Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Gương soi mặt, trí soi lòng, lòng người khó lường hơn trời

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202612 phút đọc1 lượt đọc
Gương soi mặt, trí soi lòng, lòng người khó lường hơn trời

Cá dưới nước còn câu được, nhạn trên trời còn bắn được, trời đất còn đo được, chỉ riêng lòng người ở ngay trong gang tấc mà không ai lường nổi. Vì vậy cổ nhân bảo mỗi người trước hết phải có hai tấm gương, một để soi mặt và một để soi…


Xét lòng mình để biết phải trái nên hư

Tỉnh tâm là xét lòng mình để phân biệt phải, trái, nên, hư. Trong việc tu thân, giữ cho tâm ngay và ý thành là điều quan trọng nhất. Trình Y Xuyên cho rằng tâm người ta không yên vì lòng dục làm loạn cái khí, nên người học cần dưỡng khí, mà dưỡng khí cốt ở bớt ham muốn. Bớt ham muốn thì hóa được khí đục ra khí thanh, và dần dần tâm giống tâm thánh nhân, yên lặng sáng suốt như mặt gương, như mặt nước lặng. Vì vậy đạo học chẳng qua là chính tâm và nuôi tính. Trong thiên Tận Tâm, Mạnh Tử nói rằng muôn vật đều đã sẵn trong ta, quay lại xét mình mà thành thật thì không niềm vui nào lớn hơn.

Tăng Tử thì kể một thói quen mỗi ngày: ta mỗi ngày xét mình ba điều, giúp người đã hết lòng chưa, chơi với bạn có điều gì bất tín chăng, thầy dạy cho mà đã luyện tập chưa.

Lưới cõi âm thưa mà khó lọt

Có những lưới người chẳng nhìn thấy, và chính những lưới ấy mới giữ được lâu nhất.

Tư Thế Thông Huấn so hai thứ lưới, cõi âm và cõi dương:

Âm pháp trì nhi bất lậu, dương hiến cận nhi hữu đào.

Dương võng mật nhi dị lậu, âm võng sơ nhi nan đào.

Phép cõi âm chậm nhưng không lọt, luật cõi dương gần mà vẫn có người trốn thoát. Lưới cõi dương dày mà dễ lọt, lưới cõi âm thưa mà khó thoát. Cảnh Hạnh Lục nói về vật báu của một nhà:

Vô hà chi ngọc khả dĩ vi quốc thuế. Hiếu đễ chi tử khả dĩ vi gia bảo.

Bảo bối dụng chi hữu tận. Trung hiếu hưởng chi vô cùng.

Gia hòa bần dã hảo. Bất nghĩa phú như hà? Đãn tồn nhất tử hiếu. Bất dụng tử tôn đa.

Phụ bất ưu tâm nhân tử hiếu,

Phu vô phiền não thị thê hiền.

Ngôn đa ngữ thất giai nhân tửu,

Nghĩa đoạn thân sơ chỉ vị tiền.

Ngọc không vết có thể làm cống phẩm cho nước, người con hiếu đễ có thể làm của báu trong nhà. Vật báu dùng thì có lúc hết, trung hiếu hưởng thì không cùng. Nhà hòa thuận thì nghèo cũng tốt, bất nghĩa mà giàu thì làm gì? Chỉ cần giữ được một người con hiếu, không cần con cháu đông. Cha không lo lòng vì con hiếu, chồng không phiền não vì vợ hiền. Nói nhiều nói lỡ đều do rượu, nghĩa dứt tình sơ chỉ vì tiền.

Cảnh Hạnh Lục còn có một đoạn nhắc người đang vui phải dè chừng:

Ký thủ phi thường lạc. Tu phòng bất trắc ưu.

Lạc cực bi sinh. Đắc sủng tư nhục. Cư an lự nguy.

Vinh thịnh nhục đại. Lợi trọng hại thâm. Thịnh danh tất hữu trọng trách. Đại công tất hữu kỳ cùng.

Thậm ái tất thậm phí. Thậm dự tất thậm hủy. Thậm hỉ tất thậm ưu. Thậm thủ tất thậm vong.

Ân ái sinh phiền não. Truy tùy đại trượng phu.

Đình tiền sinh thụy thảo. Hảo sự bất như vô.

