Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Nghĩa trước lợi, lễ ngừa họa, một lời làm hưng hay mất nước

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202614 phút đọc4 lượt đọc
Nghĩa trước lợi, lễ ngừa họa, một lời làm hưng hay mất nước

Có một thanh gươm quý được treo lên cành cây bên mộ, chỉ vì chủ nhân của nó đã hứa trong lòng. Cổ nhân xem nghĩa, lễ, tín như những bánh xe của cùng một cỗ xe, hỏng một cái là xe không đi nổi, rồi dặn thêm rằng một lời thốt ra có thể làm nước hưng hay mất. Còn người gặp lúc hoạn nạn mà biết nói một lời cho khéo sẽ…


Nghĩa đứng trước lợi, và ba mối ruột thịt trong một nhà

Nhà Nho xếp chữ nghĩa vào năm đức thường, ngang hàng nhân, lễ, trí, tín. Nghĩa không chỉ là lẽ phải mà còn là đạo lý làm người. Nói đến nghĩa thì không thể không nhắc đến lợi, vì lợi nuôi dục vọng và phá nghĩa rất mạnh. Khổng Tử dạy rằng thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa, và thấy việc nghĩa mà không làm là thiếu dũng. Tuân Tử đặt điều ấy thành lẽ trị loạn: nghĩa thắng lợi là thời trị, lợi thắng nghĩa là thời loạn, trước nghĩa sau lợi thì vinh, trước lợi sau nghĩa thì nhục.

Nhan thị gia huấn nêu thứ tự hình thành của những người thân trong một nhà:

Hữu nhân dân nhi hậu hữu phu phụ. Hữu phu phụ nhi hậu hữu phụ tử. Hữu phụ tử nhi hậu hữu huynh đệ.

Nhất gia chi thân, hữu tam giả nhi dĩ hỹ. Tự tư dĩ vãng, chí ư cửu tộc, giai bản ư tam thân yên. Cố ư nhân luân vi trọng giả dã, bất khả bất đốc.

Có con người rồi mới có vợ chồng, có vợ chồng rồi mới có cha con, có cha con rồi mới có anh em. Quan hệ ruột thịt trong một nhà chỉ gồm ba mối ấy mà thôi. Từ đó mở rộng ra đến chín đời họ hàng thảy đều bắt nguồn từ ba mối thân. Vì vậy nhân luân rất quan trọng, không thể không hết lòng giữ gìn.

Tào đại gia bàn về cái gốc của đạo vợ chồng:

Phu phụ giả nghĩa vi thân, dĩ ân vi hợp. Nhược hành sở thát, nghĩa dục hà vi? Lị mạt sất sá, ân dục hà thi? Ân nghĩa ký tuyệt, tiển hữu bất ly.

Vợ chồng thân nhau nhờ nghĩa, hợp nhau nhờ ân. Nếu đánh đập bằng roi thì còn gì là nghĩa, nếu mắng chửi quát nạt thì còn gì là ân. Ân nghĩa đã dứt thì hiếm khi không chia lìa.

Trang Tử so sánh anh em với vợ chồng bằng hai hình ảnh khác nhau:

Huynh đệ như thủ túc. Phu phụ như y phục. Y phục phá chỉ cánh đắc tân. Thủ túc đoạn thì nan tái tục.

Anh em như tay chân, vợ chồng như áo quần. Quần áo rách thì thay được cái mới, tay chân đứt rồi thì khó nối lại.

Tô Đông Pha dùng bốn câu thơ để phân hai hạng người trước giàu nghèo:

Phú bất thân hề bần bất sơ,

Thử thị nhân gian đại trượng phu.

Phú tắc tiền hề, bần tắc thoái,

Thử thị nhân gian chân tiểu bối.

Giàu không gần, nghèo không lánh, đó là bậc đại trượng phu ở đời. Giàu thì tiến tới, nghèo thì lùi lại, đó là kẻ nhỏ mọn thật sự.

Lễ là phép tắc để người ta tự tiết chế

Có những thứ không viết thành luật mà vẫn giữ được cả một xã hội, vì nó ngăn được điều xấu từ lúc chưa nảy mầm.

Lễ là phép tắc mà người trong xã hội nào cũng phải theo, dù mỗi thời đổi một khác. Lễ không chỉ định ra phải trái, trên dưới mà còn giúp người ta tự tiết chế, nuôi dưỡng tính tình để sống cho đúng đạo làm người. Lễ để ngăn việc sắp xảy ra, còn pháp luật để cấm việc đã xảy ra rồi. Mạnh Tử nói: người trên không có lễ, kẻ dưới không có học thì giặc giã nổi lên, chẳng bao lâu mà mất.

Khổng Tử kể năm chỗ mà lễ làm nên trật tự:

Cư gia hữu lễ cố trưởng ấu biện.

Khuê môn hữu lễ cố tam tộc hòa.

Triều đình hữu lễ cố quan tước tự.

Điền liệp hữu lễ cố nhung sự nhàn.

Quân tử hữu lễ cố võ công thành.

Trong nhà có lễ nên lớn bé phân biệt. Trong phòng khuê có lễ nên họ hàng thuận hòa. Triều đình có lễ nên quan tước có thứ tự. Săn bắn có lễ nên việc quân thong thả. Người quân tử có lễ nên chiến công được thành.

Thượng vô lễ vô dĩ sử hạ. Hạ vô lễ vô dĩ đãi thượng.

Án Tử nói: bề trên không có lễ thì khó sai khiến kẻ dưới, kẻ dưới không có lễ thì khó phụng sự bề trên.

Khổng Tử còn nói về những đức tốt mà thiếu lễ thì đều hóa ra tật:

Cung nhi vô lễ tắc lao. Thận nhi vô lễ tắc tỷ. Dũng nhi vô lễ tắc loạn. Trực nhi vô lễ tắc giảo.

Quân tử hữu dũng nhi vô lễ vi loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô lễ vi đạo.

Cung kính mà không có lễ thì nhọc thân, dè dặt mà không có lễ thì nhút nhát, dũng mãnh mà không có lễ thì hỗn loạn, thẳng thắn mà không có lễ thì sỗ sàng. Bậc quân tử có dũng mà thiếu lễ thì gây loạn, kẻ tiểu nhân có dũng mà thiếu lễ thì làm trộm cướp.

Mạnh Tử nói điều khiến người quân tử khác người thường là chỗ giữ tâm:

Quân tử chi sở dĩ dị ư nhân giả dĩ kỳ tồn tâm dã. Quân tử dĩ nhân tồn tâm, dĩ lễ tồn tâm. Nhân giả ái nhân, hữu lễ giả kính nhân. Ái nhân giả nhân hằng ái chi. Kính nhân giả nhân hằng kính chi.

Người quân tử khác người ở chỗ giữ tâm. Quân tử giữ tâm bằng nhân, giữ tâm bằng lễ. Người nhân thì yêu người, người có lễ thì kính người. Yêu người thì người hằng yêu lại, kính người thì người hằng kính lại.

Lễ chi dụng hòa vi quý.

Hữu Tử nói: dùng lễ thì lấy hòa làm quý. Mạnh Tử thì tả cái lễ nhỏ nhất trong nhà, khi đi sau người lớn tuổi:

Từ hành hậu trưởng giả chi đễ. Tật hành tiên trưởng giả vị chi bất đễ.

Thong thả đi sau người lớn hơn mình gọi là đễ, vội vàng đi trước người lớn hơn mình gọi là bất đễ.

Hai câu của Khổng Tử và Lễ Ký nhắc phải cung kính cả khi không có ai thấy:

Xuất môn như kiến đại tân. Sử dân như thừa đại tế.

Chấp hư như chấp doanh. Nhập hư như hữu nhân.

Ra cửa như gặp khách quý, sai dân như điều hành đại lễ tế. Cầm vật rỗng như cầm vật đầy, vào phòng trống như vào nơi có người.

Nhược yếu nhân trọng ngã. Vô như ngã trọng nhân.

Nếu muốn người trọng ta thì chi bằng ta trọng người trước.

Khách vô thân sơ, lai giả đương thụ. Phụ bất ngôn tử chi ác. Tử bất ngôn phụ chi quá.

Không kể thân sơ, khách đến thì đón tiếp. Cha không kể điều xấu của con, con không vạch lỗi của cha.

Dân sinh ư tam, sự chi như nhất. Phụ sinh chi, sư giáo chi, quân tự chi.

Phi phụ bất sinh, phi tự bất trưởng, phi giáo bất tri. Sinh tộc chi dã.

Con người do ba bậc mà nên, phải thờ như nhau: cha sinh ra, thầy dạy, vua cho ăn. Không có cha thì không được sinh ra, không được nuôi thì không lớn, không được dạy thì không biết. Đó là những bậc tạo ra mình vậy.

Lễ Ký đặt những ranh giới nhỏ cho nam và nữ trong nếp sống xưa:

Nam nữ bất tọa, bất thân thụ, tẩu thúc bất thông vấn. Phụ tử bất đồng tịch.

Trai gái không ngồi lẫn lộn, không tự tay trao vật cho nhau. Chị dâu với em chồng không hỏi han nhau trực tiếp. Cha và con gái không ngồi chung chiếu.

Hai câu về cúng tế và thờ phụng:

Tế như tại. Tế thần như thần tại.

Sự tử như sự sinh. Sự vong như sự tồn. Hiếu chi chí dã.

Cúng tế thì như người đã mất đang ở đó, tế thần thì như thần đang ở đó. Thờ người đã chết như thờ người còn sống, thờ người đã mất như thờ người còn, ấy là chí hiếu.

Chữ tín: Quý Tử treo gươm bên mộ

Có một lời hứa chưa kịp nói ra mà đã được giữ trọn, ngay cả khi người nhận đã không còn.

Chữ tín là của báu của nước, Tấn Văn Công đã nói thế. Khổng Tử nói người vô tín không thể nên người. Xưa Duyên Lăng Quý Tử đi sứ nước Tấn, ghé qua nước Từ. Vua Từ thấy thanh gươm quý Quý Tử đeo thì rất ưng nhưng không dám xin. Quý Tử ngầm hiểu, bụng định khi trở về sẽ tặng vua Từ. Đến lúc về thì vua Từ đã mất. Quý Tử ra viếng mộ, treo thanh gươm lên cành cây bên mộ rồi đi. Ông chỉ mới hứa trong lòng mà đã giữ chữ tín như vậy. Tục ngữ ta có câu: nói lời thì giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

Nhân nhi vô tín bất tri kỳ khả dã, đại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột, kỳ hà dĩ hành chi tai?

Khổng Tử nói: kẻ bất tín không biết thế nào là nên là phải. Như xe lớn không có cái ách, xe nhỏ không có cái gọng, lấy gì mà đi được.

Nhân chi hữu tín như xa hữu luân. Quân tử nhất ngôn, khoái mã nhất tiên. Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.

Lão Tử nói: người có chữ tín như xe có bánh. Quân tử một lời như ngựa nhanh một roi. Một lời đã thốt ra thì bốn ngựa cũng khó đuổi kịp.

Tử Lộ vô túc nặc.

Thầy Tử Lộ không để lời hứa qua đêm, nghĩa là đã nhận lời thì làm ngay, không để sang hôm sau.

Tồn thành chi đạo cố nan nhập. Nhiên đương tự bất vọng ngôn thủy.

Tư Mã Ôn Công nói: đạo giữ lòng thành vốn khó đạt tới, nhưng phải bắt đầu từ chỗ không nói dối.

