận Ngữ thì nói gọn hơn nhiều:

Duy tửu vô lượng, bất cập loạn.

Rượu không định lượng, nhưng đừng uống đến loạn.

Khổng Tử bàn về chuyện quỷ thần và việc nghĩa trong một câu có ba mệnh đề:

Kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị trí hỹ. Phi kỳ quỷ nhi tế chi, xiểm dã. Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã.

Kính quỷ thần mà giữ khoảng cách thì gọi là trí. Cúng tế thứ quỷ không phải tổ tiên mình là nịnh bợ. Thấy việc nghĩa mà không làm là thiếu dũng.

Còn về thờ Phật, một đoạn trong sách phân biệt từng cách tu rồi chốt lại bằng việc làm:

Lễ Phật giả kính Phật chi đức. Niệm Phật giả cảm Phật thi ân. Khán kinh giả minh Phật chi lý.

Tọa thiền giả đăng Phật chi cảnh. Đắc ngộ giả chứng Phật chi đạo.

Khán kinh vị vi thiện. Tác phúc vị vi nguyện. Mạc nhược đương quyền thì, dữ nhân hành phương tiện.

Lạy Phật là kính đức của Phật, niệm Phật là nhớ ơn Phật, xem kinh là hiểu lý của Phật, ngồi thiền là bước lên cảnh giới của Phật, giác ngộ là chứng được đạo của Phật. Nhưng chỉ xem kinh chưa phải là thiện, mới làm phúc chưa phải là thỏa nguyện. Chi bằng lúc còn quyền hạn, làm điều phương tiện giúp người.

Một câu của Khổng Tử nhắc người học đạo đừng đo chí hướng bằng cái áo, bữa cơm:

Sĩ chí ư đạo nhi sỉ ác y ác thực giả, vị túc dữ nghị dã.

Kẻ sĩ đã để chí vào đạo mà còn thẹn vì áo xấu cơm thô thì chưa đáng cùng bàn chuyện đạo lý.

Công bằng, ganh ghét và kẻ nịnh

Một chữ lệch nơi lòng người có thể làm mờ cả một cửa nhà, một triều đình.

Tuân Tử nêu ba cặp nhân quả trong cách xử sự của người ta:

Công sinh minh, thiên sinh ám. Tác đức sinh thông, tác ngụy sinh tắc. Thành tín sinh thần, đản khoa sinh hoặc.

Công bằng sinh ra sáng suốt, thiên lệch sinh ra mờ tối. Làm điều đức thì thông suốt, làm điều giả dối thì bế tắc. Thành thật sinh ra thấu hiểu như thần, khoác lác phô trương sinh ra mê hoặc.

Kinh Thư chỉ ra hạng tiểu nhân qua hai hành vi:

Vũ mạn nhân hiền, phản đạo bại đức, tiểu nhân chi vị dã.

Khinh nhờn người hiền, làm trái đạo và hủy hoại đức, ấy là việc của hạng tiểu nhân.

Cũng sách Tuân Tử bàn về cái hại của lòng ganh ghét, từ chuyện kết bạn cho đến chuyện dùng người:

Sĩ hữu đố hữu, tắc hiền hữu bất thân. Quân hữu đố thần, tắc hiền thần bất chí.

Kẻ sĩ mà có người bạn hay ganh ghét thì bạn hiền chẳng đến gần. Vua mà có bề tôi hay ganh ghét thì bề tôi hiền chẳng tới. Thái Công tiếp lời bằng chuyện người nịnh:

Trị quốc bất dụng nịnh thần, trị gia bất dụng nịnh phụ. Sàm thần loạn quốc, sàm phụ loạn gia.

Trị nước không dùng nịnh thần, trị nhà không dùng người vợ hay nịnh. Tôi gièm pha làm loạn nước, vợ gièm pha làm loạn nhà.

Hán Thư kể một câu chuyện nhỏ, người làm lụng thì chẳng được thưởng, kẻ đến sau lại thành khách quý:

Khúc đột tỷ tân vô ân trạch.

Tiêu đầu lạn ngạch vi thượng khách.

Người khuyên bẻ ống khói cong và dời củi đi chỗ khác thì không được ơn nghĩa, còn người cháy đầu bỏng trán lúc dập lửa lại được mời vào ngồi chỗ thượng khách.

Giàu do trời, nên nhà do con, và việc kinh chú không cứu được oan kết

Của cải đến bằng cách gì cũng được, nhưng giữ được nhà hay không thì tùy người sẽ đứng tên trong đó.

Thiên bất sinh vô lộc chi nhân. Địa bất sinh vô căn chi thảo.

Đại phú do thiên, tiểu phú do cần. Đại phú tắc kiêu, đại bần tắc ưu. Ưu tắc vi đạo, kiêu tắc vi bạo.

Mạc đạo gia vị thành, thành gia tử vị sinh. Mạc đạo gia vị phá, phá gia tử vị đại.

Thành gia chi nhi tích phẩn như kim. Phá gia chi nhi dụng kim như phẩn.

Trời không sinh người nào không có lộc, đất không mọc cây cỏ nào không có rễ. Giàu lớn là do trời, giàu nhỏ là nhờ siêng năng. Giàu lớn thì sinh kiêu, nghèo lớn thì sinh lo. Lo quá thì hóa trộm cướp, kiêu quá thì hóa hung bạo. Đừng nói nhà chưa thành, vì đứa con làm nên nhà có thể chưa sinh ra. Đừng nói nhà chưa phá, vì đứa con phá nhà có thể chưa lớn. Con làm nên nhà thì gom phân như gom vàng, con phá nhà thì xài vàng như xài phân.

Hòa thượng Tế Điên có bài kệ răn đời: đọc kinh tụng chú nhiều đến đâu cũng không gỡ được oan kết nếu lòng còn gieo điều ác.

Khán tận Di Đà kinh, niệm triệt Đại bi chú.

Chủng qua hoàn đắc qua. Chủng đậu hoàn đắc đậu.

Kinh chú bản từ bi, oan kết như hà cứu?

Chiếu kiến bản lai tâm, tố giả hoàn tha thụ.

Đọc hết kinh Di Đà, tụng trọn Đại bi chú, nhưng trồng dưa vẫn được dưa, trồng đậu vẫn được đậu. Kinh chú vốn sinh ra từ lòng từ bi, nó không thể cứu được nỗi oan đã kết. Hãy soi lại bản tâm xưa nay của mình, vì nghiệp ai gây thì người ấy tự gánh.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện