Bài tổng quan
Thiên Địa Bĩ: khi trời đất bế tắc, quân tử thu đức chờ thời
Trời cao đất thấp, đúng chỗ muôn đời mà lại là thế xấu: hai luồng khí chạy rời nhau, chẳng ai gặp ai. Lúc ấy người khôn không tranh giành mà chỉ lặng lẽ thu đức về mình... Vậy làm sao biết lúc nào bế tắc đã sắp mở?
Mục lục · 9 phần
- 01Bĩ là tắc: trời đất không còn thông với nhau
- 02Ngược hẳn quẻ Thái: dương đi lên, âm đi xuống, không ai gặp ai
- 03Bức tranh chung: nhiều nghịch cảnh, người quân tử phải chịu khổ để vượt qua
- 04Hào sơ lục: nhổ cọng cỏ mao, giữ điều chính thì tốt
- 05Hào lục nhị: bao dung, vâng thuận, kẻ nhỏ được tốt mà bậc lớn vẫn hanh thông
- 06Hào lục tam: ôm trong lòng điều đáng hổ thẹn
- 07Hào cửu tứ: có mệnh trời, không lỗi, cả bọn được nhờ phúc
- 08Hào cửu ngũ: buộc vào cụm dâu để giữ cho vững
- 09Hào thượng cửu: đánh đổ cái bĩ, trước lo sau mừng
Bĩ là tắc: trời đất không còn thông với nhau
Quẻ số mười hai là Thiên Địa Bĩ, được xếp vào quẻ xấu, tiết khí thuộc tháng Bảy. Chữ Bĩ có nghĩa là tắc, là bế tắc, mắc kẹt, không thông suốt. Trên là Càn, dưới là Khôn: trời ở trên, đất ở dưới, đúng chỗ thường ngày nhưng lại là thế không giao nhau.
Thiên địa bất giao, Bĩ. Quân tử dĩ kiệm đức tị nạn, bất khả vinh dĩ lộc.
Lời Tượng nói rằng trời đất chẳng giao thông là quẻ Bĩ. Người quân tử nhìn quẻ này mà thu giữ cái đức của mình để tránh nạn, không nên lấy lộc làm vinh. Được quẻ có ba hào trên là đạo quân tử thì tốt; ba hào dưới là đạo tiểu nhân thì xấu.
Sinh vào tháng Bảy mà được quẻ này vẫn là công danh phú quý. Có lộc mà cũng không màng lộc, ngôi vị tuy cao chẳng lấy làm cao. Đó là chí của người quân tử.
Có lộc mà cũng không màng lộc, vị tuy cao chẳng lấy làm cao.
Ngược hẳn quẻ Thái: dương đi lên, âm đi xuống, không ai gặp ai
Bĩ là cái trái của Thái. Ở quẻ Thái, khí dương nằm dưới thì thăng lên, giao hòa với khí âm nằm trên giáng xuống. Ở quẻ Bĩ, dương nằm trên cứ đi lên, âm nằm dưới cứ đi xuống, hai khí chạy rời nhau chứ không gặp nhau. Âm dương không giao nhau thì bế tắc. Đạo người như vậy mà vạn vật cũng như vậy.
Dương đi nghĩa là đạo quân tử tiêu dần; âm lại nghĩa là đạo tiểu nhân lớn lên. Lời Tượng khuyên người quân tử gặp thời Bĩ nên thu cái đức của mình lại, đừng hành động gì cả, riêng giữ lấy đức để tránh tai nạn, đừng màng chút lợi danh nào. Gặp thời Truân là lúc gian truân, người ta còn tụ họp nhau lại mà hành động. Còn thời đã Bĩ thì hành động cũng vô ích, chỉ còn cách giữ cái đức và giữ lấy thân mình.
Phan Bội Châu nói rõ thêm. Vốn dĩ âm với dương, quân tử với tiểu nhân vẫn luôn có mặt giữa vũ trụ, chỉ tranh nhau cái cơ tiêu trưởng, lớn lên và mòn đi. Thời Thái thì âm tiêu dương trưởng, quân tử lớn tiểu nhân nhỏ. Thời Bĩ thì ngược lại, tiểu nhân lớn quân tử nhỏ. Nhưng cái tiêu, cái trưởng ấy không phải bỗng chốc mà thành. Nó tuần hoàn và tích lũy dần. Một hào dương bắt đầu sinh từ quẻ Phục, đến khi dương lớn đến cùng thì thành quẻ Càn. Một hào âm bắt đầu sinh từ quẻ Cấu, đến khi âm lớn đến cùng thì thành quẻ Khôn. Một giọt nước không ngăn, chảy mãi sẽ thành sông bể. Một cây không dọn, sinh sôi mãi sẽ thành rừng.
Vậy nên chúng ta hãy để mắt vào từng giọt, từng cây, mà phòng bị phần lớn lên của tiểu nhân, vừa bồi cứu phần mòn đi của quân tử. Đường đời làm gì có Bĩ mà không có Thái. Đó chính là lấy chí người mà xoay trở mệnh trời, lấy nhân sự mà vãn hồi thiên đạo.
Bức tranh chung: nhiều nghịch cảnh, người quân tử phải chịu khổ để vượt qua
Quẻ Bĩ chỉ thời vận nhiều nghịch cảnh, mọi việc khó thực hiện, kẻ tiểu nhân đắc thế, người quân tử phải chịu đựng khổ cực để vượt qua thời cuộc. Mọi hy vọng đều khó thành, lại dễ phạm sai lầm về phương pháp.
Tài vận: không có. Kinh doanh: trắc trở, dễ bị lừa đảo, hao tài tốn sức. Xuất hành: nhiều bất trắc. Kiện tụng: dễ bị thua thiệt. Thi cử: khó thành. Bệnh tật: dễ nặng lên. Tình yêu: gặp nhiều trắc trở. Hôn nhân: khó thành.
Hào sơ lục: nhổ cọng cỏ mao, giữ điều chính thì tốt
Hào từ mượn đúng hình ảnh của quẻ Thái: nhổ rễ cỏ mao mà được cả cụm. Nhưng lời khuyên khác hẳn. Người giữ được điều chính thì tốt và hanh thông. Tuy vậy ít cơ may, khó thành đạt việc lớn, nên đề phòng thị phi, gièm pha, kèn cựa. Toán Hà Lạc nói gọn rằng trở lợi với điều chính thì tốt.
Hào này rất giống hào một của quẻ Thái, cũng nhổ cỏ được cả cụm vì cùng chí hướng. Chỉ khác là ở quẻ Thái hào một là dương, quân tử, nên lời khuyên cứ tiến lên sẽ tốt. Ở quẻ Bĩ hào một là âm, tiểu nhân, nên lời khuyên là giữ chính đáng thì mới tốt và hanh thông. Tuy là tiểu nhân, nhưng mới ở bước đầu, cái ác chưa hiện rõ, lại ứng hợp với hào bốn ở trên là quân tử, nên còn hy vọng cải hóa được. Lời Tượng có ý rằng nếu đem sức giúp nước như hào bốn thì sẽ tốt, tức khuyên nên đứng về phe quân tử.
Người mệnh hợp cách có danh dự, rời nơi gốc rễ đi lập nghiệp bên ngoài, bỏ gần theo xa, đặt chí vào việc chung chứ không lo riêng mình thì hưởng phúc. Là người giữ được trung chính, hết lòng vì công việc, không tư tình, nên giữ được phúc lộc. Người mệnh không hợp cách thì phải liệu thời mà tiến, trì cơ mà lui, đang thời gian nan nên khó thực hiện chí lớn. Giữ lấy thân, giữ lấy nhà cho khỏi tai họa nguy hiểm; biết giữ thân mình thì không nguy.
Về vận hạn: quan chức chờ bổ nhiệm, người đang tại chức bị dèm pha; học trò khó gặp cơ hội; người thường nên thủ cựu, phòng việc liên quan lôi thôi.
Vận bĩ thủ phận là hay, đừng khi vọng động tai bay vạ liền.
Hào lục nhị: bao dung, vâng thuận, kẻ nhỏ được tốt mà bậc lớn vẫn hanh thông
Hào từ nói bao gồm và thừa thuận ba hào dương ở trên: người nhỏ thì được tốt, bậc lớn đành chịu bĩ để giữ đạo hanh thông. Thời cuộc đang có lợi cho kẻ tiểu nhân, người quân tử phải chịu nhịn để cầu lành tránh dữ. Sĩ tử phải đợi thời, chịu bĩ. Quan chức khó thăng tiến, không nên tranh giành, có cơ hội tốt hãy hành động. Đề phòng tai tiếng xấu, gièm pha, kiện cáo. Toán Hà Lạc cho rằng phận nhỏ nhưng không làm hại điều thiện thì được lành.
Hào này tuy là tiểu nhân nhưng đắc trung đắc chính. Xung quanh đều là tiểu nhân cả, Phan Bội Châu gọi nó là tay hào kiệt trong phường tiểu nhân. Nó lại ứng hợp với hào năm là quân tử, nên lời hào khuyên nó vâng thuận người quân tử thì tốt. Còn bậc đại nhân, tức người quân tử, nếu thấy bọn tiểu nhân tìm đến vâng thuận mình, chẳng hạn vì muốn mua danh, thì cũng đừng theo chúng, cứ giữ khí tiết của mình trong lúc cùng khốn, như vậy là hanh thông.
Phan Bội Châu giảng thêm: quân tử ở thời Bĩ, thể lực mình không đủ tranh với tiểu nhân, mà đạo mình lại trái với tiểu nhân. Nếu mình hỗn tạp với bọn tiểu nhân thì thân còn nhưng đạo mất, quân tử nào chịu làm vậy. Chi bằng độc lập bất biến, không chịu tạp loạn với chúng. Thân tuy cùng khốn nhưng đạo vẫn hanh thông.
Người mệnh hợp cách trung chính, khoan dung, ở yên đợi phúc trạch, về sau có thể đổi Bĩ thành Thái và hưởng phúc lớn. Người mệnh không hợp cách thì theo thói thường: danh không chính, lợi không bền, giữ phận thì đỡ tai họa; thân nhỏ chí to, muốn phát đạt lớn nên thất bại, phúc lộc mỏng.
Về vận hạn: quan chức có cơ hội thì làm; học trò nên đợi thời; người thường đành nuốt nhục để giữ thân, giữ nhà. Nếu không thì khó tránh miệng tiếng thị phi, tai họa.
Người nhỏ vì sinh kế, uốn lưng để phụng hành. Đại nhân nên tự thủ, vận bĩ đạo vẫn hanh.
Hào lục tam: ôm trong lòng điều đáng hổ thẹn
Hào này xấu. Hào từ nói về kẻ bao chứa điều xấu hổ. Thời vận trắng đen không rõ, nhiều điều tiêu cực phát sinh. Quan chức phải về hưu sớm, phải rút lui, bị sa thải. Sĩ tử khó bề tiến thân, dễ mang tiếng xấu, bị thua kiện. Người thường kinh doanh dễ bị lừa đảo, thất thoát. Toán Hà Lạc nói rằng tiểu nhân muốn làm ác mà chưa làm được.
Hào này không trung, không chính, lại đứng đầu bọn tiểu nhân vì nằm trên cùng quẻ nội Khôn, nên rất xấu, đáng ghét. Phan Bội Châu nhấn mạnh lời Tượng lưu ý cái địa vị của hào ba: chí khí thì bạc nhược, hoàn cảnh thì xô đẩy, ở thời Bĩ nên cái vị ấy xui nên thế. Trình Di thì nói rằng nó ở thời Bĩ, lại gần sát hào trên, đến lúc cùng đường nên bọc chứa mưu tính càn bậy, rất đáng hổ thẹn.