Quân thần bất tín quốc bất an. Phụ tử bất tín gia bất mục. Huynh đệ bất tín tình bất thân. Bằng hữu bất tín giao dị sơ.

Vua tôi không tin nhau thì nước không yên. Cha con không tin nhau thì nhà không hòa. Anh em không tin nhau thì tình không thân. Bạn bè không tin nhau thì giao tình dễ nhạt.

Lời nói phải trúng, vì một lời có thể dựng hay phá cả nước

Cái miệng chỉ nhỏ bằng nắm tay, nhưng người ta thường mất nhiều nhất cũng từ chỗ ấy.

Tuân Khanh nói về chuyện nói năng: kẻ tiểu nhân biện thuyết thì nói những điều nham hiểm, người quân tử biện thuyết thì nói những điều nhân ái. Nói mà không hợp lẽ nhân ái thì thà im lặng, biện thuyết dẫu giỏi cũng không bằng nói vụng. Khổng Tử đặt ra một khoảng cách cho người nghe:

Trung nhân dĩ thượng, khả dĩ ngữ thượng dã. Trung nhân dĩ hạ, bất khả dĩ ngữ thượng dã.

Khả dữ ngôn nhi bất dữ chi ngôn, thất nhân. Bất khả dữ ngôn nhi dữ chi ngôn, thất ngôn. Trí giả bất thất nhân diệc bất thất ngôn.

Người bậc giữa trở lên có thể nói chuyện bậc cao, người bậc giữa trở xuống thì không thể. Người đáng nói mà không nói là bỏ lỡ người, người không đáng nói mà nói là uổng lời. Người trí không lỡ người cũng không uổng lời.

Sĩ tương kiến lễ viết: Dữ quân ngôn, ngôn sử thần. Dữ đại phu ngôn, ngôn sự quân. Dữ lão giả ngôn, ngôn sử tử đệ. Dữ ấu giả ngôn, ngôn hiếu đễ ư phụ huynh. Dữ chúng nhân ngôn, ngôn trung tín từ tường. Dữ cư quan giả ngôn, ngôn trung tín.

Lễ của kẻ sĩ khi gặp nhau dạy rằng: nói với vua thì nói chuyện dùng bề tôi. Nói với đại phu thì nói chuyện thờ vua. Nói với người già thì nói chuyện sai bảo con em. Nói với người trẻ thì nói chuyện hiếu đễ với cha anh. Nói với dân thường thì nói chuyện trung tín, hiền lành. Nói với người làm quan thì nói chuyện trung tín.

Phù, nhân bất ngôn, ngôn tất hữu trúng.

Ngôn bất trúng lý bất như bất ngôn. Nhất ngôn bất trúng, thiên ngôn vô dụng.

Khổng Tử nói: người ta không nói thì thôi, nói ra thì phải trúng. Lưu Hội thêm: lời nói không trúng lẽ thì chẳng thà làm thinh. Một lời nói sai thì nghìn lời cũng thành vô dụng.

Trù nhân quảng tọa chi trung, nhất ngôn hữu thất, nhan sắc chi tu, tiện hữu hối dung, ngôn bất khả bất thận dã.

Giữa chỗ đông người mà lỡ một lời, mặt liền đỏ lên vì thẹn, lộ vẻ ăn năn. Cho nên lời nói không thể không dè dặt. Cũng như Khổng Tử đã nói về những lời vụn vặt:

Tiểu biện hại nghĩa, tiểu ngôn phá đạo.

Bàn vặt vãnh thì hại nghĩa, nói tủn mủn thì phá đạo.

Khẩu thiệt giả họa chi môn, diệt thân chi phủ dã.

Quân Bình nói: miệng lưỡi là cửa của tai họa, là búa rìu diệt thân. Tử Hạo nói với Tử Phòng một câu về đàn:

Hưởng thú đàn cầm, đồ tận kỳ thanh.

Đàn cho thú nghe thì chỉ uổng tiếng đàn.

Tuân Tử so lời hay với lời độc bằng những cảm giác của thân thể:

Dữ thiện nhân ngôn, noãn như bố bạch. Thương nhân chi ngôn, thống như đao thích.

Nhân bất dĩ đa ngôn vị ích. Nhân bất dĩ thiện tiếu vi lương. Đao thương dị hảo, ác ngữ nan tiêu.

Khẩu thị thương nhân phủ. Ngôn vi cát thiệt đao. Bế khẩu thâm tàng thiệt. An thân xứ xứ lao.

Nói chuyện với người lành thì ấm như mặc vải lụa. Lời làm đau người thì đau như dao đâm. Đừng cho rằng nói nhiều là có ích, đừng cho rằng hay cười là tốt. Vết dao dễ lành, lời độc khó tiêu. Miệng là cái búa làm hại người, lời là con dao cắt lưỡi. Ngậm miệng cất sâu cái lưỡi thì thân yên ổn ở bất cứ đâu.

Quân tử nhất ngôn dĩ vi trí, nhất ngôn dĩ vi bất trí. Ngôn bất khả bất thận dã.

Người quân tử chỉ một lời cũng đủ cho thấy là trí, chỉ một lời cũng đủ cho thấy là bất trí. Nói năng không thể không thận trọng.

Xảo ngôn lệnh sắc, tiển hỹ nhân.

Lời nói khéo, sắc mặt chải chuốt thì hiếm khi có lòng nhân. Một bài thơ nhỏ khuyên cách nói chuyện với người gặp ngoài đường:

Phùng nhân đãn thuyết tam phân loại.

Vị khả toàn phao nhất phiến tâm.

Bất phạ, hổ sinh tam cá khẩu.

Chỉ khủng nhân hoài lưỡng dạng tâm.

Gặp người chỉ nói ba phần, chưa nên trút hết tấm lòng. Không sợ cọp mọc ba cái miệng, chỉ sợ người ôm hai lòng.

Còn về lời hợp ý thì có đôi câu thơ:

Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu,

Thoại bất đầu cơ bán cú đa.

Năng ngôn năng ngữ, giải nhân hung khoan phúc đại.

Rượu gặp bạn tri kỷ thì nghìn chén cũng ít, chuyện không hợp ý thì nửa câu cũng nhiều. Người khéo nói năng khiến người nghe lòng dạ khoan khoái.

Đắc nhân thiện ngôn như hoạch kim châu bảo ngọc.

Kiến nhân thiện ngôn mỹ ư thi phú văn chương.

Thính nhân thiện ngôn lạc ư chung cổ cầm sắt.

Tuân Tử nói: được lời nói hay như được vàng bạc châu ngọc, gặp người nói hay thì thích hơn xem thơ phú văn chương, nghe lời nói hay thì vui hơn nghe chuông trống đàn sắt.

Ác nhãn nan dữ ngôn, viễn tị dĩ tự miễn.

Đạo thính nhi đồ thuyết, đức chi khí dã.

Khó nói chuyện với kẻ có ánh mắt dữ, hãy tránh xa cho khỏi bận mình. Nghe chuyện đầu đường rồi đem ra kể xó chợ, ấy là vứt bỏ đức của mình.

Nhất ngôn nhi khả dĩ hưng bang. Nhất ngôn nhi khả dĩ táng bang.

Luận Ngữ nói: một lời có thể làm nước hưng thịnh, một lời cũng có thể làm nước mất.

Nhân ư thảnh thốt điên bái hoạn nạn chi tế, thiện dụng nhất ngôn, thượng tư tổ khảo, hạ ấm nhi tôn.

Kinh Tạng dạy: người gặp lúc hốt hoảng ngả nghiêng, hoạn nạn mà biết dùng một lời cho khéo thì trên giúp được cha ông, dưới che chở được con cháu.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện