Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tượng đất Đôn Hoàng: ba phần hình, bảy phần thần

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/20268 phút đọc4 lượt đọc
Tượng đất Đôn Hoàng: ba phần hình, bảy phần thần

Trong ánh sáng lờ mờ của hang đá giữa sa mạc, hàng nghìn đôi mắt bằng đất nhìn xuống người bước vào, đôi nào cũng như muốn nói một điều khác. Những bàn tay vô danh đã nặn, đã tô màu, đã gửi vào đó cả hơi thở của đời Đường. Nhưng đâu là bí quyết khiến một pho tượng đất trông sống động đến vậy...


Nơi tượng đất được giữ nguyên hơn một nghìn năm

Đôn Hoàng nằm tít phía Tây, xa khói lửa của vùng Trung Nguyên. Nhờ vậy, những người thợ nặn tượng ở đây có thể ngồi yên mà làm việc qua nhiều đời, và các tác phẩm của họ cũng ít bị chiến tranh tàn phá. Hơn ba nghìn pho tượng được tạo ra trong các hang, hơn một nghìn pho vẫn còn khá nguyên vẹn, trải từ thời Bắc Lương cho đến nhà Thanh. Nhìn vào đó có thể đọc lại cả một nghìn năm nghề nặn tượng của người Trung Hoa.

Ở nơi này, vẽ tranh, tạc tượng và dựng hang là một thể thống nhất, trong đó tượng đất sét tô màu giữ vai trò rất lớn. Nghề tạc tượng của Trung Hoa vốn đã có gốc từ lâu. Từ văn hóa Ngưỡng Thiều cách đây năm sáu nghìn năm đã có đồ gốm, ngọc, ngà tinh xảo, riêng gốm màu đã đạt tay nghề khá cao. Đến thời Ân Chu, đồ đồng đúc khắc đưa nghề lên một tầm mới, nổi tiếng trong ngoài nước. Tượng binh mã đời Tần là pho tượng cỡ lớn còn lại tốt nhất, cho thấy từ thuở ấy nghề đã chín. Còn tượng màu Đôn Hoàng gom cả ba mạch, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật cung đình và nghệ thuật tôn giáo, để đi tới đỉnh.

Mỗi thời có một khuôn mặt riêng. Gốm màu thời đồ đá mới mang vẻ đẹp hoang sơ, tôn thờ cái đẹp tự nhiên. Đồ đồng Tây Chu trang trọng vì phục vụ lễ cúng. Binh mã nhà Tần phô ra uy lực của một nền chuyên chế. Còn tượng Phật Đôn Hoàng gắn liền với Phật tính. Nhưng dưới những khuôn mặt khác nhau ấy vẫn có một điểm chung: màu sắc và đường nét, tạc khắc và hội họa, luôn quyện vào nhau. Đó là nét riêng của nghệ thuật tạo hình Trung Hoa.

Khi nét vẽ vào nhà với nét nặn

Một pho tượng đất, nếu thiếu màu, chỉ là hình khối; có màu, nó mới thở.

Điều nổi bật nhất của tượng Đôn Hoàng là sự hòa quyện giữa hội họa và điêu khắc. Truyền thống này không mới, người xưa từ lâu đã biết lấy màu tươi phủ lên đất sét để thêm sức hút. Đến Đôn Hoàng, hai nghề bổ trợ nhau trọn vẹn: màu sắc rực rỡ của bức vẽ gặp hình khối chân thực của pho tượng, và nghề tạc tượng đời Đường vì thế đạt độ tinh xảo cao. Tượng sinh động như thật, và nhất là phần màu đã phát huy được cái nhìn mỹ học theo lẽ cương nhu, âm dương của người Trung Hoa. Màu giúp tượng thêm chiều sâu, thêm vẻ thần bí, đến mức hình và thần như hợp làm một.

