Bài tổng quan
Nguyễn Tịch bàn nhạc: giữ lễ nhạc và thuận theo tự nhiên
Một người tôn sùng Lão Trang lại hết lòng bênh vực lễ nhạc của Khổng Mạnh. Hai điều tưởng chọi nhau ấy gặp nhau ở đâu trong một bài luận về nhạc? Câu trả lời nằm ở lời cảnh báo về tiếng dâm và ở một chữ rất nhẹ...
Một người ưa Lão Trang mà bênh lễ nhạc Khổng Mạnh
Nguyễn Tịch (210–263) là nhà tư tưởng, nhà văn và nhà nhạc thời Ngụy, một trong Trúc lâm thất hiền nổi tiếng. Tư tưởng chung của ông thuộc huyền học Ngụy Tấn, tôn sùng Lão Trang. Thế nhưng khi bàn về nhạc, ông lại đề cao lễ nhạc của Khổng Tử và Mạnh Tử. Bài luận nổi tiếng của ông về nhạc, Nhạc luận, vừa tiếp thu, vừa vận dụng đạo Nho. Trong đó có hai mạch ý: một mạch về lễ nhạc giữ chính, một mạch về thuận theo đạo tự nhiên.
Hình pháp và giáo hóa một thể, lễ và nhạc một ngoài một trong
Cửa lễ khép lại thì cánh nhạc cũng lung lay; đến lúc ấy, tiếng dâm không còn gì cản.
Nguyễn Tịch tán thành việc đặt lễ nhạc ngang hàng với chính trị và pháp luật, như tư tưởng nhạc của Khổng Mạnh. Ông viết:
Hình, giáo nhất thể, lễ, nhạc ngoại nội dã... Lễ phế tắc nhạc vô sở lập.
Hình pháp với giáo hóa là một thể, lễ với nhạc là ngoài với trong. Lễ bỏ thì nhạc không còn chỗ đứng. Ông thấy lễ nhạc gắn chặt với sự yên định của việc nước và xã hội:
Lễ định kỳ tượng, nhạc bình kỳ tâm, lễ trị kỳ ngoại, nhạc hóa kỳ nội, lễ nhạc chính nhi thiên hạ bình.
Lễ định hình dáng, nhạc làm tâm bình; lễ trị bên ngoài, nhạc hóa bên trong; lễ nhạc chính thì thiên hạ bình. Vì vậy ông xúc động trước lời than của Khổng Tử rằng lễ hỏng thì nhạc sụp. Theo ông, không có chính nhạc thì tiếng dâm tục nảy nở, và xã hội sẽ loạn. Ông lấy bài học Hán Ai đế bỏ nhạc phủ, không coi trọng chính lễ, không sửa phép nhạc, nên tiếng dâm nổi lên:
Phu chính nhạc giả, sở dĩ bình dâm thanh dã, cố nhạc phế tắc dâm thanh tác. Hán Ai đế bất hảo âm, bãi nhạc phủ, nhi bất tri thế chính lễ, nhạc pháp bất tu, dâm thanh toại khởi.
Chính nhạc để dẹp tiếng dâm; nhạc bỏ thì tiếng dâm nổi. Theo ông, nguyên nhân của nhạc dâm loạn là không có chính lễ, không có giới hạn: "dâm loạn mà thêm nặng là vì lễ chưa dựng". Ông còn kể những bài học xưa để đả kích mạnh cái hại của tiếng dâm loạn với xã hội. Vua Cảnh vương thích chuông lớn, Bình công thích khúc của Sư Diên; các quan công khanh than thở, dân thường cùng nhau nhảy nhót, chính nhạc bị bỏ, nhạc Trịnh nổi lên. Đến thời Nhã, Tụng không còn ai giảng, người ta chỉ tìm những khúc yểu điệu. Người ta tạo ra bài hát Khuynh thành, khiến Hán Vũ đế sa vào mê đắm. Nước Ung có điệu Tùng bách, làm vua Mẫn thêm buồn thương. Thứ nhạc tà mỹ và xa xỉ như thế khiến người nghe nảy lòng xấu, làm hỏng luân lý. Cho nên người quân tử ghét những bài như Đại lăng và điệu múa Bắc lý.
Tới đây thấy rõ tư tưởng nhạc của Nguyễn Tịch chịu ảnh hưởng sâu của Nho học, kiên quyết bảo vệ lễ nhạc và nhấn mạnh ảnh hưởng của nhạc với xã hội. Ông dẫn lời Khổng Tử rằng muốn yên người trên, trị dân, không gì tốt bằng lễ; muốn đổi gió đổi tục, không gì tốt bằng nhạc.
Theo đạo tự nhiên thì nhạc mới hòa
Mặt khác, ông chịu ảnh hưởng của Lão Trang, nên nói rằng nhạc là cái thể của trời đất, cái tính của vạn vật:
Phu nhạc giả, thiên địa chi thể, vạn vật chi tính dã. Hợp kỳ thể, đắc kỳ tính, tắc hòa; ly kỳ thể, thất kỳ tính, tắc quai.
Hợp với cái thể của nó, được cái tính của nó, thì hòa; lìa cái thể, mất cái tính, thì trái. Nghĩa là nhạc phải hòa với trời đất tự nhiên. Nhạc hòa với trời đất thì an hòa, không thì chẳng thuận. Về quan hệ giữa nhạc và tự nhiên, ông viết rằng thánh nhân làm nhạc là để thuận cái thể của trời đất và thành cái tính của vạn vật:
Cố định thiên địa bát phương chi âm, dĩ nghênh âm dương bát phong chi thanh; quân hoàng chung hòa chi luật, khai quần sinh vạn vật chi tình khí.
Nhờ đó, định tiếng của tám phương trời đất để đón tiếng của âm dương tám hướng gió; chỉnh luật hoàng chung cho cân, mở tình khí của muôn loài. Nhạc phải hòa vào trời đất, vào âm thanh của "âm dương bát phong", đạt tới hài hòa về luật, năm âm hòa xướng. Ông nhấn mạnh: "âm dương điều đạt, hòa khí cân bằng", gốc là ở chữ "đạo tự nhiên" mà nhạc cần coi trọng. Có thể nói chữ tự nhiên ấy làm điểm gặp của hai mạch Nho và Lão trong một người.
Tóm lại, qua Nhạc luận của Nguyễn Tịch, ta thấy truyền thống nhạc Trung Hoa vừa giữ lễ nhạc, vừa hướng tới đạo tự nhiên của trời đất: nhạc không chỉ là chuyện tai nghe, mà là sự hòa hợp giữa người với xã hội và với vũ trụ.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
