Bài tổng quan
Cung Càn Trong Lục Hào Tượng Giải: Bát Thuần Càn, Cấu, Độn Và Bĩ
Cung Càn mở đầu hệ thống tượng quẻ của An Hạ, nơi mỗi quẻ được giải qua ba tầng: tổng quan, quẻ tượng và lục hào tượng. Bát Thuần Càn có quái từ rất tốt nhưng là quẻ lục xung, mang tượng hùng tâm bừng bừng, cao lại càng thêm cao. Thiên Phong Cấu có Càn trưởng nam ở trên, Tốn trưởng nữ ở dưới, tượng âm dương gặp nhau không thỏa đáng. Thiên Sơn Độn là cao nhân vào núi, tượng ẩn lui, né tránh, hào Thế ở hào hai như người trốn trong sơn động. Thiên Địa Bĩ là quẻ lục hợp, ba hào âm ở trong, ba hào dương bọc ngoài, âm dương không giao nên bế tắc. Mười sáu ví dụ thực chiêm đi kèm bảng lục thân, lục thú, trong đó có người mang quà đến nhà lãnh đạo rồi đành về tay không.
Mục lục · 4 phần
Bát Thuần Càn
Chương I: Đại Tượng - Quẻ Tượng - Quẻ Tên
Càn cung: Bát Thuần Càn (lục xung)
Tổng quan: Quái từ của quẻ này rất tốt, nhưng trên thực tế đây là quẻ Lục xung, nên cũng không hẳn là tốt. Tượng của quẻ là hùng tâm bừng bừng. Sáu hào đều là hào dương, mang tượng kiên cường, khí dương cương đầy đủ nhất, biểu tượng cho cơ quan chính phủ, công an, kiểm sát, tòa án. Tượng có nhân vật, sự vật cương chính. Có thiên tượng, rộng rãi vô ngần, bao trùm vạn vật.
Quẻ tượng: Nội quái và ngoại quái đều là Càn. Bát Thuần Càn là cao lớn, là tượng ngoài trời còn có trời, cao lại càng thêm cao. Sáu hào đều dương, dương là cường tráng, cho nên quẻ có hào từ:
Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức – Trời vận hành mạnh mẽ, người quân tử không ngừng vươn lên.
Trên mặt đất không có gì cao hơn Trời, cho nên dùng Càn để biểu thị sự cao lớn, vì vậy mà nói Càn là Thiên.
Lục hào tượng: Thế ở hào sáu. Hào sáu là trời, lâm Phụ Mẫu, mà Phụ Mẫu cũng chủ về Thiên, nên đem hợp lại thành tên Bát Thuần Càn. Hào Thế là mộ khố của Quan Quỷ; xem quan vận thì Quan Quỷ là chức vụ, tức là muốn nắm quyền trong tay. Xem tâm tình, Thế là quỷ khố, trong lòng còn có phiền não. Xem tài vận, Tài lâm hào hai, tài vật đầy nhà. Xem hôn nhân, bình thường không ưa gặp Lục xung, bởi Lục xung chủ tán; nhưng quẻ này Càn là tròn, trong nhà có Thê Tài, lại biểu thị gia đình hoàn mỹ. Xem phong thủy, hào Phụ là điện thờ, Quỷ nhập trong mộ, chính là tượng sắp đặt thần vị, bởi vì bản thân Càn đã có ý tứ thần phật.
Ví dụ 1-1
Ngày Ất Sửu tháng Mùi, một người đàn ông dự đoán sự nghiệp, được quẻ Bát Thuần Càn biến Bát Thuần Đoài.
Dự đoán sự nghiệp xét ở hai phương diện: một là xem Tài, hai là xem Quan. Chỉ cần một phương diện cát thì có thể đoán sự nghiệp có thành tựu.
Quẻ này nếu phán đoán tài vận thì lấy hào hai Thê Tài Dần mộc làm Dụng thần. Thê Tài không được Nhật Nguyệt sinh phù, Tử Tôn Tý thủy lại bị Nhật Nguyệt khắc chế, bị hợp ngăn trở, không cách nào sinh cho Tài, cho nên tài vận của người này không tốt. Nếu muốn kinh doanh thì không làm được.
Nếu dự đoán quan vận, Quan Quỷ tuy được Nguyệt hợp mà có khí, nhưng Nhật Nguyệt dù sao cũng không sinh phù Quan Quỷ. Đồng thời Lục xung biến Lục xung, hào Thế động mà hóa Không, hóa Thoái, cho nên đường hoạn lộ phát dương cũng chẳng được như ý.
Hơn nữa quẻ này là quẻ Càn, Càn là tượng cao lớn. Hào Thế là mộ khố của Quan Quỷ, là muốn được làm quan, sốt ruột cầu quan. Thế ở hào sáu, tượng cao cao tại thượng, tự cho mình siêu phàm, trong mắt không có ai, cao không tới mà thấp cũng chẳng xong. Bất cứ sự nghiệp gì cũng đều chẳng làm nên trò trống gì.
Thực tế: Người này là một quản lý, lòng cao hơn trời nhưng vận mệnh không tốt, mãi không được lên chức, tự cho là có tài mà không gặp thời. Lại muốn tự mở công ty, đại triển hồng đồ, kết quả kinh doanh thảm đạm, không thu hoạch được gì.
Ví dụ 1-2
Ngày Tân Mão tháng Dậu, một người xem về sức khỏe, được quẻ Bát Thuần Càn.
Lấy hào Thế làm Dụng thần, Thế ở hào sáu. Hào sáu là đầu, quẻ thuần Càn, Càn cũng là đầu, mà kị thần lâm Nhật khắc hợp Thế; kị thần là bệnh, cho nên đầu nhất định có bệnh tật quấn quanh. Mộc chủ đau nhức, bị mộc khắc, nhất định là đau đầu.
Nguyên thần Quan Quỷ Ngọ hỏa ở hào bốn, hào bốn là hào vị trái tim, hỏa cũng là trái tim; nguyên thần không sinh nổi Dụng thần thì chủ bất an, cho nên nhất định là hồi hộp hoảng hốt. Kị thần là Tài, Tài chủ ăn uống; Thế là Hỏa khố, biểu thị trong người có giấu hỏa; hào sáu chủ mặt mũi, kết hợp với Tài khắc hợp hào Thế, phán đoán trong miệng có chứng viêm.
Phán đoán tại chỗ, ứng nghiệm.
Ví dụ 1-3
Ngày Ất Tị tháng Hợi, một phụ nữ dự đoán hôn nhân, được quẻ Bát Thuần Càn.
Lấy Quan Quỷ làm Dụng thần. Quẻ Lục xung. Hào Thế là quỷ khố, Quan Quỷ cũng là tin tức phiền não, tâm lý vì hôn nhân mà rất bực bội. Càn là đầu, lại là quỷ khố, đầu óc nghĩ toàn là việc của chồng.
Quan Quỷ không bị hợp, yên tĩnh, chồng không có người thứ ba. Quan Quỷ sinh hào Thế, đối với mình rất tốt. Quan Quỷ lâm Đằng Xà, Đằng Xà chủ quái dị, tính cách có vấn đề. Nhập mộ ở hào sáu, nhập mộ chủ si mê, chồng mê luyến yêu thương. Mộ lâm Huyền Vũ, Huyền Vũ chủ cờ bạc trộm cắp, sợ rằng có vấn đề không tốt ở phương diện này, cho nên khiến nàng phiền não. Quan Quỷ vượng sinh Thế, không bỏ được.
Người này phản hồi rằng đúng là vì chồng có lấy trộm của người nhà một ít tiền, nàng khó ngẩng đầu trước mặt họ hàng nên muốn ly hôn. Cuối cùng không bỏ.
Thiên Phong Cấu
Càn cung: Thiên Phong Cấu
Tổng quan: Càn ở trên là trưởng nam, Tốn ở dưới là trưởng nữ, tượng này vốn không thỏa đáng. Càn là trời, là dương, là cương; Tốn là gió, là âm, là nhu. Âm dương gặp nhau, có gió hút nhau, nhu lợi dụng cương. Một Âm mà năm Dương là tượng một người nữ có năm chồng, xem về hôn nhân chủ nữ nhân bất chính, dâm đãng. Tên quẻ hàm ý giao cấu, hẹn hò, nghĩa là có ngoại tình, nữ nhân bất chính. Quẻ có gió mây hòa hợp, mang tượng tụ rồi tán. Nữ xem cưới xin không thuận. Tha hương gặp bạn.
Quẻ tượng: Quẻ ngoại là Càn, là trái cây; quẻ nội là Tốn, là mộc, chính là trên cây mọc ra quả. Đây là trái cây đã trưởng thành, cần âm dương xứng đôi. Quẻ ngoại Càn là cương, quẻ nội Tốn là nhu, cương nhu kết hợp. Điều này mười phần khó được, cho nên gọi là Cấu, là người làm mối, là gặp gỡ.
Lục hào tượng: Thế ở hào sơ, hào sơ là chân, chính là người đang đi. Đang đi mà được hào Ứng đến sinh, có thể hiểu là khi đang đi được người khác trợ giúp, trên đường gặp được tri kỷ.
Quẻ này Tử Tôn Hợi thủy lâm hào nhà. Dương nhiều âm ít, nữ tử xem cưới xin bất lợi, phần lớn là gia đình bất hòa. Huynh Đệ ở hào năm, hào năm là đường, nhập mộ tại Thế, là trong lúc vô tình có thể kết giao rất nhiều bằng hữu, mà phần lớn lại là nửa đường gặp lại, ra đường gặp tri kỷ.
Bên trong quẻ này đã bao hàm ý gặp được, gặp gỡ bất ngờ, kỳ ngộ.
Ví dụ 2-1
Ngày Kỷ Mão tháng Kỷ Mão năm Canh Thìn, một người xem cho bạn trai của chị mình, người này cãi nhau với vợ rồi bỏ đi mất, được quẻ Thiên Phong Cấu.
Dự đoán cho bạn trai thì lấy Quan Quỷ làm Dụng thần. Dùng phép chuyển đổi lục thân để xem: ngũ hành của người ngang vai là giống nhau, nên xem về bạn trai của chị cũng lấy hào Quan Quỷ làm Dụng thần.
Quan Quỷ Ngọ hỏa được Nhật Nguyệt sinh, Dụng thần vượng tướng, bạn trai của chị sẽ không có việc gì. Dụng thần lâm Ứng, Ứng là chỗ khác, bạn trai của chị muốn rời khỏi thành phố về quê. Dụng thần là Ngọ hỏa, đối ứng phương Nam, tức là đi đến phương Nam.
Nhật là nguyên thần, nguyên thần là tư duy của một người, tức là tâm tư của bạn trai chị. Nguyên thần lâm Nhật hợp Phụ Mẫu Tuất thổ. Phụ Mẫu là phương tiện giao thông, lại khiến Dụng thần nhập mộ tại Phụ Mẫu Tuất thổ, là tượng muốn đi vào phương tiện giao thông. Phụ Mẫu Tuất thổ lâm hào sáu, hào sáu là hào vị trời; kết hợp với hào Phụ Mẫu, có thể hiểu thành máy bay. Nên người này muốn bay đến phương Nam. Quẻ là Cấu, Cấu là gặp gỡ. Nếu bây giờ nhanh chóng ra sân bay thì có thể gặp.
Xem xong, người trong nhà hỏa tốc đuổi tới sân bay, tìm được ở phi trường. Bạn trai của chị đã mua vé máy bay, đang định đi phương Nam.
Ví dụ 2-2
Ngày Tân Tị tháng Mão, một quân nhân xem vợ chồng đang ở xa nhau có thể chuyển về gần được không, được quẻ Thiên Phong Cấu biến Trạch Sơn Hàm.
Lấy Thê Tài làm Dụng thần. Thê Tài Dần mộc không hiện lên quẻ, là có vợ mà không thấy. Dự đoán vợ có thể chuyển đến ở cùng mình hay không thì phải xem Thê Tài suy hay vượng: Dụng thần vượng có thể đoàn viên, hưu tù thì sẽ khó.
Quẻ này Dụng thần tuy phục tàng, nhưng được Nguyệt tỷ hòa, phi thần động sinh hợp, là cát. Quẻ Cấu có ý gặp gỡ. Ứng sinh Thế, có thể gặp được vợ, cũng tức là có thể kết thúc tình trạng ở riêng.
Lúc nào có thể thành? Tài phục, ứng khi gặp xung. Tài bị phi hào hợp trụ, cũng ứng khi gặp xung. Do đó đoán năm Giáp Thân có thể đoàn tụ.
Quả nhiên ứng nghiệm.
Ví dụ 2-3
Ngày Quý Dậu tháng Ngọ, một phụ nữ xem chuyện yêu đương, được quẻ Thiên Phong Cấu biến Thủy Phong Tỉnh.
Lấy Quan Quỷ làm Dụng thần. Quan được Nguyệt kiến tỷ hòa là vượng tướng, động mà sinh Thế, là người đàn ông kia đối với nàng rất tốt. Quẻ này Thế lâm Huyền Vũ, là tượng ái muội. Quẻ Thiên Phong Cấu, năm Dương đè một Âm, biểu hiện một phụ nữ có nhu cầu sinh lý rất mạnh, không phải một người đàn ông có thể thỏa mãn được.
Quẻ tên là Cấu, cổ nhân nói Cấu là gặp gỡ. Xem hôn nhân là chồng hờ vợ tạm, tức là có kết hôn cũng không lâu. Quẻ này Tuất thổ phát động khiến Quan Quỷ nhập mộ, có ý chia tay với người này, vì mộ khố mang ý chấm dứt. Nhưng Quan Quỷ Ngọ hỏa gặp Nguyệt kiến tự hình, gặp Nhật là tử địa, nhập mộ tại hào sáu; hào sáu là đầu, ở Càn cung lại chủ đầu, nên tư tưởng người này rất không thoáng, hay để tâm vào chuyện vụn vặt, dễ đi theo hướng cực đoan, dễ tự tử.
Tình huống quả đúng như quẻ. Người này là tình nhân của nàng, nàng muốn chia tay nhưng người đó đòi tự sát. Nàng không biết làm thế nào để chấm dứt nên mới đi xem bói.
Thiên Sơn Độn
Càn cung: Thiên Sơn Độn
Tổng quan: Trên Càn dưới Cấn là ý trên núi có một khoảng trời khác. Tên quẻ mang ý chạy trốn, đào tẩu, tránh lui, ẩn đi. Hai hào âm là tiểu nhân ở quẻ nội, các hào dương là quân tử ở quẻ ngoại, là tượng tiểu nhân muốn áp chế quân tử, khiến quân tử không thể không thoái ẩn lên núi. Xem người đi đường thường chủ trốn tránh, vì né chuyện gì đó mà trốn đi. Lánh đời đợi thời, thiên hạ có núi, ẩn thân cho yên, nghỉ ngơi dưỡng sức.
Quẻ tượng: Quẻ ngoại là Càn, là thần phật, là đầu, chủ tư tưởng, tư duy. Quẻ nội là Cấn, là dừng lại. Tổ hợp lại chính là cao nhân vào núi, khẽ động mà như không động, tu luyện thiền định. Cũng chủ ngừng suy nghĩ, không nghĩ loạn, rời xa hồng trần. Cho nên quẻ tên là Độn.
Lục hào tượng: Thế ở hào hai, hào hai là nhà, chính là trốn ở trong nhà. Vì quẻ nội là Cấn, cùng họ với Bát Thuần Cấn, cho nên cái nhà này là nhà trong núi, cũng chính là sơn động. Hào sáu là mộ, lại là hào vị về hưu; nhập mộ chủ si mê, chính là một lòng muốn rời xa ý tưởng ban đầu. Cổ nhân nói Độn là thoái, chính là ý này. Bởi mang cái ý đó bên trong, quẻ Độn đã bao hàm lùi bước, rời khỏi, lui lại, thu lại, co lại, e ngại, né tránh, ẩn cư, ẩn lui, không rõ ràng, mập mờ, giấu kín.
Ví dụ 3-1
Ngày Quý Mùi tháng Tý, một phụ nữ xem về bệnh, được quẻ Thiên Sơn Độn biến Thiên Phong Cấu.
Lấy hào Thế làm Dụng thần. Hào Thế Nguyệt phá, Nhật thần đến hợp thành hợp phá, nhưng hào Thế động mà hóa hồi đầu khắc, hào Thế hưu tù, chứng tỏ bệnh này rất nghiêm trọng.
Hào Thế ở hào hai, hào hai là bộ phận sinh dục, lâm Thanh Long; Thanh Long là tửu sắc, là có bệnh liên quan đến sức khỏe tình dục. Thiên Sơn Độn có tượng rút lui, là nàng không muốn lộ bệnh này ra trước mặt mọi người, rất muốn né tránh vấn đề này. Tổng hợp lại mà đoán, bệnh hẳn là lây nhiễm qua đường tình dục.
Tình huống thực tế: nàng ở cùng bạn trai, bạn trai thường xuyên chơi bời, nhiễm bệnh lây qua đường sinh dục rồi lây sang cho nàng.
Ví dụ 3-2
Ngày Đinh Tị tháng Dần, một người xem vận khí, được quẻ Thiên Sơn Độn.
Nếu xem quan vận thì nhìn hào Quan Quỷ. Quan Quỷ trì Thế, được Nguyệt sinh Nhật phù, vượng tướng, hẳn là có chức quan. Lâm Câu Trần, Câu Trần là nơi làm việc hiện tại, cho nên hẳn là có chức vụ tại cơ quan.
Quan Quỷ lưỡng hiện, có tượng kiêm chức. Nhưng quẻ này nguyên thần không hiện lên quẻ, là tâm trí người này không để tâm nhiều đến sự nghiệp. Độn cũng có ý ẩn lui, né tránh, đối với quan vận không tích cực truy cầu.
Anh ta nói: tôi đồng thời kiêm hai vị trí lãnh đạo nhưng thật ra không mặn mà gì. Vì sức khỏe không tốt lắm nên muốn từ chức để dưỡng bệnh.
Anh ta nói đến sức khỏe, vậy xem hào Thế và nguyên thần, đều không thấy bệnh gì. Quẻ lại là quẻ tĩnh, cần lấy hào vượng tướng tác động đến hào Thế mà phán đoán.
Hào sáu Tuất thổ là mộ khố của hào Thế, được Nhật sinh vượng, có lực lượng đủ lớn để hào Thế nhập mộ. Hào sáu là đầu, quái cung lại là Càn, Càn cũng là đầu, cho nên đoán anh ta có bệnh ở đầu. Nguyên thần Thê Tài tuy Nhật Nguyệt không khắc nhưng Nhật là bệnh địa của nguyên thần. Tài chủ ăn uống và tiêu hóa, phục ở hào hai, cho nên đoán hệ tiêu hóa cũng không tốt.
Anh ta nói: dạ dày không tốt. Năm nay đầu lại có vấn đề, mấy lần choáng đầu ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự, đi kiểm tra lại không phát hiện được bệnh gì. Nếu mệnh cũng mất thì quan để làm gì, cho nên việc đầu tiên là muốn dưỡng bệnh. Vì thân kiêm hai chức nên thấy rất mệt mỏi, nếu bỏ đi một chức vụ sẽ giảm bớt áp lực.
Ví dụ 3-3
Ngày Nhâm Dần tháng Hợi, một người xem cuối năm thu nhập của đơn vị mình như thế nào, được quẻ Thiên Sơn Độn biến Phong Lôi Ích.
Phán đoán thu nhập, không kể của công hay của tư, đều lấy Thê Tài làm Dụng thần. Quẻ này Thê Tài không hiện lên quẻ mà phục dưới hào hai Quan Quỷ Ngọ hỏa. Tài được Nguyệt sinh, Nhật tỷ hòa, là vượng tướng. Trong quẻ tuy Ngọ hỏa và Thân kim phát động, Thê Tài lâm tử tuyệt, nhưng quẻ này nhiều hào phát động, lấy lý pháp ngũ hành sinh khắc làm chủ, cho nên đoán công ty của anh ta cuối năm thu nhập không tệ.
Tuy nhiên trong quẻ tất cả hào động đều khắc tiết Dụng thần: thu nhập của công ty tuy không ít nhưng không giữ lại được, rất nhanh sẽ dùng hết. Trong quẻ Quan Quỷ và Phụ Mẫu phát động, Quan Quỷ là công việc, Phụ Mẫu là hoàn cảnh công việc, nên công việc có khả năng biến động.
Quẻ là Thiên Sơn Độn, có ý lùi bước, là mình không tiếp tục làm ở công ty này nữa, muốn chuyển đi. Nếu quay lại thì liền có ý trốn tránh, chứng tỏ ở đơn vị này nhất định khó tồn tại. Huynh Đệ trì Ứng ám động, Quan Quỷ Ngọ hỏa phát động cùng hào Thế hình thành tự hình, vì công việc xử lý không tốt nên sinh ra chút ảnh hưởng trái chiều. Huynh Đệ lâm Chu Tước động, trong nội bộ công ty có cãi vã tranh đấu. Mà việc biến động công việc có liên quan khá lớn đến chuyện này, bản thân muốn rời khỏi nơi thị phi.
Thực tế: Người này là lãnh đạo đơn vị, vì tòa báo không thu được tiền quảng cáo nên cán bộ chưa có lương, rất nhiều người làm ầm lên khiến anh ta rất đau đầu. Anh ta muốn thu được tiền quảng cáo để phát lương cho công nhân viên, chứng tỏ năng lực của mình rồi mới rời đi.
Đến cuối năm thu hồi được tiền quảng cáo, phát lương cho cán bộ công nhân viên. Nhưng sau khi phát lương thì tiền không còn mấy. Năm thứ hai chuyện công tư trong đơn vị lại có vấn đề, thế là anh ta tìm quan hệ để chuyển khỏi đơn vị này.
Ví dụ 3-4
Ngày Bính Dần tháng Ngọ, một phụ nữ xem hôn nhân, được quẻ Thiên Sơn Độn biến Phong Sơn Tiệm.
Quan Quỷ trì Thế, được Nguyệt phù Nhật sinh là vượng; trì Thế là có được. Lâm hào hai, hào hai là nhà, lại là hào vị phu thê, cho nên là đã kết hôn rồi.
Trong quẻ Quan Quỷ lưỡng hiện, lấy hào phát động làm chồng. Quan Quỷ động mà hóa hợp, hợp chính là Tài khố; Tài là nữ nhân, Phụ Mẫu là hôn thú, nghĩa là người nữ này đã bị ràng buộc bởi đăng ký kết hôn. Do đó đoán chồng cô ta có quan hệ mập mờ với một phụ nữ đã có chồng. Quan Quỷ trì Ngọ hỏa hóa hợp, nên có khả năng chuyện phát sinh vào năm Nhâm Ngọ.
Quẻ là Độn, người đó có tượng né tránh. Quan Quỷ Ngọ hỏa động mà cùng hào Thế tương hình, vì chuyện này mà cô ta bị trùng kích. Trong quẻ có hai hào Quan Quỷ, bản thân cô cũng có chuyện nhập nhèm; lưu niên Quý Mùi hợp với Quan Quỷ Ngọ hỏa, chính cô này cũng ngoại tình.
Thiên Địa Bĩ
Càn cung: Thiên Địa Bĩ (lục hợp)
Tổng quan: Ba hào âm ở giữa, ba hào dương bọc bên ngoài, là tượng tiểu nhân nắm nội chính, quân tử ở bên ngoài. Bĩ là bế tắc, âm dương không tương giao, vạn vật không sinh trưởng. Luận về con người là tượng bế tắc đen tối, tiểu nhân đắc thế, quân tử bị bài xích. Luận về gia đình là tượng vợ chồng bất hòa, ly thân. Gieo được quẻ này cũng không hẳn là không tốt, nhưng cần kết hợp cụ thể với lục hào. Nếu đang có tin tức không tốt mà lại gieo được quẻ Bĩ thì bất lợi, diễn ra thực tế sẽ là tiểu nhân chuyên quyền, quân tử gặp khó. Xem lòng người thì bên ngoài mạnh bên trong yếu, bề ngoài cường đại mà thực chất mềm yếu, hoặc bề ngoài kiên cường mà nội tâm mềm yếu. Quẻ Lục hợp, nếu là quẻ biến thì tốt, nếu gieo ra ở quẻ chính thì không tốt. Đây là tượng âm dương không giao; đối với con người mà nói là khổ tận cam lai, thịnh cực mà suy.
Quẻ tượng: Quẻ ngoại là Càn, là dương; quẻ nội là Khôn, là âm. Dương khí chủ thăng, âm khí chủ giáng. Vì dương ở trên âm ở dưới, hai khí âm dương không thể hợp nhất: kẻ trên càng vượt lên, kẻ dưới càng rơi xuống, âm dương tách rời không thể thông nhau, cho nên lấy tên là Bĩ. Bĩ là bế tắc.
Lục hào tượng: Thế ở hào ba, hào ba là cửa, tượng ra vào cửa. Nhưng bị Ứng ở trên là Tuất thổ hợp quấn chân, liền như cổng bị núi ngăn, xuất nhập không thông, cho nên là bĩ. Xem Tài tuy có, cuối cùng cũng bị người cướp đi. Nam xem hôn nhân, vợ đã lâm môn lại bị người khác hoành đao đoạt ái. Xem bệnh tật, trên dưới không thông, ứ tích mà thành biến. Dụng thần vượng tướng thì cũng là chuyện tốt lâu dài.
Ví dụ 4-1
Ngày Mậu Ngọ tháng Thìn, một người xem con bị viêm thận cấp, được quẻ Thiên Địa Bĩ biến Lôi Phong Hằng.
Chồng cô này cũng hiểu Lục hào, nhìn thấy quẻ này Tử Tôn bị Nguyệt khắc, Nhật xung là Nhật phá, Dụng thần không hiện lên quẻ, quẻ ngoại phục ngâm, quẻ nội phản ngâm, phi thần đến khắc phục thần, hung lại càng hung, nên không biết thế nào là tốt, không còn cách nào khác phải đi hỏi.
Bệnh của con cô ta tuy nhìn rất nghiêm trọng nhưng qua ngày Thân sẽ có chuyển biến tốt, không lâu nữa sẽ xuất viện. Nhưng cô ta vẫn chưa yên lòng, muốn được luận giải tỉ mỉ hơn.
Trong quẻ này, đứa bé bệnh chủ yếu là do công năng bài tiết của thận yếu, nước trong thận không xuất ra được, phần eo bị kìm nén khó chịu. Cô ta nói đúng là dạng này.
Quẻ này xem thế nào? Đây là bệnh gần, Tử Tôn Tý thủy không vong, cổ thư đã nói:
Bệnh gần gặp Không thì khỏi.
Đây là một điểm tốt. Quẻ này tuy là quẻ Lục hợp, bệnh gần không nên gặp hợp, nhưng có Nhật xung Tử Tôn, là hợp xứ phùng xung. Bệnh gần gặp xung thì khỏi. Như vậy cũng cho thấy bệnh của đứa bé không có trở ngại gì lắm.
Tử Tôn là thủy mà phục tàng, là trong cơ thể có nước không xuất ra được. Quẻ là Thiên Địa Bĩ, là trên dưới không thông. Cho nên đoán là công năng bài tiết có vấn đề, nước trong thận không xuất ra được. Lâm Câu Trần, Câu Trần chủ sưng nghẹn, cũng là ý này.
Trên thực tế, ngày Thân bệnh chuyển biến tốt, không lâu sau xuất viện.
Ví dụ 4-2
Ngày Tân Hợi tháng Hợi, một người xem thu hoạch cây ăn quả có được mùa không, được quẻ Thiên Địa Bĩ biến Thiên Thủy Tụng.
Lấy Thê Tài làm Dụng thần. Thê Tài trì Thế, được Nhật Nguyệt đến sinh, Dụng thần vượng tướng: người này nhận thầu rất nhiều cây ăn quả, cũng cho thấy kết trái không ít.
Nhưng quẻ này Dụng thần gặp Không, hào hai Quan Quỷ Tị hỏa độc phát. Quẻ độc phát lấy tượng làm chủ, động tất có nguyên nhân. Quan Quỷ là bệnh, Tị hỏa lại là bệnh địa của Dụng thần, cây cối sẽ bị sâu bệnh xâm hại. Dụng thần không vong, trái cây dinh dưỡng không đủ, sẽ có tình trạng quả không to đẹp. Quan lại lâm Huyền Vũ phát động, chủ đạo tặc, quả sẽ bị người trộm.
Người này nhận thầu rất nhiều cây ăn quả, kết trái cũng không ít, nhưng vì nạn sâu bệnh nên rất nhiều cây mọc không tốt, quả khô quắt, đến khi sắp thu hoạch lại bị người trộm đi rất nhiều. Cuối cùng thu hoạch chẳng được bao nhiêu.
Ví dụ 4-3
Ngày Giáp Tuất tháng Tý, một người xem bệnh, được quẻ Thiên Địa Bĩ biến Trạch Lôi Tùy.
Lấy hào Thế làm Dụng thần. Hào Thế tuy được Nguyệt kiến sinh phù nhưng bị Nhật thần và hào Ứng động hợp trụ. Nhật và hào động hợp đều luận là quấn chân, lại nhập mộ tại hào sơ, nhất định có bệnh lâu ngày quấn thân, không thể đi lại.
Quẻ là Bĩ, Bĩ có ý không thông. Thế ở hào ba, hào ba là hào vị dạ dày. Thê Tài chủ ăn uống, kết hợp với sự ngăn trở thì là dạ dày khó tiêu hóa thức ăn. Lâm Câu Trần là bụng trướng. Nguyên thần là thủy, thủy là chất lỏng, bệnh này cần dùng thuốc thang mới có hiệu quả. Vì trong quẻ hai hào động đều ảnh hưởng bất lợi đến Dụng thần, cho nên bệnh này cần tích cực trị liệu, nếu không sẽ ngày càng nghiêm trọng.
Trên thực tế người này bị bệnh sưng dạ dày nhiều năm, khám chữa khắp nơi đều không có hiệu quả.
Ví dụ 4-4
Ngày Ất Hợi tháng Dần, một người xem bệnh, được quẻ Thiên Địa Bĩ.
Lấy hào Thế làm Dụng thần. Thế được Nguyệt phù Nhật sinh là vượng tướng. Trong quẻ kị thần không phát động, như thể không có bệnh. Nhưng nhìn kỹ lại, hào hai Quan Quỷ Tị hỏa ám động, là bệnh địa của hào Thế; đồng thời hào ám động lại tương hợp với hào năm Huynh Đệ Thân kim, đây chính là huyền cơ.
Quẻ tên là Thiên Địa Bĩ, là tượng trên dưới không thông: sức khỏe không tốt, máu huyết không lưu thông. Hào hai là hào vị bộ phận sinh dục, Quan Quỷ ở đây ám động, sẽ có bệnh phụ khoa; lâm Chu Tước chủ chứng viêm, nên đoán là viêm phụ khoa. Hào năm là kim, không vong mà bị bệnh địa tương hợp; kim không thì kêu, chủ thanh âm, kết hợp với sự ngăn trở thì cổ họng không tốt, ảnh hưởng đến nói chuyện.
Thực tế: Cô này bị viêm phụ khoa, đường hô hấp không tốt. Mỗi tháng đều có một giai đoạn tinh thần đột nhiên uể oải suy sụp, không nói được.
Ví dụ 4-5
Ngày Bính Dần tháng Thìn, một người xem trong ngày đến nhà lãnh đạo thì thế nào, được quẻ Thiên Địa Bĩ biến Hỏa Sơn Lữ.
Lấy Quan Quỷ làm Dụng thần, đồng thời xem thêm hào Ứng. Quẻ này hào Thế động sinh Quan Quỷ, lại hợp hào Ứng, là mình muốn đi gặp lãnh đạo. Hào Thế lâm Tài hợp hào Ứng, lại động mà hóa hồi đầu khắc, là đi gặp lãnh đạo sẽ tốn kém không ít.
Nhưng hào Ứng không vong, Nguyệt phá, hôm nay đi gặp tất nhiên không gặp được. Hào Ứng ở quẻ ngoại mà không vong, lãnh đạo không ở đơn vị, có thể là đi công tác.
Thực tế: Người này cầm rất nhiều quà đến nhà lãnh đạo, kết quả lãnh đạo đã đi đến nhà mẹ vợ. Anh ta đành để lại đồ mà về tay không.
Ví dụ 4-6
Ngày Nhâm Tý tháng Tý, một người đàn ông xem bệnh của bố vợ, được quẻ Thiên Địa Bĩ biến Thiên Phong Cấu.
Lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần. Trong quẻ Phụ Mẫu lưỡng hiện, lấy hào Phụ Mẫu Tuất thổ trì Ứng làm Dụng thần. Dụng thần không được Nhật Nguyệt sinh phù, kị thần Thê Tài Mão mộc vượng mà phát động khắc Dụng thần. Tuy có Quan Quỷ Tị hỏa động đến dẫn hóa, nhưng nguyên thần yếu, không hình thành được thế liên tục tương sinh, cho nên rất hung.
Quẻ nội phản ngâm, bệnh tình lặp đi lặp lại không chừng. Quẻ là Thiên Địa Bĩ, là tượng trời đất trên dưới không thông. Quẻ ở Càn cung, Càn là kim, là phổi, là ruột; kị thần ở hào ba phát động, nguyên thần ở hào hai bị khắc, không cách nào sinh Dụng. Hào hai, hào ba là hào vị của ruột, cho nên đoán là bệnh về ruột. Dụng thần lâm tử tuyệt, nguyên thần hóa tuyệt, nhất định là bệnh nan y, đoán là ung thư đại tràng.
Dụng thần bị Mão mộc hợp trụ, sợ nhất là gặp xung. Năm 2000 xem, đến tháng Thìn năm 2005 không chữa được mà mất.
Nguồn: Dịch Kinh Chân Tủy – Lục Hào Tượng Giải (An Hạ)