Người mệnh hợp cách dù được quý nhân đùm bọc, hoặc có chức phận nhỏ, cũng chỉ có tiếng không có miếng. Chỉ có người tăng ni là tốt: là ẩn sĩ hay người tu hành, im hơi lặng tiếng cầu an. Hoặc là người có tiếng không có miếng, phúc lộc ít. Người mệnh không hợp cách thì không giữ được nền nếp lúc cùng, như kẻ đục nước béo cò, lợi dụng thời vận để làm bậy, để lại tiếng xấu.
Về vận hạn: quan chức xin về hưu; học trò phòng bị tai tiếng; người thường lo điều tiếng, thưa kiện. Nhân tình trục trặc khó tin, dèm pha lắm chuyện, giữ gìn kẻo họa lây.
Hào cửu tứ: có mệnh trời, không lỗi, cả bọn được nhờ phúc
Hào này tốt. Hào từ nói có mệnh trời, không có lỗi gì cả, cả bọn đều được nhờ phúc, vì ba hào dương đứng cùng nhau. Thời vận tốt cho sự lập nghiệp, lập danh, kinh doanh. Giải tỏa được những oan ức, bất hòa. Lợi cho hôn nhân và gia đình. Toán Hà Lạc ghi rằng hào này có cơ hội gặp gỡ.
Hào này đã quá nửa quẻ Bĩ, sắp hết bĩ rồi, nên nói rằng thời vận đã tới. Nó là dương nằm trong quẻ ngoại Càn, là người quân tử thực hiện được chí mình. Bạn của nó là hai hào dương năm và sáu, cũng sẽ được hưởng phúc.
Phan Bội Châu chú thêm một điều rất sâu. Hào ba dương của quẻ Thái vừa đúng nửa thời Thái, thánh nhân sợ Bĩ sắp tới nên răn hai chữ gian trinh. Hào bốn của quẻ Bĩ vừa quá nửa thời Bĩ, thánh nhân mừng cho Thái sắp đến nên nói có mệnh trời, không lỗi. Việc trong thiên hạ từ Thái bước sang Bĩ là việc rất dễ, nên phải lo sớm từ hào ba dương. Từ Bĩ bước sang Thái là việc rất khó, nên thánh nhân chưa dám vội mừng, phải chờ đến hào bốn dương, thật thấy dương cương được ngôi dương mới tỏ ý mừng. Biết ý ấy, gặp thời Thái chớ nên coi thường, tức là biết gian trinh; gặp thời Bĩ thì lo rình cơ hội, tức là biết mệnh. Không có thời tiết nào mà chúng ta phải chán nản.
Người mệnh hợp cách có công danh, phúc, thọ, được đãi như quốc khách để thực hiện chí hướng. Người có tài đức gặp thời, được trọng dụng, được đề bạt, thăng tiến nhanh. Sĩ tử thì đỗ cao, lập được sự nghiệp. Người mệnh không hợp cách cũng được hưởng phúc, ruộng vườn, hay hoạt động đình đám; có nhiều phúc lộc, kinh doanh phát đạt, gia đình hạnh phúc.
Về vận hạn: quan chức có đồng liêu giúp, lộc thêm tiền; học trò được tiến cử, có danh dự; người thường ruộng vườn, lợi tức tăng tiến, nhiều dịp vui mừng, con cháu đề huề.
Quyền ủy cờ đã đến tay, việc làm suôn sẻ, thời này hanh thông.
Hào cửu ngũ: buộc vào cụm dâu để giữ cho vững
Hết bĩ, bậc đại nhân gặp tốt. Nhưng lo mất, lo mất, phải giữ vững như buộc vào gốc rễ cây dâu. Hào này tốt, có thể làm nên sự nghiệp lớn, nhưng vào thời sắp biến nên phải có gốc rễ bám vào dân mới bền chặt, như rễ cây dâu bám sâu vào đất. Người thường kinh doanh phát đạt, nhiều tài lộc, song cần đề phòng thất thoát về sau. Toán Hà Lạc nói hào này làm sáng tỏ con người của hòa bình, để biết cái thuật giữ nghiệp lớn.
Hào có đức dương cương, trung chính, lại đứng ở ngôi chí tôn trong lúc thời Bĩ sắp hết, nên lời đoán là tốt. Nhưng vẫn phải thận trọng, đừng sơ xuất. Hãy buộc vào cụm dâu, tức làm cho vững chắc thêm, vì dâu là thứ cây rễ sâu và chắc, mọc thành bụi.
Khổng Tử đọc đến hào này bàn thêm: người quân tử khi yên ổn thì không quên rằng có thể nguy, khi vững thì không quên rằng có thể mất, khi trị thì không quên rằng có thể loạn. Nhờ vậy thân an, nước nhà giữ vững được. Trình Di nhận xét lời răn của thánh nhân thật sâu sắc.
Người mệnh hợp cách có đức lớn, công bằng, cẩn thận, xét nét, không bỏ cơ hội, phú quý bền được; là người có công với nước với dân, phúc lộc bền vững. Người mệnh không hợp cách có tài đức mà không gặp thời, bình sinh an vui, chẳng vinh chẳng nhục; có tài nhưng không được lòng người, sự nghiệp chóng tàn, phúc lộc mỏng.
Về vận hạn: quan chức ngôi chính vị. Người còn lại: họa đi phúc sắp lại, kẻ thù lui dần, ruộng vườn thu hoạch. Lo hóa mừng, mất thành được. Số xấu thì tổn vong, hình khắc.
Thời đại thịnh sắp tới nơi, nhưng đừng hờ hững, lỡ rồi xảy nguy.
Hào thượng cửu: đánh đổ cái bĩ, trước lo sau mừng
Hào này tốt. Hào từ nói đánh đổ được cái bĩ: trước thì bĩ, sau thì mừng. Cực thái lai, oan ức được giải, chức vị mất được phục hồi, bế tắc được khai thông, cấm kỵ được thu hẹp hoặc bãi bỏ; mọi việc trước khó sau thuận lợi. Toán Hà Lạc ghi gọn: bĩ đổ, hưởng phúc.
Đây là thời cuối cùng của Bĩ. Bĩ cực thì thái lai, người quân tử có tài sẽ đặt cả bạn bè, tức hào bốn và hào năm, mà đánh đổ được cái bĩ. Nhưng lúc mới đầu vẫn còn phải lo lắng, sau mới mừng bước lên cảnh Thái.
Trình Di bàn rằng việc quay nguy làm yên, đổi loạn làm trị phải có tài dương cương mới làm nổi. Vì vậy hào sáu dương của quẻ Bĩ có thể làm nghiêng cuộc Bĩ, còn hào sáu âm của quẻ Truân thì không thể thay đổi cuộc Truân.
Người mệnh hợp cách chí lớn, cương quyết, sắp đặt hơn người, trước gian truân sau nhàn vui. Là người có chí lớn, thành đạt khá, có địa vị cao, trước gặp gian nan sau vui mừng, giữ được phúc lộc bền vững. Người mệnh không hợp cách thì danh lợi khó thành, dễ chịu nhục, hình thương; người đi tu thì tốt. Đó là người có địa vị quyền quý nhưng công không thành, danh không toại, lại gặp cảnh ngộ gian nan; mệnh của những người tu hành, bất đắc chí.
Về vận hạn: quan chức mất chức thì được phục hồi, chờ việc thì được bổ nhiệm; học trò bị đình trệ thì phục hồi, không lâu ngày sẽ được cởi mở; kiện tụng lâu được giải. Số xấu thì có biến cố, kém thọ.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