Cõi thiêng và đời thường chung một mái hang

Thành tựu lớn thứ hai là sự gặp nhau của cõi tôn giáo với đời sống thường nhật, cả Phật giáo lẫn Đạo giáo. Tượng màu Đôn Hoàng vừa nối tiếp lối tạc tượng của Đạo gia xưa, vừa mang đặc điểm Phật học, lại dám gắn với cuộc sống con người. Vì thế tác phẩm vừa có ý cảnh thần thoại, vừa không rời hiện thực.

Người thợ khi ấy mang cả cái tâm riêng của mình vào việc, tận dụng vẻ đẹp của y phục Trung Hoa để làm ra những nhân vật tôn giáo phong phú hình dáng. Phục sức đời Đường nối cái cũ, mở cái mới, và nó hiện rõ trên các pho tượng. Y phục tượng Phật trong hàng nghìn hang Đôn Hoàng không chỉ là áo cà sa kiểu Ấn Độ; có pho mặc áo rộng thời Tùy Đường, quần dài dệt bằng tơ bông. Vị Bồ Tát trang nghiêm hiện ra như một nàng tiên giữa trần gian, mang nét phiêu diêu ẩn dật, mà vẫn đầy hơi thở cuộc sống. Nghề nặn tượng đất và tạc đá nổi tiếng ở Mạch Tích Sơn cũng thành công theo lối đó.

Bởi vậy, ở Đôn Hoàng vừa có những tượng Phật hiền từ trang nghiêm, vừa có thế giới con người đủ mọi dáng vẻ. Ranh giới giữa đời sống siêu thực và đời sống thực bị xóa đi. Đó là dấu vết của việc Phật giáo được đời thường hóa, Trung Hoa hóa, và cũng là lý do giải thích vì sao đạo Phật vào Trung Nguyên lại bén rễ chặt đến vậy. Nhờ nét mặt người đời Đường, tượng Bồ Tát chạm được vào lòng người xem hơn, mở ra một lối nghệ thuật tôn giáo mới, nơi người và thần hợp lại.

Đạo thần tiên của Đạo gia cũng góp phần: nó làm giàu đề tài và khiến tượng có chiều sâu ý cảnh. Phật tử và Bồ Tát của nhà Phật đứng cạnh thần tiên của nhà Đạo, cùng với những cảnh tiên, làm tăng sức tưởng tượng và sức hút của tác phẩm. Lối tạc tượng gộp hai đạo như thế là một điển hình của nghệ thuật điêu khắc Trung Hoa.

Ba phần hình, bảy phần thần

Điều thứ ba là sự hợp nhất giữa hình tượng và thần khí. Người tạc tượng Đôn Hoàng ưu tiên truyền thần. Tượng là nghệ thuật lập thể nên dáng vẻ bên ngoài đã quan trọng, nhưng đòi hỏi cao hơn vẫn là phần thần, tức "ba phần hình, bảy phần thần".

Ba phần hình, bảy phần thần.

Sức hấp dẫn của tượng Đôn Hoàng nằm ở chỗ ý và dáng hòa nhau. Hàng nghìn pho Phật và Bồ Tát trong các hang đều hoàn thiện, và phần truyền thần rõ nhất là ở đôi mắt: có vô vàn ánh mắt, mỗi ánh mắt gửi một tình cảm riêng. Các tượng nhìn giống nhau mà không giống nhau, tạo ra từ nhiều đời thợ, đều có đôi mắt như biết nói và thần thái sống động. Từ tượng Phật lớn ở Đôn Hoàng cho tới tượng nhỏ ở Mạch Tích Sơn, pho nào cũng có cái thần kỳ diệu của riêng nó, và hàng trăm nghìn pho không pho nào giống pho nào, cho thấy tay nghề cao siêu của người thợ. Không chỉ có hình dáng của thần, các pho tượng còn có cả khí chất của thần, nên sự hợp nhất giữa hình và thần ở đây đạt tới mức rất cao trong lối khắc họa cổ điển.

Nghệ thuật cổ Trung Hoa bị chi phối bởi lễ giáo của Nho gia, nên tranh hay tượng đều thiên về tả y phục mà ít chú ý cơ thể người. Cũng nhờ vẻ đẹp của y phục cổ mà tạo hình có nhiều chất liệu. Dù vậy, tạc tượng Trung Hoa không dừng ở cái đẹp của áo quần mà chú trọng tả ý. Tượng Đôn Hoàng và Mạch Tích Sơn là bằng chứng. Bước vào hang đá, người xem như lạc vào cõi tiên: mượn hình để tả thần, hòa hình tượng với thần thái, đẹp ở dáng mà mạnh ở ý, xứng là mẫu mực truyền thần của nghệ thuật khắc họa cổ.

Ba bài học còn lại từ những pho tượng

Vì sao nghệ thuật Đôn Hoàng đạt được những thành tựu như vậy? Có ba lẽ.

Thứ nhất, tôn giáo là kho tiềm năng nghệ thuật lớn. Đôn Hoàng học được nhiều từ Phật giáo và Đạo giáo, nhờ đó đề tài phong phú hơn và sức hút cũng tăng. Nó cho thấy khi nghệ thuật đời thường gặp nghệ thuật tôn giáo, một thế giới mới mở ra, vừa thần vừa tục, vừa thực vừa vượt thực. Kết hợp nghệ thuật dân gian với nghệ thuật tôn giáo là con đường nghệ thuật cổ Trung Hoa từng đi, và lịch sử chứng minh nghệ thuật tôn giáo là kho báu, một động lực lớn của sự phát triển. Còn nghĩ rằng nghệ thuật tôn giáo chỉ là thần học, chẳng liên quan đến cuộc sống, thì là hiểu sai.

Thứ hai, đời sống thực là nguồn không cạn. Tranh hay tượng ở Đôn Hoàng đều thấm hơi thở của đời: nhân vật, cỏ cây, cảnh vật đều lấy từ thế giới thực. Ngay cả tượng Phật, Bồ Tát cũng không bị kinh sách trói chặt mà khoác lên y phục của cuộc sống thật. Chúng được đời thường hóa, Trung Hoa hóa, và nhờ vậy cuộc sống thực cũng được nghệ thuật hóa, thần hóa. Câu chuyện kinh Phật được người thợ thêm vào nhịp sống của xã hội, cả đời sống quan lại lẫn dân gian, để cái phàm nằm trong cái thần, cái thường nằm trong cái tiên. Gợi ý ở đây là: tạo tác nghệ thuật không thể chỉ ôm lấy đồ cổ, phải rót thêm huyết mạch mới thì mới giữ được sức sống.

Thứ ba, không đánh mất nét riêng của truyền thống. Đôn Hoàng vừa dùng nghệ thuật bên ngoài, vừa hợp nhất nghệ thuật Trung Nguyên với Tây Vực, vừa giao lưu với nước khác. Dù nghệ thuật phương Tây theo kinh Phật chảy vào Trung Hoa suốt dọc đường tơ lụa, cái riêng của truyền thống không mất mà còn được đổi mới. Ví như hội họa có cảm nhận mỹ học của âm dương, tạc tượng có cương nhu làm đẹp thêm thế lập thể. Tác phẩm giàu sức sống, có tình, có thần, tô thêm rực rỡ cho nghệ thuật truyền thống. Chỉ khi học kỹ thuật bên ngoài trên nền của cái riêng thì nghệ thuật mới đứng vững được.

Từ đó có thể rút ra một nguyên tắc: nghệ thuật nào muốn bền thì phải không ngừng đổi mới, không tiếp nhận cái mới từ bên ngoài sẽ yếu dần; nhưng khi tiếp thu cái mới lại phải tiếp tục phát triển cái gốc của mình, nếu không sẽ mất chính mình.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện