Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Chín cung và mười hai chi: đường đi của nguyên khí trong Thái Ất

Bói Dịch - Nhập môn03/10/202612 phút đọc3 lượt đọc
Chín cung và mười hai chi: đường đi của nguyên khí trong Thái Ất

Bàn Thái Ất chỉ có chín cung, nhưng một năm lại chia mười hai tháng, một ngày mười hai giờ. Khí của trời đi qua hai hàng số lệch nhau ấy ra sao, và vì sao có chỗ khí đổi chiều, có chỗ dương hết mà âm chưa kịp đến? Cung nào ngồi ở chỗ ấy, và những năm nào đã ứng với nó…


Vì sao chín cung phải mượn mười hai chi

Bàn Thái Ất chỉ có chín cung, nhưng giờ giấc, tháng năm lại chia mười hai phần. Muốn biết khí của trời đi trên bàn ra sao, phải đặt hai hàng số ấy chồng lên nhau.

Chi là cành, đối với can là gốc. Chi dùng để gọi đêm, gọi giờ, gọi tháng. Trên bàn Thái Ất, chín cung quý thần được ghép với mười hai chi để thành bầu trời mười sáu thần. Vì vậy trước khi đọc từng cung, người xưa dừng lại hỏi: mười hai chi mang nghĩa gì khi chúng đứng vào chín cung, và đường đi của khí gốc chạy qua đó ra sao.

Đường đi ấy gọi là đường vận hành của nguyên khí. Nó không chạy thành một vòng tròn đơn giản mà chia thành hai loại vòng: vòng dương đạo và vòng âm đạo, lại có vòng trong và vòng ngoài. Chồng các vòng lại thì thành một trật tự hiện tượng và số độ, giống nét vẽ của hình sao chạy lên chạy xuống, ngang dọc đan nhau. Hình vẽ đường này được gọi là chữ Thời.

Chữ Thời: vòng trong trợ chủ, vòng ngoài trợ khách

Trên bàn Thái Ất có một nửa cung ở trong và một nửa cung ở ngoài, và hai nửa ấy nghiêng về hai phía khác nhau.

Các cung ở vòng trong là những cung trợ cho chủ, đi từ Kiền đến Thìn theo thứ tự số 1, 8, 3, 4. Các cung ở vòng ngoài là những cung trợ cho khách, đi từ Tốn đến Tuất theo thứ tự số 9, 2, 7, 6. Bốn cung số lẻ ở bốn góc của bàn được xem như bốn cửa, mỗi cửa gộp với hai chi hai bên nó:

  • cửa thứ nhất gồm Tuất, Kiền, Hợi;
  • cửa thứ hai gồm Sửu, Cấn, Dần;
  • cửa thứ ba gồm Thìn, Tốn, Tị;
  • cửa thứ tư gồm Mùi, Khôn, Thân.

Tý và Ngọ: hai chỗ khí đổi chiều

Có hai điểm trên vòng trời mà khí không còn đi thẳng nữa, một điểm ở đáy và một điểm ở đỉnh. Người xưa gọi chung là khí rời.

Cung Tý được ghép với số 8, mang tên Địa Chủ, ngồi ở cung Khảm. Đối xung với Tý là Ngọ, được ghép với số 2, ứng quẻ Ly. Chữ Ly vừa có nghĩa là rời, vừa có nghĩa là sáng, là văn minh.

Tý là nơi tháng Tý được dựng, còn có tên cổ là Du thần. Ở đây dương khí mới bắt đầu động, muôn vật mới du sinh ở dưới đất. Từ Tý, dương khí lớn dần cho đến Thìn, nơi nó thuần dương như cung Kiền. Tới Thìn, dương khí đạt chỗ cực tuyệt. Nói cách khác, dương khí lớn lên giữa lòng đất âm, và khi dương đến cực thì lại tuyệt ở chỗ âm. Khi âm tuyệt ở đất dương thì phép tượng số gọi là âm phục, dương tàng, tức là cái này nấp xuống để cái kia nhô lên.

Qua một thời nấp thì đến thời trở lại. Từ đây khí dương sinh, khí âm sinh, nghĩa là bắt đầu có sự rời đổi của khí: dương sinh nghĩa là âm rời đổi ở Tý, âm sinh nghĩa là dương rời đổi ở Ngọ. Tý và Ngọ đối nhau, một bên là lúc một dương mới sinh, một bên là lúc một âm mới sinh. Chính vì khí rời nên hai cung này còn được gọi là dương tạp hoặc âm tạp. Tượng của khí rời là động, là giao, là sinh, và nó tạo nên lẽ trở lại, đầy rồi vơi, vơi rồi đầy.

Tiêu và Tức: sáu bước dương lùi, sáu bước dương tiến

Nghe thì trừu tượng, nhưng người xưa chép lại rất cụ thể bằng sáu quẻ đi xuống và sáu quẻ đi lên.

Khí dương mới rời ở Ngọ tạo ra tượng quẻ theo lối Tiêu, nghĩa là bớt dương thêm âm. Bắt đầu từ sáu hào dương của quẻ Kiền, mỗi lần một hào dương bị âm thay vào: sáu dương rồi năm dương, bốn dương, ba dương, cho đến khi toàn âm. Dọc đường ấy đi qua các quẻ Cấu, Độn và Bĩ, cuối cùng là Khôn. Khí âm mới rời ở Tý tạo ra tượng quẻ theo lối Tức, nghĩa là bớt âm thêm dương. Từ Khôn thuần âm, một dương sinh thì thành Phục, hai dương sinh rồi ba dương sinh thì thành Thái, và cứ thế đi lên.

Gộp cả hai chiều lại, đó là quá trình sáu đợt biến.

Đầy và vơi giữa trời và đất

Nếu khí đi lên rồi đi xuống như thế, thì họa và phúc cũng không thể đứng yên một chỗ.

Lẽ Tiêu Tức này là lẽ dương lớn lên ở trong đất thì âm sinh ở trên trời. Người xưa đặt tên cho nó là Thiên Địa Doanh Hư: trời đất, đầy và vơi. Gốc của đạo là hai khí âm dương hòa hợp, khi động, khi tĩnh, khi lưu hành. Câu quen thuộc nói một âm một dương hòa nhập vào nhau thì gọi là đạo. Cái lý của đạo nằm ở chỗ hòa hợp ấy, tức là lấy tượng và lấy số làm một, lấy cái một âm sinh và cái một dương sinh dẫn độ lưu hành qua chín cung quý thần để ban bố ra mười sáu thần, và qua đó thấy sự đầy, sự vơi, sự trở lại, sự phân.

Theo đúng lý thì phúc, trái lý thì họa. Tám chữ tóm lại: đầy vơi, nghịch phân, họa phúc, loạn hưng. Trời đất đầy vơi thì họa phúc đắp đổi cho nhau. Họa gửi nhờ trong phúc, phúc núp náu trong họa. Người hiểu sâu thì xem tượng và số, người thường thì chỉ xem cửa trời đất quỷ thần. Cũng theo lý ấy mà xét thì loạn có thể sinh ra từ hưng, từ thịnh, nên loạn và lý cùng đan vào nhau. Toán hòa, khí thuận thì thành phúc. Toán không hòa, khí không thuận thì thành sai trái và mang họa. Đó là tự nhiên.

Khi cung khí thuần âm hoặc thuần dương mà gặp năm có các thế xấu như tù, bách, tính, đối, yểm, đề, cố, rồi Thái Ất, Văn Xương, các đại tiểu tướng chủ khách đều đóng ở cùng một loại thuần dương hay thuần âm, thì năm ấy rất hung hiểm, có đại loạn và nhiều người chết.

Cấn: cửa của cõi tối

Sau Tý, Ngọ là đến các cung còn lại, mỗi cung một tên, một việc, một mùa.

Cung Cấn được ghép với số 3, làm Cửa Quỷ U Minh, còn gọi là Cửa Xích Quỷ. Cấn là Thổ ở trung ương, cùng với Khôn, vì Khôn chủ về hậu phi thuộc Thổ. Cấn là nơi dương giao thái, vạn vật bắt đầu tụ lại, nên được gọi là Hòa Đức, nạp cả Sửu lẫn Dần trong cửa U Minh.

Chấn: dương khí vào độ đẹp nhất

Cung Chấn rơi vào đất Mão, được ghép với số 4, là lúc tiết Xuân Phân khí giao nhau. Chấn là dương khí tráng kiện, sinh khí hảo toàn, tượng cho người con trai. Tuy nhiên, giao ở đây là dương thịnh, và dương thịnh thì sau đó dần suy cho đến tuyệt.

Mão là tượng khí Mộc và đức Nhân ở độ đại vượng. Chữ Mão xưa liền với chữ Mậu, chỉ vạn vật tươi tốt, cũng chỉ lúc trăng mọc, chủ phương Đông, làm cung mùa xuân. Nhưng càng mạnh thì càng đi vào chỗ tạm suy rồi tạm tuyệt, rồi khí dương đi vào chỗ tuyệt dương ở cung thuần âm Tốn 9.

Trung cung và Đoài: không vào giữa, vào thu

Trung thiên cực tóm thâu tám phương. Thái Ất không bao giờ vào cung giữa, nên cung giữa được gọi là cung Vô Vi, ghép với số 5. Đây là điểm đặc biệt của bàn Thái Ất: chỗ trung tâm bỏ trống, mà mọi chuyển động đều quanh nó.

Cung Đoài ghép số 6, ở địa vị Dậu, chỗ thu phân khí giao. Khí âm lưu hành đến độ túc sát. Dậu được gọi là Đại Tộc, nghĩa là nhóm cả, vì vạn vật đến lúc thành thục thì được phân loại, chia nhóm. Chia ra tức là tạm suy rồi tạm tuyệt. Đoài 6 đối với Mão 4, cả hai đều là đất khí tuyệt. Đoài là đất thuần âm, bắt đầu cuộc âm tuyệt ở đất Kim, ứng với đức Kim của cung Kiền 1.

Khôn: số bảy và cửa đất

Cung Khôn mang số 7, gộp cả Mùi và Thân, làm Cửa Địa Hộ. Khôn tượng cho con số 1 đã vượt qua 6 để tiến tới 7, ý nói khí dương đã biến ra thuần âm, ôn dương mất dần, âm khí xâm chiếm hết. Thuần âm ở Mùi được gọi là Thiên Đạo.

Khôn đối với Cấn, cùng là Thổ ở trung ương, chủ hậu phi, được tên Đại Vũ. Khôn bao Mùi vì Mùi là thổ thần đã được hai âm sinh, đủ sức sinh Kim, đúng theo định luật Thổ sinh Kim. Vậy Kim ở vào Thân là lúc kim khí đã vượng, vì Kim gốc sinh ở Tị và vượng ở Thân trong vòng trường sinh. Nhưng vượng thì lại sinh túc sát, nên từ từ rơi vào đất suy. Thân vì thế mang tên Vũ Đức.

Khảm: ngồi ở Bắc mà hướng về Nam

Cung Khảm ở chính Bắc, đứng sau Tý, ghép số 8, thuộc Thủy, làm Địa Chủ, còn gọi là Đoan Môn. Đoan nghĩa là ngay ngắn: ngồi ở Bắc mà chầu hướng sang Nam.

Khảm là phương chính Bắc ứng với cung Tử Vi của Thái Ất, nên phải hướng về Ly, nơi rực sáng. Hướng theo đó mà cai trị thì lấy đức sáng của văn minh để giáo hóa, mệnh danh là Đại Uy của Ngọ, của lửa thuần dương. Hạ chí khí giao ở Ly, lúc ấy vừa có âm sinh, tức khí bắt đầu rời khỏi dương. Đông chí khí giao ở Khảm, lúc ấy bắt đầu có dương sinh, tức âm bắt đầu có thay đổi.

Tốn: nơi vòng sao đi hết, nơi dương tuyệt

Cung cuối cùng của vòng sao là cung dễ sinh chuyện nhất, vì ở đó dương hết, âm bắt đầu.