Đã được niềm vui lạ thường thì phải đề phòng nỗi lo bất ngờ. Vui đến cực thì buồn sinh ra, được sủng ái thì nghĩ đến nhục, ở yên thì lo nguy. Vinh lớn thì nhục lớn, lợi nặng thì hại sâu. Danh tiếng vang lừng thì ắt gánh trách nhiệm nặng, công to thì ắt gặp lúc quẫn cùng lạ lùng. Yêu quá thì tốn quá, khen quá thì chê quá, mừng quá thì lo quá, lấy quá thì mất quá. Ân ái sinh phiền não, đeo bám theo cả bậc đại trượng phu. Trước sân mọc cỏ điềm lành, việc tốt cũng không bằng không có.

Gương soi mặt, trí soi lòng

Khi chưa leo núi thì không biết trời cao, và gương nào cũng chỉ soi được chỗ nó đang hướng tới.

Bất đăng sơn, bất tri thiên chi cao. Bất lâm khê, bất tri địa chi hậu.

Bất văn tiên vương chi đạo, bất tri học vấn chi đại.

Tuân Tử nói không lên núi thì không biết trời cao, không đến khe sâu thì không biết đất dày, không nghe đạo của tiên vương thì không biết học vấn lớn đến đâu. Tố Thư thêm hai vế về xưa và nay:

Suy cổ nghiệm kim sở dĩ bất hoặc.

Dục tri vị lai tiên sát dĩ vãng.

Suy việc xưa nghiệm việc nay thì không còn ngờ vực, muốn biết việc sắp tới thì trước hết hãy xét việc đã qua. Khổng Tử nói ngắn:

Minh kính khả dĩ sát hình, vãng cổ khả dĩ tri kim.

Gương sáng để xem hình dạng, việc xưa để hiểu việc nay. Cảnh Hạnh Lục nhắc người ta rằng một ngày không ai nắm chắc:

Minh đán chi sự lạc mộ bất khả tất. Bạc mộ chi sự, bô thì bất khả tất.

Thiên hữu bất trắc chi phong vân. Nhân hữu đán tịch chi họa phúc.

Vị quy tam xích thổ. Nan bảo nhất sinh thân. Ký quy tam xích thổ. Nan bảo bách niên phần.

Việc buổi sáng sớm, đến lúc chiều tối chưa chắc, việc lúc hoàng hôn, đến xế chiều chưa chắc. Trời có gió mây bất trắc, người có họa phúc sớm chiều. Chưa nằm vào ba thước đất thì khó giữ nổi thân một đời, đã nằm vào ba thước đất rồi thì khó giữ nổi ngôi mộ trăm năm. Một bài thơ than cho chuyện làm người:

Xảo yếm đa lao, chuyết yếm nhàn,

Thiện hiềm nhu nhược, ác hiềm ngoan.

Phú tao tật đố, bần tao tiện,

Cần viết tham lam, kiệm viết khan.

Xúc mục bất phân, giai tiếu xuẩn,

Kiến cơ nhi tác, hựu ngôn gian.

Tư lương na kiện, đương giao tố,

Tố nhân nan tố, tố nhân nan.

Vi nhân nan, vi nhân nan,

Tả đắc chỉ tận, bút đầu can.

Cánh tả kỷ cá vi nhân nan.

Người khéo thì bị chê là nhọc, người vụng thì bị chê là nhàn. Người lành bị chê nhu nhược, người ác bị chê ngang bướng. Người giàu bị ganh ghét, người nghèo bị khinh. Chăm chỉ thì bị bảo tham, tiết kiệm thì bị bảo keo. Thấy chẳng hiểu thì chê ngốc, gặp cơ ứng biến thì lại bảo gian. Nghĩ đến việc nào cũng thấy làm người khó. Làm người khó, làm người khó, viết đến hết giấy khô ngọn bút vẫn cứ viết thêm làm người khó.

Rồi Cảnh Hạnh Lục dùng ba hình ảnh để nói việc nuôi dưỡng:

Mộc hữu sở dưỡng, tắc căn bản cố nhi chi diệp mậu, đống lương chi tài thành.

Thủy hữu sở dưỡng, tắc nguyên tuyền trường nhi quán khái lợi phổ.

Nhân hữu sở dưỡng, tắc chí khí đại nhi kiến thức minh, trung nghĩa chi sĩ xuất.

Cây được nuôi thì gốc rễ vững, cành lá xum xuê, nên chất gỗ làm cột làm rường. Nước được nuôi thì nguồn suối dài, cái lợi tưới tắm khắp nơi. Người được nuôi thì chí khí lớn, kiến thức sáng, và kẻ sĩ trung nghĩa xuất hiện. Trực Ngôn Quyết thêm:

Kính dĩ chiếu diện, trí dĩ chiếu tâm.

Kính minh tắc trần ai bất nhiễm. Trí minh tắc tà ác bất sinh.

Gương để soi mặt, trí để soi lòng. Gương trong thì bụi không bám, trí sáng thì tà ác không sinh.

Lòng người cách nhau ngàn núi

Trời đất đo được, cá chim bắt được, chỉ riêng lòng người ở gần trong gang tấc mà không ai lường nổi.

Tự tín giả nhân diệc tín chi, Ngô Việt giai huynh đệ.

Tự nghi giả nhân diệc nghi chi, thân ngoại giai địch quốc.

Người tự tin thì người khác cũng tin, nước Ngô nước Việt cũng như anh em. Người tự nghi mình thì người khác cũng nghi, ngoài mình ra thảy đều là nước thù. Ngô và Việt là hai nước có mối thù truyền kiếp thời Xuân Thu, chuyện vua Việt Câu Tiễn và Ngô Phù Sai được Tư Mã Thiên chép trong Sử Ký. Tả Truyện, bộ sử thời Xuân Thu do Tả Khâu Minh biên soạn, cũng nói:

Ý hợp tắc Ngô Việt tương thân,

Ý bất hợp tắc cốt nhục vi cừu địch.

Nghi nhân mạc dụng. Dụng nhân mạc nghi.

Ý hợp thì Ngô Việt cũng thân nhau, ý không hợp thì ruột thịt thành kẻ thù. Ngờ người thì đừng dùng, đã dùng người thì đừng ngờ. Gia Ngữ nhắc việc yên và loạn:

An bất khả vong nguy, trị bất khả vong loạn.

Lúc yên không được quên lúc nguy, lúc trị không được quên lúc loạn. Và Kinh Thư nói đến chuyện làm trước khi sự việc xảy ra:

Chế trị ư vị loạn. Bảo bang ư vị nguy.

Đặt phép yên dân khi chưa loạn, giữ nước khi chưa nguy. Rồi một bài ví lòng người với các thứ khó nắm nhất:

Thủy để ngư, thiên biên nhạn. Cao khả xạ hề, đê khả điếu.

Duy hữu nhân tâm chỉ xích gian. Chỉ xích nhân tâm bất khả liệu.

Thiên khả đạc, địa khả lượng. Duy hữu nhân tâm bất khả phòng.

Họa hổ họa bì nan họa cốt. Tri nhân tri diện bất tri tâm. Đối diện dữ ngữ, tâm cách thiên san.

Cá dưới đáy nước, nhạn bên trời, cao thì bắn được, thấp thì câu được. Chỉ lòng người trong gang tấc mà không thể lường. Trời đo được, đất lường được, chỉ lòng người không thể phòng. Vẽ hổ vẽ được da, khó vẽ được xương, biết người biết mặt khó biết lòng. Đối mặt nói chuyện mà lòng cách nhau nghìn núi.

Giàu nghèo, quân tử tiểu nhân và cách giữ mình

Khi lòng người khó lường như thế, cổ nhân dặn người ta nhìn vào hai thứ gần nhất: cái nghèo và cái giàu của chính mình.

Kết oan ư nhân, vị chi chủng họa. Xả thiện bất vi, vị chi tự tặc.

Mạc tín trực trung trực. Tu phòng nhân bất nhân.

Lễ nghĩa sinh ư phú túc. Đạo tặc khởi ư cơ hàn.

Bần cùng bất dữ hạ tiện, nhi hạ tiện tự sinh. Phú quý bất dữ kiêu xa, nhi kiêu xa tự chí.

Bão noãn tư dâm dục. Cơ hàn khởi đạo tâm.

Trường tư bần nạn nguy khốn, tự nhiên bất kiêu. Mỗi tư tật bệnh ngao tiễn tịnh vô sầu muộn.

Gây oán với người gọi là gieo họa, bỏ điều thiện không làm gọi là tự hại mình. Đừng tin thẳng toàn thẳng, hãy phòng cái bất nhân của kẻ nhân. Lễ nghĩa sinh ở chỗ đủ đầy, trộm cướp nổi ở chỗ đói rét. Nghèo khổ không đi liền với hèn hạ mà hèn hạ tự sinh, giàu sang không đi liền với kiêu xa mà kiêu xa tự đến. No ấm thì nghĩ đến dâm dục, đói rét thì khởi lòng trộm. Luôn nghĩ đến lúc nghèo khốn thì tự nhiên không kiêu, mỗi lần nghĩ đến bệnh tật nung nấu thì hết sầu muộn. Thái Công có hai vế đối nhau:

Pháp bất gia ư quân tử, lễ bất trách ư tiểu nhân.

Hình pháp không đặt lên người quân tử, lễ nghi không đòi hỏi kẻ tiểu nhân. Tử Du, học trò Khổng Tử, nhắc giữ chừng mực với vua và với bạn:

Sự quân sổ, tư nhục hỹ. Bằng hữu sổ, tư sơ hỹ.

Thờ vua mà hay trách vua thì chuốc nhục, bạn bè mà hay trách nhau thì nhạt tình. Kinh Dịch nói gọn:

Lễ phòng quân tử, luật phòng tiểu nhân.

Lễ là để phòng bậc quân tử, luật là để phòng kẻ tiểu nhân. Cảnh Hạnh Lục nối thêm hai điều về tính khí:

Hiếu thực, sắc, hóa, lợi giả khí tất lận. Hiếu công danh sự nghiệp giả khí tất kiêu.

Người ham ăn, ham sắc, ham của, ham lợi thì khí tất keo bẩn, người ham công danh sự nghiệp thì khí tất kiêu căng. Khổng Tử khép lại bằng một câu phân quân tử và tiểu nhân:

Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi.

Quân tử rành về nghĩa, tiểu nhân rành về lợi. Thuyết Uyển nói về của cải:

Tài giả quân tử chi sở khinh. Tử giả tiểu nhân chi sở trường.

Của cải thì quân tử xem nhẹ, liều mạng thì tiểu nhân giỏi. Tô Vũ, bề tôi nhà Hán, đi sứ Hung Nô bị cầm giữ đến già mới được thả về, khi về tóc bạc phơ và nổi tiếng giữ tiết trung quân ái quốc, để lại câu:

Hiền nhân đa tài tổn kỳ trí. Ngu nhân đa tài ích kỳ quá.

Người hiền nhiều của thì hao trí, kẻ ngu nhiều của thì thêm lỗi. Lão Tử cuối cùng có một chuỗi lời về của, học và thị phi:

Đa tài thất kỳ chân thủ. Đa học hoặc ư sở văn.

Nhân phi Nghiêu Thuấn, yên năng mỗi sự tận thiện.

Nhân bần chí đoản. Phúc chí tâm linh.

Bất kinh nhất sự, bất trưởng nhất trí. Thành tắc diệu dụng, bại tắc bất năng.

Thị phi chung nhật hữu, bất thính tự nhiên vô.

Lai thuyết thị phi giả, tiện thị thị phi nhân. Nhược thính nhị diện thuyết, tiện kiến tương ly biệt.

Nhiều của thì mất cái chân thật mình giữ, học nhiều thì hoang mang với điều nghe thấy. Người đâu phải Nghiêu Thuấn, sao mọi việc đều trọn thiện được. Nghiêu và Thuấn được người Trung Quốc xem như hai vị thánh quân, trị vì xã hội lý tưởng, tượng trưng cho sự toàn thiện toàn mỹ. Người nghèo thì chí ngắn, phúc đến thì lòng sáng. Không trải qua một việc thì không lớn thêm một phần trí, giống như câu tục ngữ đi một ngày đàng học một sàng khôn. Thành thì dùng khéo, bại thì kém cỏi. Chuyện thị phi suốt ngày vẫn có, không nghe thì tự nhiên không. Kẻ đến nói chuyện thị phi tức là người thị phi, nếu nghe hai phía nói thì sẽ thấy xa cách nhau.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện