Bài tổng quan
Hoành Sơn một dải, Cao Bằng đất nhỏ: ba lời đáp của Trạng
Có người hỏi kế mà ông chỉ tay vào đàn kiến trên hòn non bộ, có người hỏi mà ông bảo vứt chiếc chiếu ra sân, có người hỏi mà ông quay sang nói chuyện thóc giống với người đầy tớ. Mỗi lần như thế, người nghe phải tự đoán nghĩa, và đoán sai là mất cả cơ nghiệp…
Đàn kiến trên hòn non bộ
Sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, võ tướng Nguyễn Kim, con ông Nguyễn Hoàng Dụ, chạy sang Lào theo vua Lê Chiêu Tông và được vua Lào cho nương náu ở xứ Cẩm Châu. Năm Quý Tỵ (1532), Kim lập con út của vua Chiêu Tông lên ngôi, hiệu Trang Tông. Trong việc mưu đồ đại sự ấy, Kim thu nạp thêm một kiện tướng thảo dã ở Thanh Hóa là Trịnh Kiểm.
Năm Canh Tý (1540) Nguyễn Kim đánh vào Nghệ An. Hai năm sau quân Trang Tông tiến ra Thanh Hóa, đến năm 1543 thì Kim nắm hẳn Nghệ An và thu phục cả Tây Đô. Năm Ất Tỵ (1545) Nguyễn Kim bị ngộ độc mà chết, binh quyền rơi về tay Trịnh Kiểm. Lúc ấy nước Việt chia làm hai: từ Sơn Nam trở ra thuộc ảnh hưởng nhà Mạc, gọi là Bắc triều; từ Thanh Hóa trở vào là vùng của nhà Lê, gọi là Nam triều.
Trịnh Kiểm thay Nguyễn Kim, giúp nhà Lê trung hưng và nắm trọn quyền bính. Vốn tính đa nghi, Kiểm giết người em vợ là Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng, em Nguyễn Uông và là con Nguyễn Kim, sợ bị hại, bèn sai người đến hỏi kế Cụ Trạng. Cụ không nói gì nhiều, chỉ trỏ vào đàn kiến đang bò trên hòn non bộ rồi mỉm cười.
Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân.
Nghĩa là một dải Hoành Sơn có thể dung thân. Nguyễn Hoàng theo lời, xin đi trấn thủ vùng Thuận Hóa ở phía nam dãy Hoành Sơn. Quả nhiên cơ nghiệp ông mỗi ngày một thịnh, rồi mở ra nghiệp lớn của nhà Nguyễn, truyền nối lâu dài.
Một chỉ tay vào đàn kiến đã mở cho họ Nguyễn con đường về phương Nam. Còn với nhà Mạc, lời đáp của ông lại đến vào lúc ông nằm trên giường bệnh.
Từ cửa quan về am Bạch Vân
Từ khi có bộ Thái Ất thần kinh trong tay, Trạng thấu những điều huyền vi của trời đất, tiếng tăm về khoa lý số vang xa. Lúc ấy Mạc Đăng Dung đã đoạt ngôi nhà Lê và lập ra nhà Mạc. Ông đoán biết nhà Lê sớm muộn cũng trung hưng, nên ở ẩn, dạy học, chờ khoa thi của nhà Lê. Nhưng sau đó bất đắc dĩ ông phải ra dự khoa thi của nhà Mạc vì tuổi đã ngoài bốn mươi. Ông đỗ giải nguyên khi 44 tuổi và đỗ Trạng nguyên năm 45 tuổi, niên hiệu Đại Chính, đời vua Mạc Đăng Doanh.
Đỗ Trạng, ông được nhà Mạc cử làm Tả thị lang, Đông các đại học sĩ và phong tới tước Trình Tuyền hầu. Làm quan được tám năm, thấy triều Mạc lúc ấy không hợp, cũng không xứng đáng để ông dốc sức phò tá, ông xin cáo quan về nghỉ. Về làng, ông dựng một am gọi là am Bạch Vân, lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ. Ở đấy ông sống thanh nhàn ẩn dật, hằng ngày cùng các vị sư hoặc chèo thuyền xem đánh cá ở vùng Hồ Hải, Úc Hải, hoặc lên những nơi thắng cảnh như Yên Tử, Ngoạ Vân, Kính Chủ, Đồ Sơn. Trong những ngày ngao du ấy ông để lại hai câu thơ.
Ngư ông bất ngộ Đào nguyên khách,
Khởi thức hưng vong thế cổ kim.
Nghĩa là: người đánh cá nếu không gặp khách nguồn Đào, sao biết được chuyện hưng vong xưa nay. Ý ông muốn nói mình đã lánh xa cuộc thế, cũng như anh chàng đánh cá xưa kia lạc tới chốn nguồn Đào. Ngoài việc ngao du sơn thủy, ông còn tu bổ chùa chiền, dựng một cây cầu hóng mát trên sông Tuyết Giang để cùng học trò ra đó nghỉ ngơi, đàm luận. Vì thế khi ông mất, các môn sinh tôn ông là Tuyết Giang Phu tử.
Tuy từ quan ở ẩn, ông vẫn được nhà Mạc kính trọng như bậc thầy, hễ có việc quan trọng lại sai sứ đến hỏi. Với lòng vô tư, ông cũng giúp nhà Mạc nhiều việc. Về sau nhà Mạc phong cho ông chức Lại bộ thượng thư, Thái phó Trình quốc công, nên người đời gọi ông là Trạng Trình. Người Trung Hoa nghe danh cũng có câu nói: An Nam lý học có Trình Tuyền. Vì thế không chỉ vua tôi nhà Mạc, mà cả chúa Trịnh lẫn chúa Nguyễn cũng thường xin ý kiến ông.
Khi ông bệnh nặng, vua Mạc Mậu Hợp sai con đến thăm và hỏi về kế sách mai sau. Ông đáp: đất Cao Bằng tuy nhỏ hẹp, cũng đủ dung thân được vài đời.
Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế.
Nhà Mạc nghe lời dặn, khi thất thế chạy lên chiếm cứ Cao Bằng. Quả nhiên họ làm vua thêm được vài đời nữa. Tính trước sau, họ giữ được gần bảy mươi năm mới bị nhà Lê đánh bại hẳn.
Còn chúa Trịnh, vốn cầm cả triều đình trong tay, lại nhận được một lời đáp chẳng cần mở miệng.
Chiếc chiếu ngoài sân và hạt giống cũ
Khi nhà Lê đã trung hưng, lấy miền Thanh Nghệ làm căn cứ tiến mạnh ra kinh đô, Trịnh Kiểm cho người đến hỏi ông kế "hưng Lê diệt Mạc". Ông chẳng đáp một lời, chỉ sai người nhà vứt chiếc chiếu ra sân. Sứ giả về tâu lại, cả triều đình không ai hiểu. Chúa Trịnh phải mời Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đến đoán giúp. Trạng Bùng đoán rằng đó là câu "tịch quyển trường khu", nghĩa là phải đánh nhanh gọn như cuộn chiếu. Chúa Trịnh theo đó mở cuộc phản công, nhà Mạc thua tan tác.
Vua Trang Tông không có người nối dõi theo dòng đích tôn của vua Thái tổ, Trịnh Kiểm nắm hết quyền hành, định tự lập làm vua nhưng còn do dự vì chưa chắc lòng người. Kiểm bí mật sai sứ ra Hải Dương hỏi ý kiến Trạng. Lần này ông trả lời gián tiếp: ông quay sang bảo người đầy tớ rằng năm ngoái mất mùa, thóc giống không tốt, phải đi tìm giống cũ mà gieo mạ. Rồi ông sai đầy tớ ra bảo chú tiểu quét chùa dâng hương để ông ra chơi, và nói với chú tiểu: giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản.
Sứ trở về thuật lại từng lời, từng cử chỉ. Kiểm hiểu ý, bỏ dự định cướp ngôi nhà Lê, rồi tìm được người cháu của ông Lê Trừ, anh ruột vua Thái tổ, tên là Duy Bang, ở làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, đem về lập làm vua. Về sau con cháu chúa Trịnh nhiều lần muốn đoạt ngôi vua Lê, nhưng ông đều khuyên can khéo bằng một câu.
Lê tồn, Trịnh tại;
Lê bại, Trịnh vong.
Nhà Lê suy yếu, nhà Trịnh thâu tóm hết quyền hành, nhưng thiếu họ Lê thì họ Trịnh không đứng vững được. Quả nhiên đến đời vua Chiêu Thống, ngai vàng nhà Lê mất thì dòng Trịnh cũng chẳng còn ngôi chúa nữa.
Ba lời đáp cho ba nhà chỉ cần vài chữ. Nhưng với những người không cầm quyền, những người chỉ muốn biết nên đứng ở đâu giữa buổi loạn, vị Trạng ấy để lại cả một chuỗi lời khuyên bằng thơ.
Những câu sấm khuyên người đứng giữa thời loạn
Trong bài sấm có những khổ không gắn với một biến cố cụ thể nào, mà đọc lên như lời dặn của người già với kẻ trẻ. Khổ đầu bàn chuyện vội vàng của những người trai chí cả, chạy rong khắp nơi mà chưa biết xem hướng, chọn thời.
Thương những kẻ nam nhi chí cả,
Chớ vội sang tất tả chạy rong.
Học cho biết chữ cát hung,
Biết phương hướng đứng chớ dừng lầm chi.
Hễ trời sinh xuống phải thì,
Bất kỳ nhi ngọ tưởng gì đợi mong.
Khổ sau nói về những người vội lòng phú quý. Chưa xem lại mình, trong người chẳng có gì, thì dù có gặp ông lão đánh cá, cái lưới đăng kia cũng khó mà nên công.
Kìa những kẻ vội lòng phú quý,
Xem trong mình một tí đều không.
Ví dù có gặp ngư ông,
Lưới đăng đâu dễ nên công mà hòng.
Rồi ông khuyên bậc quân tử đang gặp thời giữ lòng trung, và nhớ rằng lẽ âm dương, những phép tính của Thái Ất, Thái Nhâm đều nằm sẵn ngay trong mình.
Khuyên những đứng thời trung quân tử,
Lòng trung nghi nên giữ cho mình.
Âm dương cơ ngẫu hộ sinh,
Thái Nhâm, Thái Ất trong mình cho hay.
Có khổ nhắc đến buổi ngai vàng nghiêng ngả và một vị minh chủ chưa lộ diện. Ông tả vị ấy là người tài thao lược, sâu rộng về văn, hiên ngang mà không ai biết trước, trong khi những kẻ khoe trí khoe năng thì đang ra sức cấm đoán, hung hăng với người.
Đấng hiên ngang nào ai biết trước,
Tài thao lược yêm bác vu văn.
Ai còn khoe trí khoe năng,
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.
Một khổ khác tả vị thánh nhân ấy từ nơi xa đến: ở phía bắc Thái Nguyên, đường xa vời vợi, ai tìm thấy mới là bậc thần minh. Dung mạo uy nghi khác thường, người ấy ẩn mình ở một góc đất phương Tây, cùng nhau khuya sớm chăn nuôi, chờ cơ hội mới ra đời cứu dân.
Thái Nguyên cận Bắc đường xa,
Ai mà tìm thấy mới là thần minh,
Uy nghi dung mạo khác hình,
Thác cư một góc kim tinh phương Đoài.
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi,
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân,
Binh thư mấy quyển kinh luân,
Thiên văn, địa lý, nhân dân, phép mầu.
Người ấy hiểu ý trời để mở đường, sinh ra để điều hòa việc nước. Như hai vầng nhật nguyệt cùng soi, bậc thánh nhân chẳng ai biết thì cứ coi như vắng mặt. Trí thông minh kim cổ khác thường, sáng suốt như vua Thuấn vua Nghiêu, tài giỏi như vua Hán Cao tổ và vua Quang Vũ.
Xem ý trời ngõ hầu khải thánh,
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai.
Song thiên nhật nguyệt sáng soi,
Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường.
Thông minh kim cổ khác thường,
Thuấn, Nghiêu là trí, Cao Quang là tài.
Ông còn nhắc rằng nước Nam thường có bậc thánh tài, và khi ấy, ai là người hiểu rõ sơn hà đặt vững thế nào sẽ được ghi tên nơi vân đài, công danh rạng rỡ.
Ngõ mây gặp hội mây rồng,
Công danh rạng rỡ chép trong vân đài.
Nước Nam thường có Thánh tài.
Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường?
Ông cũng nói về đạo trị dân. Muốn yên dân mà lại bắt dân ghê sợ thì không thể yên, muốn bình định thì phải dùng nhân chứ không dùng cách khác.
Chưa từng thấy nay đời sự lạ,
Chốc lại mòng gá vạ cho dân.
Muốn bình sao chẳng lấy nhân,
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình.
Rồi ông viết về những kẻ bàng quan, cờ đã tan mà còn muốn chống xe, còn lên mặt áo mũ, xe ngựa khoe khoang. Chúng ví như thau lẫn với vàng, nhưng vàng thử lửa càng cao giá. Khi thánh nhân ra đời, mây tan tuyết tán, mọi sự sáng tỏ khắp nơi.
Nực cười những kẻ bàng quan,
Cờ tan lại muốn toan đường chống xe.
Lại còn áo mũ xum xoe,
Còn ra xe ngựa mầu mè khoe khoang.
Ghê thay thau lẫn với vàng,
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng.
Thánh ra tuyết tán mây tan,
Bấy giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.
Còn một khổ nữa tả cảnh việc nước bời bời, nhưng trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân, oai phong khiến quỷ thần phải kinh sợ, nhân nghĩa vang xa, trăm họ ngợi ca.
Can qua, việc nước bời bời,
Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân,
Oai phong khấp quỷ kinh thần.
Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca.
Nguồn: Nguyễn Nghiệp (sưu tầm), Trạng Trình – Sấm và Ký.