Cung Tốn mang số 9, được gọi là Đại Linh, là chỗ Thái Ất vào cung tận cùng của vòng sao. Tốn là đất dương tuyệt. Nó thâu tóm cả Thìn, đất Thái Dương thuần dương, lẫn Tị, đất của Đại Thần dương tạp. Cung này diễn tiến theo cung thuần âm để chuẩn bị cho việc Xuân Hạ giao nhau và ánh sáng trời đất, để vạn vật phát huy hào quang.

Thìn là chỗ dương đã mậu của vạn vật, mang tên Thái Dương. Tị là lúc sáu số dương đã thành, nghĩa là chỗ cực thịnh. Tốn là thần trời Thái Ất, tượng cho gió trời ra khỏi đất Càn, tức là thông. Có câu "thông Càn xuất Thiên", cũng ngang với câu "xuất Càn nhi Vị thủy", dẫn đến hệ luận về ngũ hành: trời một sinh Thủy, đất sáu thành Thủy. Khi khí dương tuyệt ở Tốn, nghĩa là dương tuyệt trong âm, từ đó Tốn 9 là cung thuần âm, đối với cung Càn 1 là cung thuần dương.

Vì thế, năm nào bàn Thái Ất có các thế xấu như tù, bách, tính, yếm, kích, mà Thái Ất, hai mắt Văn Xương và Thủy Kích lại vào Tốn, thì có nạn quân phương Bắc đến xâm lấn.

Những năm đã được dùng để kiểm chứng cung Tốn

Có những năm bàn Thái Ất đặt Thái Ất ở Tốn, lại kèm tù, bách, kích, ép, yếm, và đối chiếu với các cuộc xâm lăng đã xảy ra thì thấy khớp:

  • năm Ất Dậu 1285, quân Mông Cổ xâm lăng nước Việt, bị Trần Hưng Đạo đánh bại ở Hàm Tử;
  • năm Đinh Hợi 1287, giặc Nguyên sai Thoát Hoan cùng Ô Mã Nhi sang xâm lăng, bại trận ở Vân Đồn và Bạch Đằng, Thoát Hoan bỏ chạy năm 1288;
  • năm Ất Dậu 1405 và Đinh Hợi 1407, quân nhà Minh sang xâm lăng và đô hộ suốt hai mươi năm, đến năm 1427 mới bị Lê Lợi đuổi đi;
  • năm Tân Dậu 1861, Pháp đánh chiếm Gia Định;
  • năm Quý Dậu 1873, Pháp hạ thành Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định và Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên;
  • năm Ất Dậu 1945, chiến tranh Việt Pháp bùng lên khi Pháp theo quân đội Anh vào Sài Gòn, chiếm lại nước Việt Nam từ vĩ tuyến mười ba trở vào Nam.

Ngoài nước Việt còn có năm Ất Dậu 1885, Pháp xâm lăng Phúc Kiến ở Trung Hoa; và năm Ất Hợi 1935 ở châu Âu, Ý xâm lăng Ethiopie, mở màn thời kỳ tiền chiến tranh thế giới, trong khi Hitler vi phạm hòa ước Versailles, Nhật tuyên bố ra khỏi Hội Quốc Liên.

Lẽ hòa và không hòa, đặt nền cho cách tính toán

Mọi phép toán Thái Ất đều dựa vào việc xét âm dương có hòa hay không bằng sự phối hợp của con toán. Dương không đứng riêng mà sinh, âm không đứng riêng mà thành. Một dương động mà sinh, một âm động mà thành, hai bên mới làm nên đạo. Toán hòa, khí thuận thì thành điều may lành. Toán không hòa, khí không thuận lại nghịch, thì thành sai trái. Đó là lý tự nhiên.

Âm dương hòa hay không hòa đều do Thái Ất, chủ khách nhị mục cùng ở trong một cung thần.

Đó là lời của Trương Lương, nói rằng người muốn biết khí hòa hay lệch thì phải nhìn vào cung đang giữ hai mắt của Thái Ất.

Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn