Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Biết đủ thì vui, giữ tấc lòng như điều khiển sáu ngựa

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202613 phút đọc3 lượt đọc
Biết đủ thì vui, giữ tấc lòng như điều khiển sáu ngựa

Một người nhai được rễ rau thì việc gì cũng làm nên, một người ngồi trong buồng kín mà vẫn giữ mình như đang đứng giữa ngã tư đường. Hai hình ảnh ấy khác nhau, nhưng cùng chỉ về một chỗ nhỏ trong ngực mà cổ nhân gọi là tấc đất vuông để dành cho con cháu…


An phận là yên vui với phận mình

An phận là yên vui với phận mình, không vọng tưởng những điều ngoài phận mà làm bậy. Trong cái gọi là an bần lạc đạo ấy ẩn một nghị lực và công phu hàm dưỡng rất cao. Quân tử bền chí giữa cảnh nghèo, sống thích ứng với mọi cảnh ngộ, chuẩn bị nền tảng để đón lấy vận hội mới, như Nguyễn Công Trứ từng tự bộc lộ:

Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất,

Hiêu hiêu nhiên điếu vị canh Sằn.

Xe bồ luân dù chưa gặp Thang Văn,

Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.

Một trong những cách để an phận là biết đủ, và biết đủ thì thường vui. Cảnh Hạnh Lục viết:

Tri túc thường lạc, đa tham tắc ưu.

Tri túc giả, bần tiện diệc lạc. Bất tri túc giả, phú quý diệc ưu.

Tri túc thường túc, chung thân bất nhục. Tri chỉ thường chỉ, chung thân bất sỉ.

Tỷ thượng bất túc, tỷ hạ hữu dư.

Biết đủ thì vui mãi, tham nhiều thì lo mãi. Người biết đủ thì nghèo hèn cũng vui, kẻ không biết đủ thì giàu sang cũng lo. Biết đủ thì thường đủ, cả đời không nhục, biết dừng thì thường dừng, cả đời không thẹn. So với người trên thì thấy thiếu, so với người dưới thì thấy thừa.

Thọ yểu có mệnh, giàu sang phải đúng đường

Khi chấp nhận phận mình, người ta cũng bắt đầu chọn đúng chỗ để đặt sức lực.

Thọ yểu mạc phi mệnh. Cùng thông các hữu thời.

Mê đồ không dịch dịch. An phận thị tiện nghi.

Sống lâu hay chết non đều do mệnh, khốn khó hay hanh thông đều có lúc. Đi đường mê mà lăn lóc cũng uổng công, an phận mới là thoải mái. Câu này lấy từ Kích Nhưỡng Thi, tức thơ đập vồ, theo truyền thuyết thời vua Nghiêu, thiên hạ thái bình, dân an lạc, có ông già cầm vồ đập đất hát rằng ngày lên thì làm việc, tối về thì nghỉ, đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn, lệnh vua đến ta can gì. Trình Y Xuyên, tức Trình Di, có tập thơ Y Xuyên Kích Nhưỡng Thi, có lẽ những câu được trích ở đây đều là thơ của ông, làm theo tinh thần bài ca ấy.

Khổng Tử dạy cách phân biệt giàu sang đáng nhận và không đáng nhận:

Phú dữ quý thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử dã.

Bần dữ tiện thị nhân chi sở ố dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi bất khứ dã.

Bất nghĩa nhi phú thả quý ư ngã như phù vân.

Giàu và sang là điều người ta ham, nhưng không có được bằng đạo thì không nhận. Nghèo và hèn là điều người ta ghét, nhưng thoát ra không bằng đạo thì không bỏ. Bất nghĩa mà giàu sang thì với ta chỉ như mây nổi. Tuân Tử, tên Huống, tự là Khanh, người nước Triệu thời Chiến Quốc, sinh sau Mạnh Tử khoảng năm mươi năm, là triết gia cự phách của Nho giáo, mở ra phái pháp trị mà học trò là Hàn Phi Tử và Lý Tư theo sau, để lại sách Tuân Tử ba mươi hai thiên, nói cách phân vinh nhục như sau:

Tự tri giả bất oán nhân. Tri mệnh giả bất oán thiên.

Oán nhân giả cùng, oán thiên giả vô chí.

Tiên nghĩa nhi hậu lợi giả vinh, tiên lợi nhi hậu nghĩa giả nhục.

Vinh giả thường thông, nhục giả thường cùng. Thông giả thường chế nhân, cùng giả thường chế ư nhân. Thị vinh nhục chi đại phận dã.

Người biết mình thì không oán người, người biết mệnh thì không oán trời. Oán người thì cùng quẫn, oán trời thì nhụt chí. Đặt nghĩa trước, lợi sau thì vinh, đặt lợi trước, nghĩa sau thì nhục. Vinh thường thông, nhục thường cùng. Người thông thường điều khiển được người, người cùng thường bị người điều khiển, đó là phần lớn ý nghĩa của vinh và nhục. Lão Tử có một câu nối ý:

Tri kỳ vinh, thủ kỳ nhục.

Biết thế nào là vinh thì giữ cách làm sao cho khỏi nhục. Khổng Tử bàn cách sống khi cùng:

Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hỹ.

Quân tử khi cùng quẫn thì bền chí, tiểu nhân khi cùng quẫn thì làm càn. Uông Tín Dân thì nêu một thử thách nhỏ mà thật:

Nhân thường giảo đắc thái căn tắc bách sự khả tố.

Người nhai được rễ rau thì trăm việc làm được, tức là người chịu được kham khổ thì việc gì cũng làm nên. Trung Dung, một thiên trong Lễ Ký, đến đời Tống mới được in riêng, ghi lại phần uyên áo của Khổng giáo, là những lời tâm pháp của Khổng Tử do học trò truyền lại và cháu ngài là Tử Tư chép thành sách, một trong Tứ Thư, nói về cách ứng với hoàn cảnh:

Tố phú quý hành hồ phú quý. Tố bần tiện hành hồ bần tiện.

Tố di địch hành hồ di địch. Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn.

Vốn ở cảnh giàu sang thì cư xử theo cảnh giàu sang, vốn ở cảnh nghèo hèn thì cư xử theo cảnh nghèo hèn, vốn ở nơi man di thì cư xử theo nơi man di, vốn gặp hoạn nạn thì cư xử theo lúc hoạn nạn. Thời xưa chữ di địch chỉ các dân thiểu số quanh Trung Quốc, cũng dùng cho những người kém văn minh, quê mùa. Cuối cùng một câu của Khổng Tử về giữ đúng phần việc:

Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính.

Không ở đúng chức vị của mình thì không bàn chính sự của chức vị ấy.

Giữ tâm là giữ lương tâm của mình

An phận có vững hay không là nhờ cái tâm biết đứng yên, vì thế người xưa dạy cách giữ tâm trước hết.

Tồn tâm là giữ lòng mình, đừng để phóng đãng, có vậy mới sửa sang được đức hạnh và tu tập được học nghiệp. Nho gia rất trọng việc tồn tâm dưỡng tính. Tâm là lương tâm của người, có lương tâm thì biết điều nhân điều nghĩa, lẽ phải lẽ trái, có lương tâm tất có lương tri, lương năng, hiểu biết mọi sự vật rất tự nhiên và nhanh chóng. Tâm là chủ tể trong con người, mọi chuyện hay dở đều ở tâm. Vì vậy công phu học tập của người quân tử là ở tồn tâm, tức giữ cho được bản tâm hư linh của mình, quân tử khác người chỉ ở chỗ giữ được tâm ấy. Quân tử lấy nhân mà giữ tâm, lấy lễ mà giữ tâm, giữ được rồi thì phải nuôi cho ngày càng sáng suốt, mà muốn nuôi tâm thì không gì bằng bớt ham muốn. Nguyễn Du cũng có câu trong Truyện Kiều:

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.

Cảnh Hạnh Lục có một đôi câu về cách giữ tâm khi ở một mình:

Tọa mật thất như thông cù,

Ngự thốn tâm như lục mã.

Ngồi trong căn phòng kín như đang ở ngã tư đường lớn, giữ tấc lòng như điều khiển cỗ xe sáu ngựa. Câu đầu là phép nội tỉnh của Nho giáo, người quân tử dè dặt từng hành vi ngay cả khi ở một mình. Trình Tử nói thêm:

Tâm yếu tại xoang tử lý.

Tâm cần phải ở trong lồng ngực, ý là phải giữ tâm thật kỹ, đừng buông thả. Du Định Phu thì kể chuyện khách đến hỏi nên sống thế nào:

Hữu khách lai tương phỏng. Như hà thị trị sinh?

Đãn tồn phương thốn địa. Lưu dữ tử tôn canh.

Có khách đến thăm hỏi sống đời thế nào, đáp rằng chỉ giữ lại một tấc đất vuông để dành cho con cháu cày cấy. Tấc đất ấy chính là cái tâm. Kích Nhưỡng Thi lại có bốn câu về chuyện giàu sang:

Phú quý như tương trí lực cầu,

Trọng Ni niên thiếu hợp phong hầu.

Thế nhân bất giải thanh thiên ý,

Không sử thân tâm bán dạ sầu.

Giàu sang nếu cứ đem trí lực mà cầu thì Trọng Ni, tức Khổng Tử, thuở trẻ đã được phong hầu. Người đời không hiểu ý trời xanh, nên uổng công khiến thân tâm sầu muộn giữa đêm. Phạm Trung Tuyên thì dặn người ta xét mình bằng thước đo dành cho người:

Nhân tuy chí ngu, trách nhân tắc minh. Tuy hữu thông minh thứ kỷ tắc hôn.

Đãn thường dĩ trách nhân chi tâm trách kỷ. Thứ kỷ chi tâm thứ nhân, bất hoạn bất đáo thánh hiền địa vị dã.

Dĩ tâm tỷ tâm, tiện thị Phật tâm. Dĩ kỷ chi tâm đạc nhân chi tâm.

Người dù rất ngu, trách người thì sáng suốt, dù thông minh mà tha thứ cho mình thì tối. Chỉ cần dùng lòng trách người để trách mình, dùng lòng tha mình để tha người, thì khỏi lo không đến được địa vị thánh hiền. Đem lòng mình so với lòng người là tâm Phật, lấy lòng mình mà đo lòng người. Tố Thư nói về học và nết:

Bác học, thiết vấn sở dĩ quảng trí.

Cao ngôn, vi hạnh sở dĩ tu thân.

Học rộng, hỏi kỹ để mở rộng trí, lời cao, nết tinh tế để sửa thân. Khổng Tử thêm bốn chữ gọn nhất cho người học đạo:

Đốc tín, hiếu học, thủ tử thiện đạo.

Dốc lòng tin, ham học, giữ chặt đạo lành cho đến chết. Tử Cống, tên Đoan Mộc Tử, người thời Xuân Thu, học trò Khổng Tử, giỏi tài ăn nói, một trong bảy mươi hai người hiền, nêu hai điều cho người nghèo và người giàu:

Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu.

Nghèo mà không nịnh bợ, giàu mà không kiêu. Khổng Tử lại nâng bốn cảnh lên một bậc nữa:

Thông minh duệ trí thủ chi dĩ ngu. Công bị thiên hạ thủ chi dĩ nhượng.

Dũng lực chấn thế thủ chi dĩ khiếp. Phú hữu tứ hải thủ chi dĩ khiêm.

Thông minh sâu sắc thì giữ mình bằng vẻ ngu, công trùm thiên hạ thì giữ mình bằng sự nhường, sức mạnh chấn đời thì giữ mình bằng vẻ sợ, giàu có bốn biển thì giữ mình bằng sự khiêm. Và ông chốt ý bằng câu so sánh:

Bần nhi vô oán nan, phú nhi vô kiêu dị.

Nghèo mà không oán thì khó, giàu mà không kiêu thì dễ.

Chỗ đắc ý, phải biết quay đầu

Giữ được tâm khi nghèo đã khó, giữ được tâm khi hanh thông còn khó hơn.

Trần Hy Di, tức Trần Đoàn, hiệu là Hy Di, người thời Tống vào thế kỷ thứ mười, rất tinh thâm Dịch lý và nổi tiếng về khoa thuật số, thuộc Đạo gia, để lại nhiều câu cảnh tỉnh. Câu đầu nói về sự tiết độ khi gặp việc thuận:

Khoái ý sự bất khả đa đắc. Tiện nghi xứ bất khả tái vãng. Đắc ý xứ nghi tảo hồi đầu.

Việc vừa ý không nên có nhiều vì sợ sinh kiêu, chỗ tiện lợi không nên đến lần nữa vì sợ sinh lười, chỗ đắc ý thì nên sớm quay đầu, tức biết dừng lại. Ông nói về thông minh và âm chất:

Thông minh bản thị âm chất trợ,

Âm chất dẫn nhập thông minh lộ.

Bất hành âm chất sử thông minh,

Thông minh phản bị thông minh ngộ.

Thông minh vốn do âm chất giúp, âm chất dẫn vào đường thông minh. Không làm điều âm chất mà chỉ dùng thông minh thì thông minh ngược lại làm lầm mình. Âm chất theo quan niệm xưa là bẩm sinh do quỷ thần và âm phúc của tổ tiên định đoạt. Ông viết thêm về phong thủy:

Phong thủy nhân gian bất khả vô,

Toàn bằng âm chất lưỡng tương phù.

Phú quý nhược tòng phong thủy đắc,

Tái sinh Quách Phác dã nan đồ.

Phong thủy trong cõi đời thì không thể không có, nhưng tất cả là nhờ âm chất cùng giúp nhau. Giàu sang nếu có được nhờ phong thủy, thì Quách Phác, nhà phong thủy nổi tiếng thời xưa, có sống lại cũng khó mà mưu tính nổi. Ông còn đem tướng ra so với tâm:

Cổ nhân hình tự thú, tâm hữu đại thánh đức.

Kim nhân biểu tự nhân, thú tâm an khả trắc!

Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sinh.

Hữu tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt.

Tam điểm như tinh tượng, hoành câu tự nguyệt tà.

Phi mao tùng thử đắc, Tố phật dã do tha.

Người xưa hình dáng như thú mà lòng có đức đại thánh, người nay bề ngoài như người mà lòng thú ai lường được. Có tâm lành mà tướng kém thì tướng sinh theo tâm, có tướng tốt mà tâm xấu thì tướng mất theo tâm. Ba chấm như sao, nét móc ngang như vành trăng nghiêng, đó là hình chữ tâm. Con người thoát khỏi đời sống thú vật là nhờ cái tâm ấy, và thành Phật cũng do nó.

Đại Học nói về chữ thành của ý:

Sở vị thành kỳ ý giả vô tự khi dã, như ố ác xú, như hiếu hảo sắc.

Cái gọi là làm cho ý chân thành là không tự dối mình, như ghét mùi hôi thối, như thích vẻ đẹp.

Ông còn có một bài dài tự nhận mình vụng:

Nhân giai đạo ngã chuyết. Ngã diệc tự đạo chuyết.

Hữu nhĩ thường như lung. Hữu khẩu bất hội thuyết.

Nhĩ tự sính hào cường. Hoành thụ hữu nhất diệt.

Khiết điệt giao quân tư. Phản bất như ngã chuyết.

Bách xảo bách thành. Bất như nhất chuyết.

Vị lai hưu chỉ vọng. Quá khứ vật tư lương.

Thường tương hữu nhật, tư vô nhật. Mạc đãi vô thời, tư hữu thời.

Hữu tiền thường thường ký vô tiền nhật. An lạc tu phòng hoạn nạn thời.

Người ta bảo ta vụng, ta cũng tự bảo ta vụng. Có tai mà thường như điếc, có miệng mà không biết nói. Ngươi quen thói anh chị, ngang dọc rồi cũng có lúc vấp ngã, vấp rồi mới chịu nghĩ thì hóa ra không bằng ta vụng. Trăm khéo trăm nên không bằng một vụng. Tương lai thì thôi mong ngóng, quá khứ thì đừng toan tính. Lúc có hãy nghĩ đến lúc không, đừng đợi lúc không mới nghĩ đến lúc có. Có tiền thì nhớ ngày không tiền, yên vui thì nên phòng lúc hoạn nạn.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện