Bài tổng quan
Dòng sông chảy mãi, mốc đời người và chữ nghĩa trong Luận Ngữ
Khổng Tử đứng bên sông, nhìn dòng nước đi mãi không ngừng và buông một lời than, ngắn đến mức hơn hai nghìn năm sau vẫn còn người trích lại. Cũng ông, ở tuổi mười lăm đã dồn tâm trí vào việc học, và phải đến bảy mươi mới dám làm theo ý muốn của mình. Từ dòng sông ấy, mạch lời dẫn đi rất xa…
Mục lục · 7 phần
- 01Dòng sông chảy mãi, và vài lời nhắc về mức độ
- 02Chịu nhỏ để làm việc lớn, lo xa để khỏi họa gần
- 03Tính gần nhau, tập xa nhau và mốc đời người
- 04Chí lớn chưa thành và tinh thần quên cả tuổi già
- 05Cái chí không ai đoạt được, và chuyện hy sinh vì nhân
- 06Nghĩa trước lợi: bốn câu của bốn thiên
- 07Khắc kỷ, chuyên tâm làm điều nhân và vị trí của chữ nghĩa
Theo tác giả, Luận Ngữ là kinh điển quan trọng của Nho học, là tập đại thành về tư tưởng, ngôn luận và hoạt động của Khổng Tử. Đó là tư tưởng chính trị của Trung Quốc cổ đại, là quy phạm luân lý đạo đức, là hòn ngọc trong kho tàng văn hóa Trung Quốc. Trong làn sóng triều dồn dập của nó ấp ủ tình cảm ưu quốc ái dân, và tình cảm ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự tu dưỡng của dân tộc Trung Hoa, làm phong phú tinh thần và tư tưởng Trung Hoa. Hơn hai nghìn năm nay, Luận Ngữ để lại ấn tượng lớn trong lòng dân tộc ấy.
Sách do học trò của Khổng Tử tuyển chọn thành sách vào thời Chiến Quốc, nội dung rất phong phú, bao gồm chính trị, triết học, luân lý, giáo dục, văn học, nghệ thuật. Luận Ngữ đứng hàng đầu trong Tứ thư và có ảnh hưởng lớn tới luân lý, chính trị của dân tộc Trung Hoa. Rất nhiều câu cách ngôn trong sách vượt qua thời đại, mang ý nghĩa lịch sử sâu xa, đến nỗi có người than rằng Khổng Tử thuở trước đã nói hết những lời hay để người đời sau không còn gì để nói. Nhiều ý, nhiều tư tưởng được coi là chí lý mấy nghìn năm không đổi, và hơn hai nghìn năm nay nhân dân Trung Quốc truyền đời giá trị ấy.
Tác giả còn nói bộ sách là một bộ sách dạy lòng yêu nước, và dù tác dụng của nó là tích cực hay tiêu cực thì ảnh hưởng với nhân dân Trung Quốc cũng không nhỏ. Từ Luận Ngữ có thể coi Trung Quốc là cái nôi của nền văn minh phương Đông: tuy ra đời hơn hai nghìn năm trước, nhiều câu vẫn thành chân lý bất biến. Người ta vẫn thu nhận tinh hoa sáng lạn của nó nhưng cũng phê phán phần nội dung ủng hộ giai cấp thống trị. Tác giả cho rằng cần đánh giá bộ sách đúng với lịch sử và khoa học. Qua các triều đại, giai cấp thống trị phong kiến đã lợi dụng một số quan điểm trong sách để giữ lợi ích của họ; đó là chuyện lịch sử, không thể đổ trách nhiệm lên bản thân Luận Ngữ. Thái độ chính xác là vấn đề lịch sử để lịch sử gánh, không nên coi Luận Ngữ là nguyên nhân của tất cả.
Dòng sông chảy mãi, và vài lời nhắc về mức độ
Thiên Tử Hãn chép một câu nổi tiếng:
Tử tại xuyên thượng viết: Thệ giả như tư phù, bất xá trú dạ.
Khổng Tử đứng bên dòng sông lớn than rằng cái đã qua cũng như dòng nước này, chảy đi mãi không ngừng, cả ngày lẫn đêm. Theo tác giả, câu này chứa một phán đoán của phép biện chứng: thế giới vận động và phát triển không ngừng. Hơn hai nghìn năm trước mà đã có triết lý rực rỡ thế thì thật quý, nó giống câu danh ngôn của học giả Hy Lạp cổ đại rằng ta với người không thể cùng ở một dòng sông, và mặt trời ngày ngày đổi mới. Câu ấy còn là lời nhắc nhở: đời sau có những câu chịu ảnh hưởng của Khổng Tử, như câu thơ của Vương Bột đời Đường nói đời người như một ngón tay, trăm năm cũng như chớp mắt; tất cả đều than về ánh sáng mặt trời trôi chầm chậm, một đi không trở lại.
Từ dòng chảy sang một chuyện thuộc về tính cách: thiên Tiên tiến chép lời ông, quá cũng như bất cập, và thiên Ung dã nói đức trung dung là mức cao nhất, dân xưa nay hiếm người tới được.
Quá do bất cập.
Khổng Tử cho rằng thái quá cũng giống như chưa tới, đều là khuynh hướng cực đoan. Giả Nghị đời Hán cũng nói như vậy trong Tân thư: thái quá cũng như bất cập, có dư cũng như không đủ. Khổng Tử chủ trương trung dung, trung chính, không ngả về bên nào, coi việc nắm vững mức độ thích hợp là quy tắc xử lý sự vật.
Chịu nhỏ để làm việc lớn, lo xa để khỏi họa gần
Cái mức độ ấy lại ló ra ở những lời dạy về cách làm việc, ngắn đến mức có thể treo lên tường.
Thiên Vệ Linh Công và thiên Tử Lộ chép hai câu: không biết nhẫn chuyện nhỏ thì làm hỏng mưu lớn; vội vã quá thì không đạt. Tác giả coi đây là triết lý quan trọng về phương pháp của Khổng Tử: người có mưu việc lớn không nên so đo cái lợi nhỏ, muốn tiến lên thì tất phải nhượng bộ. Triết lý ấy tiếp nối quá khứ, mở đường cho tương lai, là mưu kế quan trọng.
Cũng ở thiên Vệ Linh Công, có câu: người không lo xa thì tất có chuyện buồn gần. Câu này thể hiện sự mưu trí nhìn xa trông rộng của Khổng Tử: mọi việc phải nghĩ cho thấu đáo mới thành, nếu chỉ nhìn lợi ích trước mắt thì tất có hậu hoạn.
Thiên Tử Hãn còn chép: hậu sinh khả úy, kẻ sinh sau đáng nể sợ. Tác giả giải câu này mang tính triết lý cao, thể hiện lớp sóng sau đẩy lớp sóng trước, sự vật luôn phát triển, thời đại không ngừng tiến lên, con hơn cha.
Tính gần nhau, tập xa nhau và mốc đời người
Từ chuyện sự vật, Khổng Tử quay về chính con người, và trước hết là bản tính con người.
Thiên Dương hóa viết: tính tương cận dã, tập tương viễn dã. Nghĩa là tính tình con người gần giống nhau, nhưng vì nhiễm thói quen nên trở thành khác nhau. Tác giả cho rằng câu này là cơ sở đặt ra thuyết bản tính thiện của Khổng Tử: bản tính người gần giống nhau, chỉ do thói quen khác mà dần có khác biệt. Sau đó, có người cho rằng bản tính con người là ác, Cáo Tử cho rằng bản tính ban đầu là thiện nhưng cũng có ác, đều chịu ảnh hưởng quan niệm nhân tính của Khổng Tử. Ông còn nhấn mạnh tính người có thể đổi, chỉ trừ bậc thượng trí và kẻ hạ ngu: Khổng Tử nói chỉ bậc thượng chí và kẻ hạ ngu là không đổi được (Dương hóa). Đó là danh ngôn nhân sinh của Luận Ngữ.
Tiếp theo là lời tự thuật nổi tiếng của ông ở thiên Vi chính:
Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ.
Ta mười lăm tuổi dồn tâm trí vào việc học, ba mươi tuổi tự lập, bốn mươi tuổi không còn nghi ngờ, năm mươi tuổi biết mệnh trời, bảy mươi tuổi làm theo ý muốn mà không vượt khuôn phép. Tác giả nói đây là những lời nói trứ danh, trong đó "ba mươi tuổi lập, bốn mươi tuổi không hoặc" đã thành cột mốc trên hành trình đời sống của nhân dân Trung Quốc, đời đời cổ vũ tinh thần phấn đấu của dân tộc Trung Hoa. Rất nhiều thanh niên ba mươi, bốn mươi tuổi đắc chí đều liên quan tới câu nói ấy.
Chí lớn chưa thành và tinh thần quên cả tuổi già
Cột mốc ba mươi, bốn mươi ấy đẹp, nhưng chính người nói ra nó lại có lúc phải thở dài.
Thiên Tử Hãn chép:
Phượng điểu bất chí, Hà bất xuất đồ, ngô dĩ hĩ phu!
Chim phượng không đến, bức đồ không hiện ra trên mặt sông, ôi thôi, đạo ta chắc không thi hành được. Tác giả chú: cả đời Khổng Tử long đong mà đầy nhiệt tình. Ông đi du thuyết sáu nước, tuy có lúc được tiếp đãi tử tế nhưng cũng có lúc bị lạnh nhạt. Trên đường nhiều lần hết lương, bậc anh tài đại lược ấy vẫn chưa được vua nào thu nạp. Lúc sắp mất ông vẫn mang nặng trách nhiệm chưa thực hiện được. Câu danh ngôn này tượng trưng cho chí lớn chưa thành của ông.
Nhưng ông không vì thế mà chùn bước. Thiên Thuật nhi chép: phấn khởi đến quên ăn, vui đến quên buồn, không biết tuổi già sắp đến. Tác giả nói một đời phấn đấu và tiết tháo ấy ảnh hưởng đến hậu thế: Lưu Hướng đời Hán nói thuở nhỏ hiếu học như ánh mặt trời mới mọc, thuở trai tráng hiếu học như ánh mặt trời giữa trưa, già mà ham học thì như ánh đuốc (Thuyết uyển); Nhan thị gia huấn có câu tương tự; Vương Quốc Duy có lời đêm gió tây đứng trên lầu cao, áo rộng dần mà vẫn không hối. Đều là những lời khuyên phấn đấu đã làm lay động và cổ vũ không biết bao nhiêu người.
Cái chí không ai đoạt được, và chuyện hy sinh vì nhân
Từ chí hướng của một người, ta tới giới hạn cuối cùng của chí hướng ấy.
Thiên Tử Hãn nói: ba quân có thể bắt được chủ soái, nhưng thất phu không đoạt được chí. Thiên Vệ Linh Công nói: sát thân để thành nhân. Tác giả coi đây là hai câu cách ngôn về tiết tháo của Luận Ngữ. Câu danh ngôn này đã thành châm ngôn qua các đời, là cơ sở đặt nền cho sự tu dưỡng tinh thần của nhân dân Trung Hoa. Đời sau có câu "ngọc nát còn hơn giữ ngói lành" (Bắc Tề thư, Nguyên Cảnh An truyện) và câu của Văn Thiên Tường đời Tống rằng từ xưa ai cũng chết, hãy giữ tấm lòng son để lại sử xanh. Những câu ấy giống hệt tinh thần của danh ngôn trên, và có ảnh hưởng lớn tới việc tạo dựng tiết tháo của người Trung Quốc.
Nghĩa trước lợi: bốn câu của bốn thiên
Tiết tháo nói cho cùng là chuyện biết đặt cái gì lên trước. Với Khổng Tử, câu trả lời gói trong một chữ khác: nghĩa.
Tác giả gom bốn câu từ bốn thiên: quân tử hiểu về nghĩa, tiểu nhân hiểu về lợi (Lý nhân); thấy lợi nghĩ đến nghĩa (Hiến vấn); quân tử lấy nghĩa làm chất (Vệ Linh Công); thấy lợi nhỏ thì việc lớn không thành (Tử Lộ). Ông nhận xét những câu này phản ánh cách nhìn công lợi cao thượng của Khổng Tử. Đời sau có lời "lấy nhân làm của cải, lấy nghĩa làm quý" (Tam quốc chí, Ngụy thư, Văn đế ký) và câu "tiền tài như đất, nhân nghĩa đáng nghìn vàng" (Phùng Mộng Long, đời Minh) là sự mở rộng ý nghĩa nghĩa lợi của ông. Theo tác giả, tư tưởng trọng nghĩa khinh lợi của Khổng Tử là chân lý ngàn năm không đổi, có ý nghĩa chỉ đạo với tư tưởng kinh tế ngày nay, và là bài học quan trọng đối với xu hướng trọng lợi khinh nghĩa, quý của cải mà coi thường đạo đức còn tồn tại trong xã hội. Đó là câu cách ngôn nhân nghĩa của Luận Ngữ.
Khắc kỷ, chuyên tâm làm điều nhân và vị trí của chữ nghĩa
Nghĩa không tự đến. Muốn có nó, trước hết con người phải biết tự khép mình.
Thiên Nhan Uyên chép câu quen thuộc: nén mình theo lễ là nhân, ngày nào nén mình theo lễ thì thiên hạ quay về điều nhân. Tác giả giải: Khổng Tử cho lễ là một trong những nội dung chủ yếu của nhân, nên đề xướng tự bản thân nghiêm khắc giữ lễ tiết; có lễ tiết nhất định ràng buộc mới thực hiện được điều nhân. "Khắc kỷ" là nghiêm túc với yêu cầu đối với chính mình thì mới có thể hành lễ theo điều nhân.
Thiên Lý nhân thêm một câu: nếu thật lòng chuyên tâm làm điều nhân thì sẽ không làm điều ác. Tác giả hiểu là lập chí ở nhân thì không phạm tội ác, nhấn mạnh thiện ác của phẩm chất đạo đức, quyết định ở chỗ phải làm điều nhân đức. Thiên Dương hóa nói quân tử nên chuộng nghĩa hơn hết. Khổng Tử đề cao nhân nghĩa, ảnh hưởng sâu sắc tới nhân dân Trung Quốc mấy nghìn năm: đời sau hy sinh thân mình giữ nghĩa, dũng cảm làm điều nghĩa, vì nghĩa quên thân, đều bắt đầu từ chữ nghĩa.
Cách ngôn về nhân nghĩa của ông còn nhiều, và tác giả dẫn một loạt câu: người mà không nhân thì dùng lễ làm gì, dùng nhạc làm gì (Bát dật); kẻ bất nhân không ở lâu trong cảnh nghèo, không vui lâu trong cảnh vui; người nhân yên ổn với nhân, người trí biết lợi dụng nhân (Lý nhân); nhân há xa ta sao, ta muốn nhân thì nhân đến ngay (Thuật nhi); Hữu Tử nói hứa điều gần với nghĩa thì nên làm đúng lời (Học nhi); quân tử lấy nghĩa làm chất, lấy lễ mà làm, lấy khiêm tốn mà nói ra, lấy tín mà làm nên (Vệ Linh Công); trị một nước lớn thì cẩn thận việc nước mà giữ tín, tiết kiệm mà thương người, sai dân đúng lúc (Học nhi); trong mười nhà ắt có người trung tín như Khâu này, nhưng không ai ham học bằng Khâu này (Công Dã Tràng); cương nghị, mộc mạc, ít nói thì gần với nhân (Tử Lộ); Tử Hạ nói học rộng mà chí vững, hỏi han thiết thực mà nghĩ sát việc mình, thì nhân ở trong đó (Tử Trương).
Tác giả chú: nhân bao hàm nhân ái, nhân nghĩa, là hạt nhân của hệ thống tư tưởng Khổng Tử, là điểm rõ nhất của Khổng học. Khổng Tử chú trọng nhất việc tu dưỡng nhân cách bên trong. Nhân là nội dung cao quý nhất của Khổng học và là giới hạn cao nhất của đạo Khổng, nên để thành nhân thì dù phải đổi cả tính mạng cũng không sao. Nhân ái là nội hàm chủ yếu của chữ nhân, trước hết là yêu người, yêu cha mẹ mình, tức hiếu: làm người hiếu đễ là người nắm được cái gốc (Học nhi), vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con (Nhan Uyên). Tiết kiệm mà thương người, sai dân đúng lúc là nhân sinh quan cao thượng của Khổng Tử. Còn nhân nghĩa là chuẩn mực của chữ nhân: ông cho nghĩa đạt đạo đức cao nhất, nên nói quân tử coi nghĩa trên hết. Cứu quốc bằng nhân nghĩa là chủ trương cao nhất của ông, là hoài bão chính trị suốt đời. Tác giả còn nhắc rằng nhân nghĩa, nhân ái có tính giai cấp, không có tình yêu siêu giai cấp; nhưng nhấn mạnh nhân ái là yêu nhân dân thì không cần bàn cãi.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
