Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Sử ký ba nghìn năm và cuộc đời Tư Mã Thiên

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Sử ký ba nghìn năm và cuộc đời Tư Mã Thiên

Một người bị thiến, mang nỗi nhục trong lòng, vẫn nghiến răng viết cho xong ba nghìn năm lịch sử của cha ông. Rồi bộ sử vừa xong, chính ông cũng ra đi không một lời giải thích…


Bộ thông sử đầu tiên chép trọn ba nghìn năm

Sử ký là bộ sử lớn nhất của Trung Hoa và cũng là bộ thông sử kỷ truyện đầu tiên. Lần đầu tiên, ba nghìn năm lịch sử, từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế đến thời Hán Vũ Đế, được biên soạn lại một cách có hệ thống, đưa nghề viết sử Trung Hoa bước vào giai đoạn phát triển chưa từng thấy. Vì thế nó là một cột mốc sáng chói trong những trước tác cổ điển: vừa là tuyệt tác về lịch sử, vừa là tác phẩm văn học nổi tiếng, lại là công trình lịch sử có tính khoa học xuất chúng. Tiếng tăm của nó vượt khỏi bờ cõi Trung Hoa, ảnh hưởng đến lịch sử và văn hóa của cả thế giới, nhất là văn hóa phương Đông.

Ban đầu bộ sử có tên là "Thái Sử Công thư"; đến giữa thời Ngụy, Tấn mới đổi thành "Sử ký". Nội dung chính gồm mười hai bản kỷ, mười biểu, tám thư, ba mươi thế gia, bảy mươi liệt truyện cùng bài tự thuật của Thái sử công, tất cả một trăm ba mươi bài với hơn năm mươi hai vạn chữ. Sử ký ghi lại lịch sử từ buổi Tam Hoàng Ngũ Đế cho đến thời Tần Hoàng, Hán Vũ, trong đó lấy lịch sử nhà Hán làm cốt lõi, và khép lại ở năm thứ hai niên hiệu Chinh Hòa của Vũ Đế, tức năm 91 trước Công nguyên.

Đây là một bộ sử rực rỡ, được đúc kết từ Kinh Dịch, Thượng Thư, Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến quốc sách và nhiều trước tác nổi tiếng khác, thành một tổng tập lịch sử lớn của thời trước Tiền Hán. Từng có nhiều học giả biên soạn và ấn hành, nhưng bộ hoàn chỉnh đầu tiên do Hoàng Thiện Phu đời Nam Tống chế bản. Bản được coi là tương đối chuẩn mực ngày nay do Kim Lăng thư cục khắc in, rồi Trung Hoa thư cục xuất bản năm 1959.

Năm phần ghép thành một bộ sử có hình khối

Mỗi phần của bộ sử đảm một việc riêng, và chỉ khi đặt cạnh nhau, ba nghìn năm mới hiện ra đủ chiều sâu lẫn chiều rộng.

Mười hai bản kỷ là xương sườn của bộ sử, chép cuộc đời và sự nghiệp của các bậc đế vương cùng những đại sự quốc gia. Mười biểu ghi lịch sử các triều đại, các nhân vật và những sự kiện lớn của từng thời kỳ. Tám thư ghi những chế độ, chính sách lớn qua các triều, gồm lễ nghĩa, lịch pháp, thiên văn, thủy lợi, tiền tệ và pháp chế nhà nước. Ba mươi thế gia chép việc phong hầu, phong vương cùng công trạng của vương, hầu và những nhân vật xuất chúng có địa vị như vương hầu. Bảy mươi liệt truyện ghi lại các nhân vật thành danh trong mọi tầng lớp: nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà quân sự, danh thần, thương gia, hiệp khách, danh sĩ…

Toàn bộ tác phẩm lấy bản kỷ làm trục dọc, lấy liệt truyện làm trục ngang, dùng biểu và thư để bổ trợ, lấy thế gia làm khâu chuyển tiếp. Vì vậy nó thành một bộ thông sử có tính lập thể, soi cảnh yên ổn và rối loạn, hưng thịnh và diệt vong từ buổi Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế từ mọi góc độ một cách có hệ thống. Bố cục ấy mở đầu cho thể loại kỷ truyện thông sử và trở thành khuôn mẫu của sử sách đời sau.

Giá trị của bộ sử

Sử ký là kho sử liệu cực kỳ phong phú, là tổng tập về lịch sử Trung Hoa trước thời Tiền Hán. Nó chép rộng mọi sự kiện, mọi nhân vật, vượt khỏi khuôn khổ trước đây chỉ viết về vua chúa và quần thần, biến lịch sử thành lịch sử của con người, mở ra kỷ nguyên mới cho nghề viết sử. Nó còn là một bộ bách khoa toàn thư: ngoài chính trị, lịch sử, quân sự, kinh tế, còn đề cập rộng các lĩnh vực khoa học tự nhiên như thiên văn, lịch pháp, y học. Nó cũng là điển hình của sự kết hợp giữa lịch sử và nhân tính, vì mọi việc được kể xoay quanh con người, đem lại sức sống mới cho việc ghi chép lịch sử.

Về tư tưởng, Sử ký tiến bộ hơn hẳn các bộ sử trước. Tư Mã Thiên xếp Trần Thắng, người đứng đầu cuộc khởi nghĩa nông dân, vào hàng thế gia và nhiệt tình ca ngợi các cuộc khởi nghĩa ấy. Khi đánh giá nhân vật, ông không lấy thắng bại luận anh hùng: ông xếp Hạng Vũ vào bản kỷ và xếp Khổng Tử vào thế gia, đồng thời khẳng định mạnh mẽ những thành tựu phát triển kinh tế. Bộ sử vừa ghi lịch sử, vừa bình luận hiện thực, kết hợp hữu cơ lịch sử với đời sống đương thời, chẳng hạn vừa phê phán mạnh mẽ việc Hán Cao Tổ giết hại công thần, vừa khéo léo khuyên can vị vua đang cầm quyền là Hán Vũ Đế.

Xuất bản và ảnh hưởng ra nước ngoài

Ngoài bản của Hoàng Thiện Phu, còn có bản do Vũ Anh khắc vào năm thứ tư đời Càn Long nhà Thanh, được coi là bản chính thống, và bản do Trương Văn Hổ hiệu đính, Kim Lăng thư cục xuất bản vào năm thứ chín đời Đồng Trị. Đều là những bản hoàn chỉnh, biên soạn khá chặt chẽ. Trung Hoa thư cục dựa trên các bản này mà hiệu đính, ấn hành vào những năm năm mươi, và bản chỉnh lý xuất bản năm 1959 là bản gốc ấn hành sau cùng cho đến nay.

Sử ký được coi là chính sử của Trung Hoa, có ảnh hưởng sâu sắc đến Hán thư, Nhị thập tứ sử và các bộ sử đời Đường, Tống, Nguyên, Minh. Nó còn có vị trí cao trong lịch sử thế giới, nhất là ảnh hưởng đến Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam: Đại Nhật Bản sử, Tam quốc sử ký, Cao Ly sử và Đại Việt sử ký đều lấy thể kỷ truyện của Sử ký làm mẫu mực. Một số tư liệu trong đó rất bổ ích cho việc nghiên cứu lịch sử các nước Đông Nam Á như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Bản dịch tiếng Nga, Pháp, Anh, Đức, Nhật cũng đã ra đời.

Cuộc đời Tư Mã Thiên: từ vùng Hạ Dương đến nhà ngục

Có người cầm bút viết sử khi đứng giữa thời đắc ý, nhưng người viết ra bộ sử này lại cầm bút từ dưới đáy của nỗi nhục.

Tư Mã Thiên tự là Tử Trường, sinh năm 145 và mất năm 86 trước Công nguyên, là nhà sử học và nhà văn nổi tiếng của Trung Hoa cổ. Ông người đất Hạ Dương đời Hán, nay thuộc trấn Chi Châu, Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây, con của nhà sử học Tư Mã Đàm. Từ nhỏ ông học lịch sử, sớm theo thầy Đổng Trọng Thư học sách "Công Dương Xuân Thu" và theo nhà cổ văn Khổng An Quốc học "Cổ văn Thượng Thư". Hai mươi tuổi, ông rời kinh đô Tràng An đi về phương nam, khảo sát dọc vùng Giang Hoài đến tận Trung Nguyên. Sau đó ông làm Thị lang trung, từng theo Hán Vũ Đế đi tuần thú miền Tây, rồi phụng mệnh đến làm việc ở Ba Thục, Côn Minh và nhiều nơi khác. Học nhiều, đọc nhiều và từng trải đường đời, ông có đủ điều kiện để viết Sử ký.

Năm thứ ba niên hiệu Nguyên Phong (108 trước Công nguyên), ông kế vị cha làm Thái sử lệnh, trông coi thư viện hoàng cung và bắt đầu viết Sử ký. Năm thứ hai niên hiệu Thiên Hán, vì bênh vực Lý Lăng, ông bị Hán Vũ Đế bắt giam và chịu cung hình. Ra tù, ông làm Trung thư lệnh và quyết nối chí cha, hoàn thành bộ sử. Đến năm thứ hai niên hiệu Chinh Hòa (91 trước Công nguyên) bộ sử xong, nhưng mãi đến mấy năm sau khi ông qua đời, người cháu ngoại là Dương Huy mới cho lưu hành.

Cha là Tư Mã Đàm học vấn uyên bác nên ông chịu ảnh hưởng rất lớn. Việc chuẩn bị tư liệu cho Sử ký thật ra đã được Tư Mã Đàm triển khai, Tư Mã Thiên nhận lời ủy thác của cha mà biên soạn tiếp. Bộ sử là tâm huyết do hai cha con họ Tư Mã cùng dựng nên.

Vì sao Tư Mã Thiên cầm bút

Vào năm đầu niên hiệu Thái Sơ (104 trước Công nguyên), Tư Mã Thiên bắt đầu viết bản thảo và hiệu đính các bài của cha. Ngay khi dồn hết tâm sức nối chí cha, ông lâm nạn: vì bênh vực viên tướng bại trận Lý Lăng, ông khiến Vũ Đế nổi giận mà bị tống giam. Vì quyết nối chí cha hoàn thành Sử ký, ông nghiến răng chịu cung hình. Được ân xá, ông ra làm Trung thư lệnh, nhẫn nhục bền gan để viết cho xong bộ sử, và bộ sử hoàn thành chẳng bao lâu thì ông mất.

Theo những gì ông viết trong bài tự thuật của Thái sử công và trong "Báo Nhiệm An thư", động lực thôi thúc ông viết Sử ký có hai: một là tiếp tục hoàn thành tâm huyết của cha, hai là tố cáo sự tàn nhẫn của Hán Vũ Đế.

Cái chết của Tư Mã Thiên: tự tay đoạn tuyệt hay bị hãm hại

Bộ sử vừa xong thì người viết nó ra đi, và không ai để lại một dòng nói rõ vì sao.

Sử ký hoàn thành chẳng bao lâu thì Tư Mã Thiên qua đời. Nguyên nhân ra đi của ông, tự sát hay bị hãm hại, không có thông báo chính thức. Nhưng qua "Báo Nhiệm An thư", người ta thấy cả hai khả năng đều có thể.

Khả năng tự sát

Trong "Báo Nhiệm An thư", Tư Mã Thiên đau đớn tự bạch rằng mình chịu nhục oan tày trời, nhưng vì chưa hoàn thành Sử ký nên không thể chết, đồng thời ông phẫn nộ tố cáo hình phạt tàn nhẫn của chốn cung đình. Ở cuối bức thư, ông bày tỏ nỗi lòng thương cảm vô cùng: chỉ vì mở miệng bảo vệ một người mà mắc tội, làm xấu hổ dòng họ, bạn bè, làm nhục tổ tông, thì còn mặt mũi nào đến viếng mộ cha mẹ.

Lòng dạ rối bời, nghĩ sống không được, chết không xong. Mỗi lần nghĩ đến nỗi nhục oan uổng của mình, ông toát mồ hôi, dù thân làm quan trong lầu các cũng chỉ mong có cái lỗ để chôn mình. Cũng trong bức thư ấy, ông cho biết để viết Sử ký ông đã dồn tâm trí và sức lực của hơn nửa cuộc đời, nên sách chưa xong thì dù chịu nhục oan cũng nhẫn nại bền gan làm cho xong. Khi bộ sách đã hoàn thành, với cốt cách của một người liệt tiết, trung trực, khảng khái, ông đương nhiên không thể chấp nhận mãi sự vấy bẩn oan uổng. Vì vậy nói ông tự sát cũng không phải không có lý.

Khả năng bị hãm hại

Tư Mã Thiên là cận thần thân tín của Hán Vũ Đế nên rất hiểu nhà vua. Sử ký khẳng định mạnh mẽ công lao chấn hưng đất nước, mở mang bờ cõi và tài lược của Vũ Đế thời kỳ đầu và giữa triều, ca ngợi việc ông khiến nhà Hán cường thịnh, nổi tiếng trong ngoài. Nhưng bộ sử cũng thể hiện sự bất bình đối với thói ngạo mạn, ngang tàng, ác bá của nhà vua về cuối đời, và một số bài đã khéo léo ngầm phê phán. Tương truyền khi Hán Vũ Đế đọc "Cảnh Đế bản kỷ", ông rất giận về những ghi chép mà ông cho là sai trái của hai cha con họ Tư Mã, nên nhân chuyện Lý Lăng mà xử Tư Mã Thiên.

Chính "Báo Nhiệm An thư" rất có thể là nguyên nhân khiến ông bị hại thêm một lần nữa. Nhiệm An, tự là Thiếu Khanh, là bạn thân của Tư Mã Thiên. Ra tù, Tư Mã Thiên được Vũ Đế bổ làm Trung thư lệnh, là hầu thần của nhà vua nên nhiều dịp gần gũi, ông đã vì nể Nhiệm An mà viết thư tâu vua việc chiêu hiền đãi sĩ. Sau đó Nhiệm Thiếu Khanh được Vũ Đế bổ làm sứ giả giám quân bắc quân. Về sau vì bị buộc tội dính vào vụ án Thái tử mà bị Vũ Đế xử chết. Thật ra trong vụ Thái tử mưu đoạt ngôi vua, Nhiệm An vì trung với vua nên đứng yên không nhúc nhích, nhưng rốt cuộc lại bị xử ngược thành tội thần. Câu chuyện tương tự việc Tư Mã Thiên bênh Lý Lăng. Vì thế trong thư gửi Nhiệm An, Tư Mã Thiên toàn dùng lời lẽ lên án kẻ thống trị tối cao. Trước đó, những bài Sử ký do chính tay ông viết đã gây bất bình cho Vũ Đế. Trong "Báo Nhiệm An thư", ông lại một lần nữa bảo vệ Lý Lăng, tỏ lòng đồng cảm với những người bị nhà vua đích thân xử chết. Những việc làm ấy đương nhiên xúc phạm Vũ Đế thêm lần nữa, nên chuyện ông phải chết cũng không có gì lạ.

Không chỉ thế, nhiều năm sau khi ông mất, người cháu ngoại là Dương Huy mới công bố Sử ký. Đúng như Tư Mã Thiên từng nói, ông biên soạn bộ sử cốt để thiên hạ hiểu lịch sử và thời thế lúc bấy giờ. Vì vậy không thể có chuyện vừa đặt bút xuống ông đã đi tìm cái chết. Nếu quả thật ông bị hãm hại thì cái chết của ông có thể xem là cái họa văn chương số một và cái án oan số một của thiên hạ.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện