Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Đóng mở Càn Khôn: thái cực sinh lưỡng nghi đến bát quái

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/20264 phút đọc2 lượt đọc
Đóng mở Càn Khôn: thái cực sinh lưỡng nghi đến bát quái

Một cánh cửa đóng thì cánh kia mở, rồi đổi chỗ cho nhau mãi. Người xưa nhìn trời đất theo cách ấy, rồi lần ngược về cái đứng trước mọi cánh cửa…


Một cánh cửa đóng, một cánh cửa mở

Hãy hình dung một ngôi nhà có hai cánh cửa: cánh này đóng thì cánh kia mở, rồi đổi chỗ cho nhau. Người xưa nhìn trời đất theo cách ấy: Khôn là cánh cửa đóng, Càn là cánh cửa mở, và việc đóng mở đan xen chính là sự biến.

Thị cố hạp hộ vị chi Khôn, tịch hộ vị chi Càn; nhất hạp nhất tịch vị chi biến.

Cửa đóng gọi là Khôn, vì khí âm có tính thu liễm, cất giữ; cửa mở gọi là Càn; một lần đóng, một lần mở gọi là biến. Theo phần giải thích, Càn là cửa của Dịch: Càn mở cổng trời, Khôn khép cửa đất. Đóng và mở cũng chính là động và tĩnh: Khôn chủ về tĩnh nên tượng trưng cho đóng, Càn chủ về động nên tượng trưng cho mở. Động tĩnh là đặc tính của Càn Khôn, còn đóng mở là cách động tĩnh ấy được dùng trong thực tế.

Từ ý tưởng này, y học cổ truyền Trung Hoa rút ra cặp khái niệm "cửa trời, cửa đất" trong thiên về vận khí của Nội kinh. Có đoạn viết về những mốc đặc biệt của năm, gọi chúng là cửa của trời đất; khi tiết hậu bắt đầu thì đạo sinh ra, không thể không thông. Xuân phân chỉ sự mở: mặt trời ấm dần, ngày dài dần, giống như cánh cửa trời đang mở. Thu phân chỉ sự đóng: mặt trời mát dần, đêm dài dần, giống như cửa đất khép lại. Đóng mở của Càn Khôn vì vậy cũng là nhịp dương vào âm ra, âm vào dương ra.

Chữ đóng mở còn có một tầng nghĩa nữa: sự phối hợp tác động lẫn nhau của khí âm dương. Một chia thành hai gọi là mở, hai hợp thành một gọi là đóng. Nội kinh đã tiếp thu lý luận ấy trong bàn về âm dương li hợp: ba kinh dương có thái dương là mở, dương minh là hợp, thiếu dương là chốt; ba kinh âm cũng theo đường tương tự. Nhờ ý tưởng về đóng, mở và chốt, thầy thuốc xưa dựng nên lý luận "ba âm, ba dương" để biện chứng và chữa bệnh.

Thái cực sinh ra hai nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng

Từ một cánh cửa đóng mở, người xưa lần ngược về cái trước nhất của mọi cánh cửa.

Thị cố Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái.

Dịch có thái cực, thái cực sinh hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh tám quẻ. Theo lời giải thích, thái cực là cái chưa chia của vũ trụ, bao chứa hai khí âm và dương, tức hào âm đứt và hào dương liền. Hai vạch ấy chồng lên nhau theo một qui cách nhất định, thành bốn hình gọi là tứ tượng: thái dương, thiếu âm, thiếu dương, thái âm. Từ bốn tượng lại thêm một vạch nữa thành tám quẻ là Khôn, Cấn, Khảm, Tốn, Chấn, Li, Đoài, Càn. Tám quẻ chồng lên nhau theo một cách nhất định thành sáu mươi bốn quẻ.

Lời giải còn nêu một cách hiểu khác: thái cực là bản thể của vũ trụ, hai nghi là trời và đất, bốn tượng là bốn mùa, trời đất sinh ra bốn mùa. Hai cách hiểu không loại trừ nhau, vì cả hai đều nói về cùng một dòng chảy: từ cái nguyên thủy chưa phân đến cái muôn hình muôn vẻ. Cái nhìn ấy cho người ta một niềm tin rằng sau mỗi nhánh rối rắm đều có một thân cây chung.

Có một chi tiết nhỏ trong cách đặt tên: ở cấp bốn tượng, tên đã có hai chữ "thái" và hai chữ "thiếu", nghĩa là lớn và nhỏ. Cùng một âm hay một dương cũng còn có mức độ, và nhờ đó sự chuyển đổi không nhảy vọt mà đi qua từng tầng.

Hai khí cùng một cánh cửa

Mở và đóng nghe như hai việc ngược nhau, nhưng thật ra chúng thay phiên để giữ cho nhịp sống không đứt.

Từ điểm này, người ta rút ra một nguyên tắc cho đời thường. Làm việc mà chỉ biết mở thì tản mạn, hết sức; chỉ biết đóng thì bí bách, ngưng trệ. Người sống có nhịp biết lúc nào mở lòng ra với người, lúc nào khép cửa nghỉ ngơi. Quẻ dương trở lại sau mùa đông dài là một hình ảnh minh họa: cánh cửa đất khép suốt mùa lạnh, rồi khe sáng đầu tiên lọt vào từ một vạch nhỏ ở đáy quẻ.

Chuyện đóng mở cũng gắn với sự lên xuống của thời vận. Các triều đại, các cuộc thịnh suy trong đời người đều có lúc mở, lúc đóng, và người xưa thích đọc những vòng xoay của thời vận bằng đúng ngôn ngữ ấy. Khi cửa đang đóng, người khôn không đập vào cửa mà chờ chốt xoay; khi cửa mở, người khôn không đứng lì ngoài ngạch mà bước vào. Biết nhìn nhịp ấy cũng là biết đọc lẽ biến của Dịch.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện