Bài tổng quan
Hiếu đứng đầu trăm nết và năm điều bất hiếu ở đời
Tăng Sâm bị cha quật bắp cày vào lưng đến ngất đi, tỉnh dậy lại bị chính người thầy là Khổng Tử đuổi ra khỏi lớp, bảo rằng ông bất hiếu. Vì sao chịu đòn của cha mà vẫn bị trách? Câu trả lời nằm ở chuyện vua Thuấn…
Chữ hiếu phân biệt người với muôn loài
Hiếu là bổn phận của người con phải giữ lòng thảo mà phụng dưỡng song thân, một nết trọng yếu trong nhân luân, được coi là kinh của trời và nghĩa của đất, thứ làm cho người khác hẳn các loài sinh vật. Nho giáo có hẳn một bộ kinh riêng bàn về đạo này, gọi là Hiếu Kinh. Lý Văn Phức, mở đầu truyện thơ Nhị Thập Tứ Hiếu, viết mấy câu mà ai nhớ cũng thấy ấm:
Người tai mắt đứng trong trời đất,
Ai là không bác mẹ sinh thành.
Gương treo đất nghĩa trời kinh,
Ở sao cho xứng chút tình làm con.
Nho giáo kể câu chuyện này để cho thấy hiếu không chỉ là chịu đựng. Tăng Sâm, học trò Khổng Tử, nổi tiếng hiếu thảo. Một hôm đi cày ruộng với cha, ông lỡ làm cha nổi giận, ông cụ vớ bắp cày quật vào lưng khiến Sâm ngất đi, hồi lâu mới tỉnh. Hôm sau Sâm vào học, Khổng Tử lại sai học trò đuổi ông ra, bảo là bất hiếu. Sâm ngạc nhiên xin thầy chỉ lỗi. Khổng Tử đáp rằng ngày xưa, khi Cổ Tẩu, cha vua Thuấn, nổi giận đánh bằng roi vọt thì Thuấn chịu cho đánh, còn khi đánh bằng dao gậy thì Thuấn chạy cho khuất. Nay Sâm cứ chiều cho cha thỏa cơn giận nhất thời, lỡ có mệnh hệ gì thì cha mang tiếng bất tư, như thế không phải bất hiếu thì là gì? Sâm xin nhận lỗi và học thêm bài học ấy. Có lẽ vì vậy mà về sau Tăng Sâm hiểu đạo hiếu sâu sắc, cùng môn đệ soạn bộ Hiếu Kinh, và để lại những lời thiết tha:
Hiếu là nết đứng đầu trăm nết.
Hiếu thấu trời cao, gió hòa mưa thuận.
Hiếu thấu đến đất, muôn vật sinh sôi.
Hiếu thấu đến người, phúc dồn dập tới.
Ơn sinh thành và những việc nhỏ của người con
Ơn nặng như thế thì người con phải làm gì, từ lúc đi xa đến lúc nhớ tuổi cha mẹ?
Kinh Thi, bộ sách chép ca dao Trung Quốc từ thời thượng cổ đến đời vua Bình Vương nhà Chu, và được Nho giáo xếp vào Ngũ Kinh để rèn tính tình người học, nhờ đó người đọc biết được tính tình, phong tục và chính trị của các đời và các nước chư hầu, có một đoạn nói thẳng nỗi lòng người con:
Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã.
Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao.
Dục báo thâm ân, hạo thiên võng cực.
Cha sinh ra ta, mẹ nuôi nấng ta. Thương thay cha mẹ, sinh ta vất vả nhọc nhằn. Muốn báo đền ơn sâu thì ơn ấy như trời xanh, không có cùng tận.
Mạnh Tử bàn về hiếu từ lúc bắt đầu đến lúc trọn vẹn:
Thân thể phát phu thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thủy dã.
Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dã.
Hiếu tử chi sự thân: cư tức trí kỳ kính. Dưỡng tắc trí kỳ lạc. Bệnh tắc trí kỳ ưu. Tang tắc trí kỳ ai. Tế tắc trí kỳ nghiêm.
Cố bất ái kỳ thân nhi ái tha nhân giả vị chi bội đức. Bất kính kỳ thân nhi kính tha nhân giả vị chi bội lễ.
Quân tử chi sự thân hiếu, cố trung khả di ư quân. Sự huynh đễ, cố thuận khả di ư trưởng. Cư gia lý, cố trị khả di ư quan. Thị dĩ hạnh thành ư nội, nhi danh lập ư hậu thế hỹ.
Thân thể tóc da nhận từ cha mẹ, không dám làm hư tổn, đó là khởi đầu của hiếu. Dựng thân, thực hành đạo, nêu danh đời sau để vẻ vang cha mẹ, đó là chỗ tột cùng của hiếu. Hành đạo ở đây là gánh vác trách nhiệm của mình giữa đời và thi hành đạo lý, dương danh là nêu cao tên tuổi để làm rạng rỡ cha mẹ. Câu đầu phải hiểu theo nghĩa rộng và sâu, chứ không phải theo lối thiển cận của những hủ nho không dám cắt tóc, cắt móng tay móng chân vì cho là hủy thương. Người con hiếu phụng sự cha mẹ thì lúc ở chung hết lòng kính, lúc nuôi hết lòng làm cho vui, lúc đau ốm hết lòng lo, lúc tang hết lòng xót, lúc tế hết lòng trang nghiêm. Không yêu cha mẹ mà đi yêu người khác thì gọi là trái đức, không kính cha mẹ mà đi kính người khác thì gọi là trái lễ. Bậc quân tử thờ cha mẹ hiếu nên có thể đem lòng trung ấy mà thờ vua, thờ anh thuận nên có thể đem lòng thuận ấy mà tôn người trên, giữ nhà ngăn nắp nên có thể đem tài ấy mà làm quan trị dân, do đó đức hạnh hình thành ở trong mà danh tiếng được nêu ở đời sau.
Khúc Lễ dặn người làm con những việc cụ thể hằng ngày:
Phàm vi nhân tử giả, xuất tất cốc phản tất diện. Sở du tất hữu thường, sở tập tất hữu nghiệp, hằng ngôn bất xưng lão.
Người làm con thì đi phải thưa, về phải trình, đến chơi thì phải đến chỗ quen thuộc, học thì phải có bài có nghề, và lúc nói chuyện đừng xưng mình là già. Ở đây chữ thường chỉ nơi chốn quen thuộc, chốn đi về đã biết, còn chữ nghiệp là bài vở hoặc nghề nghiệp của người đang học. Khổng Tử thêm hai điều nữa, một về đi xa, một về tuổi cha mẹ:
Phụ mẫu tại, bất khả viễn du, du tất hữu phương.
Phụ mẫu chi niên bất khả bất tri. Nhất tắc dĩ hỉ, nhất tắc dĩ cụ.
Cha mẹ còn sống thì không nên đi chơi xa, nếu đi thì phải cho cha mẹ biết nơi chốn, tức là có phương hướng rõ ràng để cha mẹ biết con đang ở đâu. Tuổi cha mẹ không thể không nhớ, một là để mừng, hai là để sợ.
Sau khi cha mẹ khuất và những lời can ngăn
Có những điều chỉ đến lúc cha mẹ không còn nữa, người con mới thấy hết nặng nhẹ.
Về đạo giữ chí của cha, Khổng Tử nói:
Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hạnh.
Tam niên vô cải ư phụ chi đạo khả vị hiếu hỹ.
Cha còn sống thì xem chí hướng của con, cha mất rồi thì xem đức độ của con. Ba năm không đổi đạo của cha thì có thể gọi là hiếu. Trình Y Xuyên thì nhắc một điều tế nhị về ngày sinh nhật:
Nhân vô phụ mẫu sinh nhật đáng bội bi thống, cánh an nhẫn trí tửu trương nhạc dĩ vi lạc? Nhược cụ khánh giả khả hỹ.
Người không còn cha mẹ thì ngày sinh nhật đáng ra phải đau thương gấp bội, sao nỡ bày tiệc rượu tấu nhạc làm vui? Nếu cha mẹ còn đủ thì mới được, vì cụ khánh là cảnh còn đủ cả cha lẫn mẹ để chung vui, ngày sinh khi ấy mới thành lễ mừng.
Thái Công, tức Lữ Thương, dòng dõi Viêm Đế, họ Khương, phụ tá Chu Vũ Vương diệt nhà Ân, được phong làm tế hầu và đời sau tôn là Thái Công Vọng, có một nhận xét như trông giọt nước:
Hiếu ư thân, tử diệc hiếu chi. Thân kỳ bất hiếu, tử hà hiếu yên?
Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử. Ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi.
Bất tín đãn khan thiềm đầu thủy. Điểm điểm trích trích bất sai di.
Mình hiếu với cha mẹ thì con mình cũng hiếu với mình. Mình đã bất hiếu thì con hiếu sao được? Hiếu thuận sinh con hiếu thuận, ngỗ ngược sinh con ngỗ ngược. Chẳng tin thì cứ xem nước nhỏ từ đầu mái hiên, giọt này nối giọt kia chẳng lệch dời.
La Tiên Sinh nhắc một lẽ đơn giản mà phải làm cha mẹ mới thấm:
Thiên hạ vô bất thị để phụ mẫu. Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân.
Trong thiên hạ không ai là không từng được cha mẹ nuôi, và chỉ khi nuôi con mới biết ơn cha mẹ. Ý câu đầu là ai trong đời rồi cũng làm cha làm mẹ, nên ai cũng sẽ có lúc hiểu điều đó. Còn hai câu nói về chuyện nối dõi và chuyện tuổi già:
Mạnh Tử viết: Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại.
Dưỡng nhi đãi lão, tích cốc phòng cơ.
Mạnh Tử nói tội bất hiếu có ba, trong đó không có con nối dõi là lớn nhất, vì vô hậu nghĩa là cái gốc của dòng họ không có người tiếp. Nuôi con là để cậy lúc tuổi già, cũng như chứa thóc để phòng khi đói.
Tăng Tử, tức Tăng Sâm, con của Tăng Điểm, hai cha con cùng thờ Khổng Tử làm thầy, tính chân thật, rất hiếu, truyền được đạo học của Khổng Tử, lấy hiếu làm gốc cho mọi đức tính khác, là một trong bảy mươi hai người hiền và cùng môn đệ soạn Luận Ngữ lẫn Hiếu Kinh, dặn người con ba cách ứng xử:
Phụ mẫu ái chi, hỉ nhi bất vong.
Phụ mẫu ố chi, lao nhi bất oán.
Phụ mẫu hữu quá, gián nhi bất nghịch.
Cha mẹ yêu thì vui mà không quên ơn, cha mẹ ghét thì nhọc mà không oán, cha mẹ có lỗi thì can mà không trái.
Năm điều bất hiếu và tội lớn nhất trong ba nghìn tội
Hiếu là gốc của trăm nết, thế thì thiếu hiếu sẽ tệ đến mức nào?
Mạnh Tử kể năm loại bất hiếu mà đời thường gọi:
Thế tục sở vị bất hiếu giả ngũ:
Nọa kỳ tứ chi bất cố phụ mẫu chi dưỡng, nhất bất hiếu dã.
Bác dịch hiếu ẩm tửu bất cố phụ mẫu chi dưỡng, nhị bất hiếu dã.
Hiếu hóa tài, tư thê tử bất cố phụ mẫu chi dưỡng, tam bất hiếu dã.
Tòng nhĩ mục chi dục dĩ vi phụ mẫu lục, tứ bất hiếu dã.
Hiếu dũng đấu ngận dĩ nguy phụ mẫu, ngũ bất hiếu dã.
Điều thứ nhất là lười nhác tay chân, không đoái đến việc nuôi cha mẹ. Điều thứ hai là cờ bạc rượu chè, không đoái đến việc nuôi cha mẹ. Điều thứ ba là ham của cải, chỉ lo vợ con riêng mà không đoái đến việc nuôi cha mẹ. Điều thứ tư là chiều theo ham muốn của tai mắt mà làm nhục cha mẹ. Điều thứ năm là hung hăng ham tranh hơn thua mà làm nguy đến cha mẹ, tức thói hung hăng hay kiện tụng, đánh nhau với người.
Khổng Tử đặt tội ấy lên trên mọi tội:
Ngũ hình chi thuộc tam thiên, nhi tội mạc đại ư bất hiếu.
Tội thuộc năm loại hình phạt có đến ba nghìn, nhưng không tội nào lớn hơn tội bất hiếu. Ngũ hình thời xưa là năm loại hình dùng trừng trị người có tội: xăm chữ vào mặt, cắt mũi, chặt chân, thiến, và xử tử. Thời khác thì dùng năm hình roi, gậy, khổ sai, đày biệt xứ và chết.
Lời của Tăng Tử quay lại như một tiếng chuông cuối:
Hiếu giả bách hạnh chi tiên. Hiếu chí ư thiên tắc phong vũ thuận thời. Hiếu chí ư địa tắc vạn vật hóa thành. Hiếu chí ư nhân tắc chúng phúc hàm trăn.
Hiếu là nết đứng đầu trăm nết. Hiếu thấu đến trời thì mưa gió thuận thời, hiếu thấu đến đất thì muôn vật sinh sôi, hiếu thấu đến người thì mọi phúc đều đến.
Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.
