Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Số Âm Dương thuận mùa sinh, tiết khí nguyệt lệnh và vòng quay Phục, Cấu

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Số Âm Dương thuận mùa sinh, tiết khí nguyệt lệnh và vòng quay Phục, Cấu

Cùng một con số, sinh vào tháng này là phúc, sinh vào tháng khác lại thành họa. Bốn mùa, mười hai quẻ nguyệt lệnh và một vòng Âm Dương lên rồi xuống quyết định điều đó... Vòng ấy khởi đi từ đâu?


Số thuận mùa hay nghịch mùa: phép đo khó nhất của Hà Lạc

Trong mười thể cách tốt xấu, số là phần lượng khó tính nhất và phức tạp nhất, vì phải phối hợp với mùa sinh, với tiết khí của lịch âm dương và với quẻ nguyệt lệnh. Số lại được chia làm ba hạng: bất túc là ít, trung hòa là vừa, thái quá là nhiều, để xem thuận thời hay nghịch thời. Rồi còn phải luận riêng những trường hợp đặc biệt như cô âm, cô dương, số lệch âm, số lệch dương.

Ở đây chỉ trình bày những nét chính yếu cho giản dị dễ nhận xét, chứ không đi vào các chi tiết tỉ mỉ. Đầu tiên là số đối chiếu với bốn mùa.

Bốn mùa và con số thuận với mỗi mùa

Mùa xuân: ba tháng Dần, Mão, Thìn

Theo âm dương lịch, mùa xuân gồm ba tháng Dần, Mão, Thìn, tức tháng giêng, tháng hai, tháng ba. Thời tiết ôn hòa, ngày đêm dài ngắn không chênh nhau nhiều. Khoảng tháng hai gọi là trọng xuân, có ngày xuân phân, ngày và đêm bằng nhau ở cả hai bán cầu. Ngày đêm bình phân nên cảnh cũng đẹp: ngày xuân bóng thiều quang ấm áp, đêm xuân giấc điệp mơ màng, chẳng trách thi hào Lý Bạch say rượu say thơ.

Tá vấn thử hà nhật, xuân phong ngữ lưu oanh.

Câu ấy nghĩa là: ướm hỏi hôm nay là ngày nào mà trong gió xuân, chim oanh vàng đang thỏ thẻ. Vì vậy tuổi nào sinh vào mùa xuân mà tổng số Dương từ hai mươi lăm đến ba mươi lăm, tổng số Âm từ ba mươi đến ba mươi ba, ba mươi bốn, ba mươi lăm, hay đến bốn mươi, là thuận mùa sinh, vì cả hai tổng số đều ở trên con số căn bản là hai mươi lăm và ba mươi. Trái lại là nghịch mùa sinh. Thuận ít hay thuận nhiều, nghịch ít hay nghịch nhiều, tùy theo phân lượng.

Mùa hạ: ba tháng Tị, Ngọ, Mùi

Mùa hạ gồm ba tháng Tị, Ngọ, Mùi, tức tháng tư, tháng năm, tháng sáu. Khí Dương thịnh, khí Âm suy, nên thời tiết nóng và ngày dài đêm ngắn. Khoảng tháng năm gọi là trọng hạ, có ngày hạ chí, đạt đến điểm ngày cực dài, đêm cực ngắn ở bắc bán cầu (còn ở nam bán cầu thì ngược lại). Phương ngôn có câu đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, như than thở giùm những cô thợ gặt lao động suốt ngày mà đêm hè ngắn ngủi, chưa đặt mình đã nghe gà gáy. Cả thi hào Bạch Cư Dị cũng phải kêu rằng ngày dài ăn thêm bữa, đêm ngắn sáng ngủ thừa.

Vì vậy tuổi nào sinh mùa hạ mà tổng số Dương lên cao từ hai mươi lăm đến năm mươi lăm, tổng số Âm xuống thấp từ ba mươi đến hai mươi bảy, hai mươi tám, là thuận mùa sinh, vì Dương lên thì Âm phải xuống. Trái lại là nghịch mùa sinh.

Mùa thu: ba tháng Thân, Dậu, Tuất

Mùa thu gồm ba tháng Thân, Dậu, Tuất, tức tháng bảy, tháng tám, tháng chín. Thời tiết mát mẻ, ôn hòa như mùa xuân, ngày đêm dài ngắn cũng không chênh lệch. Khoảng tháng tám gọi là trọng thu, có ngày thu phân, ngày đêm bằng nhau ở cả hai bán cầu. Cảnh thu cũng đẹp, nên thu từ của công chúa Liễu Hạnh có câu tả mặt nước trong veo, non tựa ngọc, gió hây hây khua khóm trúc.

Tuổi nào sinh mùa thu mà tổng số Dương từ hai mươi lăm đến hai mươi tám, hai mươi chín, ba mươi lăm, tổng số Âm từ ba mươi đến bốn mươi, là thuận mùa sinh, vì cả hai tổng số đều trên căn bản hai mươi lăm và ba mươi. Trái lại là nghịch mùa sinh.

Mùa đông: ba tháng Hợi, Tý, Sửu

Mùa đông gồm ba tháng Hợi, Tý, Sửu, tức tháng mười, mười một, mười hai. Đến lượt khí Âm thịnh mà khí Dương suy, nên thời tiết lạnh và ngày ngắn đêm dài. Khoảng tháng mười một gọi là trọng đông, có ngày đông chí đạt điểm ngày cực ngắn đêm cực dài ở bắc bán cầu (nam bán cầu thì ngược lại). Phương ngôn nói ngày tháng mười chưa cười đã tối, tháng mười một còn chóng tối hơn nữa, như buồn dùm những cụ già rét cóng ngồi sưởi nắng mà chưa chi trời đã tối sầm.

Tuổi nào sinh mùa đông mà tổng số Dương xuống thấp từ hai mươi lăm đến hai mươi ba, hai mươi hai, tổng số Âm lên cao từ ba mươi đến sáu mươi, là thuận mùa sinh, vì Âm lên thì Dương phải xuống. Trái lại là nghịch mùa sinh. Thuận hay nghịch, ít hay nhiều, đều tùy theo phân lượng.

Tiết và khí: hai chiếc kim đo của một tháng

Mùa chỉ là cái nhìn đại cương. Muốn đo cho khít, phải xuống từng tháng, và mỗi tháng có hai chiếc kim: tiết và khí.

Số so với mùa chỉ là đại cương, muốn biết rõ hơn phải xem tiết khí của mười hai tháng. Tháng nào cũng có một tiết và một khí, tính theo Bát Tự. Tiết do ảnh hưởng của mặt trăng sinh ra, tiết dựng nên tháng, gọi là nguyệt kiến. Cách chừng mười lăm ngày sau tiết thì tới khí, do ảnh hưởng của mặt trời sinh ra. Vì thế mới gọi là âm dương lịch.

Nguyệt lệnh về Bát Tự thì căn cứ vào tiết, còn nguyệt lệnh về Hà Lạc thì căn cứ vào khí. Quẻ nguyệt lệnh tượng trưng cho luật âm dương tiêu trưởng và làm tiêu chuẩn so sánh, để xem tổng số Âm Dương có phù hợp hay không.

Mười hai tháng, mười hai quẻ nguyệt lệnh

  • Tháng Dần (một): tiết Lập Xuân, khí Vũ Thủy, quẻ Địa Thiên Thái.
  • Tháng Mão (hai): tiết Kinh Trập, khí Xuân Phân, quẻ Lôi Thiên Đại Tráng.
  • Tháng Thìn (ba): tiết Thanh Minh, khí Cốc Vũ, quẻ Trạch Thiên Quải.
  • Tháng Tị (bốn): tiết Lập Hạ, khí Tiểu Mãn, quẻ thuần Càn.
  • Tháng Ngọ (năm): tiết Mang Chủng, khí Hạ Chí, quẻ Thiên Phong Cấu.
  • Tháng Mùi (sáu): tiết Tiểu Thử, khí Đại Thử, quẻ Thiên Sơn Độn.
  • Tháng Thân (bảy): tiết Lập Thu, khí Xử Thử, quẻ Thiên Địa Bĩ.
  • Tháng Dậu (tám): tiết Bạch Lộ, khí Thu Phân, quẻ Phong Địa Quan.
  • Tháng Tuất (chín): tiết Hàn Lộ, khí Sương Giáng, quẻ Sơn Địa Bác.
  • Tháng Hợi (mười): tiết Lập Đông, khí Tiểu Tuyết, quẻ thuần Khôn.
  • Tháng Tý (mười một): tiết Đại Tuyết, khí Đông Chí, quẻ Địa Lôi Phục.
  • Tháng Sửu (chạp): tiết Tiểu Hàn, khí Đại Hàn, quẻ Địa Trạch Lâm.

Cách sắp xếp trên theo lịch nhà Hạ của Trung Hoa xưa, lấy tháng giêng làm tháng đầu năm ăn Tết; còn theo sử ký lịch thư thì nhà Chu lấy tháng mười một làm tháng đầu năm. Đứng về Hà Lạc thì dùng tháng mười một làm tháng đầu năm rất thuận tiện cho việc theo dõi vòng quá trình của khí Âm khí Dương trong một năm qua mười hai quẻ nguyệt lệnh. Có theo dõi như thế mới định được ba hạng số bất túc, trung hòa, thái quá để xem số Âm Dương của tuổi thuận hay nghịch mùa sinh.

Vòng quay Âm Dương: vì sao khởi từ tháng mười một

Vì sao dùng tháng mười một lại thuận tiện hơn các tháng khác? Hãy chấp nhận cái lý của quẻ mùa này: người sống ở cõi dương gian cần lấy khí Dương làm chủ, để khí Âm làm khách. Phải theo chân chủ ngay từ bước đầu, khi lửa mới nhóm. Nghĩa là từ ngày đông chí tháng mười một, quẻ Phục mới bắt đầu với hào sơ Dương, gọi là nhất dương sinh.

Luật Âm Dương tiêu trưởng của Dịch lý phán rằng hễ khi nào, nơi nào khí Dương lớn dần thì khí Âm phải mòn dần đi; ngược lại, khí Âm lớn dần thì khí Dương phải mòn dần. Một luật công bằng, không hơn không kém, nhờ vậy mới giữ được thế quân bình của vũ trụ, cũng như hòa điệu trong gia đình: Âm Dương luôn khăng khít, không bị xáo trộn hay đổ vỡ.

Dương lớn dần từ quẻ Phục đến quẻ Càn

Theo luật ấy, quẻ Phục sang tháng chạp biến thành quẻ Lâm với hai hào Dương. Sang tháng giêng biến thành quẻ Thái với ba hào Dương. Sang tháng hai thành quẻ Đại Tráng với bốn hào Dương. Sang tháng ba thành quẻ Quải với năm hào Dương. Sang tháng tư là quẻ Càn với cả sáu hào Dương. Đến đây Dương đã cùng cực, hết chỗ lên rồi, phải lần xuống nhường chỗ cho Âm vươn lên, vì muốn lên nữa thì luật trời nào cho, lòng người nào ưa.

Cho hay muôn sự tại trời, thôi đành đi xuống cho người bước lên.

Âm lớn dần từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn

Thế là tháng năm, từ ngày hạ chí, bắt đầu quẻ Cấu với hào sơ Âm, gọi là nhất âm sinh. Quẻ Cấu sang tháng sáu biến thành quẻ Độn với hai hào Âm. Sang tháng bảy thành quẻ Bĩ với ba hào Âm. Sang tháng tám thành quẻ Quan với bốn hào Âm. Sang tháng chín thành quẻ Bác với năm hào Âm. Cuối cùng sang tháng mười là quẻ Khôn với cả sáu hào Âm. Đến đây Âm đã cùng cực, hết chỗ lên, lại phải lần xuống nhường chỗ cho Dương vươn lên. Đó là vào tháng mười một năm sau, ngày đông chí, quẻ Phục lại tái phát.

Cái vòng tuần hoàn Âm Dương lên xuống ấy tương ái, tương nhượng, luân phiên thống trị bốn mùa và tám phương, tiếp diễn mãi năm này qua năm khác, như tuân theo một định luật tối cao bất di bất dịch của Hóa Công.

Biết vòng Âm Dương như trên để làm gì? Không ngoài mục đích tìm hiểu số Âm Dương của tuổi là thuận hay nghịch, không chỉ với mùa sinh mà còn với tháng sinh và quẻ nguyệt lệnh nữa.

Số nào cũng có thể tốt, miễn đúng mùa sinh

Thuốc nhiều hay ít chưa nói được gì, chỉ khi so với bệnh mới biết là đúng hay sai. Con số cũng vậy.

Bất kể ít, vừa hay nhiều, số nào cũng có thể tốt hoặc xấu, tùy thuận hay nghịch với mùa sinh. Cũng như phân lượng của một vị thuốc trong toa: nhiều hay ít không quan trọng, miễn là đúng với bệnh.

Lấy ví dụ người sinh tháng mười một, lúc nhất dương sinh, quẻ nguyệt lệnh là Phục chỉ có một hào Dương. Số Dương lúc này nên ít, phải dưới hai mươi lăm. Nếu trên hai mươi lăm, hoặc nhiều đến bốn mươi, năm mươi chẳng hạn, thì là nghịch mùa, nghịch tháng, nghịch quẻ nguyệt lệnh, tất nhiên theo nguyên tắc là xấu. Lời xưa nói rằng lo đổ bay, gây nát ngang trời.

Khuynh đại hoàng thiên, hủy diệt chi hoạn.

Lại lấy người sinh tháng chín, khi khí Âm đã lên rất mạnh, quẻ nguyệt lệnh là Bác với năm hào Âm. Tuổi nào có số Âm trên ba mươi, đến bốn mươi, năm mươi, và số Dương ít, thì thuận, sẽ được hưởng phước lộc. Trái lại nếu Dương nhiều Âm ít thì là nghịch, rất xấu. Lời xưa nói rằng người tuổi Dương sẽ làm liều, chuốc lấy vạ, mạo hiểm cầu may, giàu chiều hôm khó giữ được đến sớm mai.

Ví dụ ấy cho thấy một điều: số chỉ có nghĩa khi đặt cạnh tháng và quẻ của tháng; đứng riêng thì không có tốt xấu nào cả.

Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc