Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thuần Khảm: hiểm chồng lên hiểm, giữ một lòng thành mà vượt qua

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Thuần Khảm: hiểm chồng lên hiểm, giữ một lòng thành mà vượt qua

Nước đổ đến liên tiếp, hai tầng hố sâu chồng lên nhau, bước chân nào cũng có thể sụp. Có người càng giãy càng lún, có người chỉ mong gom từng việc nhỏ, có kẻ đưa lời hẹn qua ô cửa sổ vì chẳng còn lối cửa chính... Vậy giữa lúc không còn đường, điều gì giữ cho người ta khỏi chìm?


Khảm là hãm: nước đổ đến liên tiếp

Quẻ số hai mươi chín là Thuần Khảm, thuộc hàng quẻ xấu, tiết khí tháng Mười. Khảm nghĩa là hãm: hiểm nguy, mắc kẹt, lênh đênh, gian nan. Quẻ gồm hai quẻ Khảm chồng lên nhau, nên còn gọi là Tập Khảm.

Thủy tiến chí, Tập Khảm. Quân tử dĩ thường đức hạnh, tập giáo sự.

Lời Tượng nói nước đổ đến liên tiếp là quẻ Khảm kép. Người quân tử nhìn tượng nước chảy thường xuyên, liên tục mà giữ đức hạnh bền bỉ hằng ngày, tập rèn việc giáo dục, dạy dỗ cho dân quen dần.

Một nét dương bị hãm giữa hai nét âm

Nguyễn Hiến Lê giảng: quẻ này còn gọi là Tập Khảm, là hai lần Khảm, nghĩa là hai lần hiểm. Nhìn hình quẻ Khảm, ta thấy một hào dương bị hãm vào giữa hai hào âm, cho nên Khảm có nghĩa là hãm, là hiểm. Quẻ này có hai hào dương như thế, tức hai lần hãm, hiểm. Phan Bội Châu lưu ý rằng các quẻ thuần khác chỉ có một tên là Thuần, như Thuần Ly, Thuần Tốn; riêng Thuần Khảm còn gọi là Tập Khảm để nhấn mạnh hai lần Khảm, hai lần hiểm.

Ông giảng tiếp: ở quẻ Khảm, giữa là nét liền, ngoài là nét đứt, trái với quẻ Ly giữa rỗng, trên dưới đặc, như miệng lò, chỗ rỗng để chứa không khí và than củi, cho nên Ly là lửa. Trái lại quẻ Khảm giữa đặc nên chỗ nào trũng thì nước chảy vào, vì vậy Khảm là nước. Nguy hiểm không gì bằng nước sâu, nên bảo nước là hiểm.

Phan Bội Châu giảng: người ở thời hiểm chồng chất là gặp hoàn cảnh rất nguy, nhưng xem tượng quẻ để tìm ra cách xử với hiểm thì vẫn không sợ hiểm. Tượng Khảm có một hào dương ở giữa; dương là thực, là thành tín, là chí thành. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm, mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu thì tác động mạnh đến đó, nên hành động được trọng, tai nạn qua khỏi mà còn có công nữa. Người đời Tống có câu thơ: ngày thường giữ trung tín, nay sóng gió sợ gì. Người Nhật cũng có câu: những chốn lòng thành thấu tới, đá vàng cũng phải nứt. Chính là dùng đạo tín thành làm cho cái tâm sáng mà bước qua thời hiểm.

Ông còn chú thêm: trong Thoán truyện, khi bình luận các quẻ chỉ bằng một chữ thời, riêng quẻ Khảm lại thêm chữ dụng. Bởi hiểm có thời, lại có dụng. Như trong nước có họa loạn, trong nhà có tai biến, là vào thời hiểm. Nhưng việc binh, việc hình, việc dạy dân để ngăn ngừa họa loạn, việc chuẩn bị tiền gạo thuốc thang để phòng tai nạn, thảy đều là dụng hiểm. Tóm lại, hiểm thuộc về thời là cảnh ngộ không bình thường; hiểm thuộc về dụng là công việc thường làm. Thời hiểm chắc chắn không phải lúc nào cũng có, nhưng dụng hiểm thì chắc lúc nào cũng phải có. Nên lời Thoán nói rằng hiểm có thời, có dụng, lớn vậy thay.

Về lời Tượng, ông nói chữ tập đặt trên chữ Khảm có nghĩa rất hay. Tập có hai nghĩa. Một là tập rèn, ôn đi tập lại không ngừng, không quên; người quân tử dùng nghĩa này để thường xuyên trau dồi đức hạnh. Hai là tập quán, ngày ngày đêm đêm rót sâu, đúc chín, khiến cho quen, cho tôi luyện mà thành thói quen; người quân tử dùng nghĩa này để vận dụng vào việc giáo dục. Chỉ một chữ thường bao hết nghĩa tu thân, chỉ một chữ tập bao hết nghĩa dạy dân. Nước từ một dòng suối mà chảy hoài thì có ngày thành sông biển; người ta từ một việc tốt mà làm hoài thì có ngày thành hiền. Nghĩa lý chữ thường, chữ tập của thánh hiền sâu xa như thế.

Thiên Cơ Dật Sĩ, một nhà Dịch học Việt Nam, nói về người có quẻ Tập Khảm: họ thường thích phù suy hơn phù thịnh; là người có tài trí, vị tha, can đảm, dấn thân, nhưng phải cẩn trọng khi nhập cuộc. Biết mình có quẻ Tập Khảm thì cần giữ tâm trí cho ngay thẳng, chờ qua lúc gian nguy. Nếu có thể di chuyển nơi chốn thì tốt.

Về dự báo, Tập Khảm chỉ thời vận khó khăn, nhiều gian nan trắc trở, công việc khó thành; cần đề phòng tai nạn, bệnh tật, ốm đau nặng. Đây không phải thời để hoàn thành sự nghiệp lớn, chỉ nên bồi dưỡng sức lực, lòng tin, chờ thời. Tài vận không có, kinh doanh thua lỗ, thất bại, dễ bị lừa; xuất hành không lợi, dễ xảy ra tai nạn; thi cử khó đạt; kiện tụng thì bị thua, nên hòa giải ngay từ đầu; tình yêu hôn nhân trắc trở, lắm kẻ dèm pha, khó tính, nhưng gặp được người đồng chí hướng thì dễ thành lương duyên gắn bó.

Hào sơ lục: quen với hiểm, sa vào chỗ hiểm sâu

Hào âm, hào xấu. Hào từ nói quen với hiểm, rơi vào chỗ hiểm sâu thì xấu.

Tập Khảm, nhập vu khảm hãm, hung.

Hào chỉ thời cuộc khó khăn. Quan chức dễ bị kỷ luật, truất giáng; kẻ sĩ khó thành đạt; kinh doanh bế tắc; người thường hay gặp khó khăn, không lối thoát. Hợp với người tu hành, ẩn sĩ. Toán Hà Lạc nói không biết cách trừ hiểm nên không ra khỏi chỗ hiểm.

Phan Bội Châu giảng: hào âm nhu, lại ở dưới cùng quẻ Thuần Khảm, như người rơi xuống vực hiểm, càng cựa quậy càng sụp xuống sâu. Nên lời hào có chữ tập khảm, nghĩa là quen với hiểm. Chữ tập ở đây khác với chữ tập ở tên quẻ: ở tên quẻ là hai lần, ở đây là quen.

Người mệnh hợp cách biết thời cơ, giữ đạo, tuy đến chỗ hiểm mà không bước vào; là người có cơ mưu, không sa vào nơi hiểm. Người mệnh không hợp cách thì tài xoàng, trí mọn, không gặp thời, không đúng chỗ, lỗi chồng lên lỗi, khó cách vượt lên; là người tài hèn sức nhỏ, không biết thời thế, sa vào cạm bẫy, khó khăn.

Về vận hạn: quan chức và kẻ sĩ phòng bị khiển trách, truất giáng; người thường phòng đắm đuối; chỉ có tăng ni, ẩn dật là yên ổn.

Hào cửu nhị: giữa chỗ hiểm, chỉ mong được việc nhỏ

Hào dương, hào bình. Hào từ nói Khảm có chỗ hiểm, cầu việc nhỏ thì được.

Khảm hữu hiểm, cầu tiểu đắc.

Toán Hà Lạc nói đang lúc gian nan thì tìm cách thoát hiểm.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, đắc trung, có tài trí, nhưng ở giữa thời trùng hiểm, trên dưới bị hai hào âm nhu bao vây, chưa thoát được nên chỉ mong làm được việc nhỏ thôi. Đem so với hào bốn của quẻ Lôi Địa Dự: cũng dương ở ngôi âm, cũng bị hai hào âm bao vây, lại còn kém hào hai quẻ Khảm vì không đắc trung, vậy mà lời hào bốn quẻ Dự là thành công lớn, còn hào hai quẻ Khảm chỉ mong được việc nhỏ. Chỉ vì hai thời khác nhau: thời quẻ Dự là thời vui vẻ, hanh thông; thời quẻ Khảm là thời gian nan, nguy hiểm.

Phan Bội Châu bàn: thế mới biết chữ thời ghê gớm thật. Quẻ Dự, hào bốn ở thời vui vẻ, thuận thời thuận thế nên làm nên anh hùng. Quẻ Khảm, hào hai ở thời hiểm, trái thời trái thế, may ra chỉ làm nên một bậc quân tử; hai bên dương cương như nhau mà thành tựu lớn nhỏ khác nhau. Ông bàn thêm: xưa nay anh hùng tuy đủ sức chống với thời thế, nhưng thời thế cũng đủ sức làm khốn anh hùng. Có tài cương trung như hào hai dương mà bị trên dưới hai âm vây bọc, muốn làm sự nghiệp lớn đâu có dễ, nên phải tích ngày lũy tháng, từ một phần nhỏ, gây lấy cho được một chút, năm chồng tháng chất, nên lời hào mới nói là mong được việc nhỏ. Được việc nhỏ thôi, nhưng tích lũy nghìn muôn cái nhỏ thì thành một việc tất lớn; chính là một phương pháp rất hay cho người quân tử ở thời Khảm.

Người mệnh hợp cách lúc biến cố tuy chưa thành việc lớn nhưng có công cứu được cái nguy sắp đổ; là người có mưu lược, thoát được nơi hiểm, qua khỏi tai nạn. Người mệnh không hợp cách chỉ làm được việc quy mô nhỏ, việc lớn thất bại.

Về vận hạn: quan chức trải chức vụ nhỏ; kẻ sĩ thi đỗ bằng nhỏ thôi; người thường kinh doanh nhỏ; nữ mệnh làm vợ lẽ hoặc kẻ hầu. Vận xấu thì phòng bệnh tim, bụng, huyết khí.

Hào lục tam: tới lui đều gặp hiểm, chớ dùng

Hào âm, hào xấu. Hào từ nói đi lại đều gặp Khảm, trước mặt hiểm, sau lưng hiểm, đã vào chỗ sâu của Khảm thì chớ dùng.

Lai chi khảm khảm, hiểm thả chẩm, nhập vu khảm hãm, vật dụng.

Thời khó khăn, không nên tiến mà chỉ nên lùi, yên phận chờ thời. Quan chức khó tiến; kẻ sĩ khó thành danh; kinh doanh trắc trở; số xấu gặp gian nan, kiện cáo. Toán Hà Lạc nói qua lại đều hiểm, không thoát được hiểm.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, bất trung bất chính, ở trên cùng quẻ nội Khảm; tiến lên thì gặp quẻ ngoại Khảm, sau lưng cũng là Khảm, toàn là hiểm, cho nên chỉ sụp vào chỗ sâu hơn mà thôi.

Người mệnh hợp cách không đến nỗi chìm đắm, vẫn bảo vệ được sự sống còn, thân và nhà không đến nỗi suy vi; là người khôn khéo, biết lấy nhu thắng cương, nhẫn nhục khi cần nên thoát được gian nguy, giữ được cơ nghiệp. Người mệnh không hợp cách thì tài nhược, chí đoản, nghèo khó mãi.

Về vận hạn: quan chức nên lui bước; người thường gian nan, lại thêm kiện tụng.

Hào lục tứ: chén rượu bát cơm, lời hẹn đưa qua cửa sổ

Hào âm, hào bình. Hào từ nói dâng một chén rượu, một bát cơm, lại dùng thêm đồ sành, tỏ lòng thành; đưa lời giao ước vào qua cửa sổ, tỏ trí khôn tùy cơ, sau rốt không có lỗi.

Tôn tửu quỹ, nhị dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cữu.

Hào trung bình, lợi cho người làm công việc lễ tân, trông coi tế tự. Quan chức khó tiến; kẻ sĩ long đong; hay có tang phục. Toán Hà Lạc nói lấy điều thiện, lòng thành làm cho bậc nguyên thủ cảm động, nhờ vậy mà thành công.

Nguyễn Hiến Lê giảng: lời hào này gọn quá, khó hiểu. Nghĩa hào là không cần nghi lễ cầu kỳ, chỉ cần lòng chí thành là đủ. Lời ước hẹn làm tin đáng lẽ phải nộp qua cửa lớn cho đàng hoàng, nhưng lại đưa qua cửa sổ; như vậy là không chính đại quang minh, nhưng gặp thời hiểm thì phải quyền biến, miễn giữ được lòng chí thành. Hào bốn này như một vị quan cấp cao, nhưng âm nhu, bất tài, không cứu đời ra khỏi cảnh hiểm được; may mà đắc chính, chí thành, cứ giữ đức chí thành ấy mà ứng xử với bậc nguyên thủ, khai thông được chỗ bế tắc cho bề trên, giúp đỡ thiên hạ trong cuộc gian nguy. Đó là biết thời thế, biết tòng quyền, nên rốt cuộc không có lỗi.

Phan Bội Châu giải thích câu đưa lời giao ước qua cửa sổ như sau: giữa thời hiểm, lòng người có chỗ bế tắc; nếu ta cứ ngay thẳng nhè vào giữa chỗ bế tắc của người mà công kích hoài, tất nhiên lời khó lọt vào mà việc cũng hỏng. Chi bằng chịu khó mất công, rình chờ đến khi xuất hiện điểm sáng của người mà thừa cơ mở đường, tượng như nộp giao ước làm tin mà không nộp ở cửa chính, lại đưa qua cửa sổ. Tuy làm thế không đường hoàng, nhưng cốt cho lời mình lọt vào tai người nghe, thì dù có uốn đường, tắt lối chút ít cũng không ngại gì. Đó chỉ là thủ đoạn ứng xử ở thời Khảm hiểm; thánh nhân vạn bất đắc dĩ phải ủy khúc chu đáo như thế.

Người mệnh hợp cách lòng thành, cứu được hiểm, dẹp được khó, nên đức nghiệp thịnh; là người có cơ mưu với cấp trên, sau được giúp đỡ, thoát khỏi tai nạn, có phúc lộc về sau. Người mệnh không hợp cách thì dễ thành dễ phá, bỗng vinh bỗng nhục, ăn mặc kiệm ước, phúc trạch thường thường; là người phúc lộc mỏng, không bền, gặp gian nan dễ hao tổn sự nghiệp.

Về vận hạn: quan chức giữ việc nghị lễ; kẻ sĩ khó tiến; người thường có việc giao ước, phòng tang phục.

Hào cửu ngũ: nước chưa đầy, khi đã bằng thì không lỗi

Hào dương, hào tốt. Hào từ nói Khảm chưa đầy, khi đã bằng rồi thì không có lỗi.

Khảm bất doanh, kỳ ký bình, vô cữu.

Hào tốt cho mọi người, thời cuộc bình an vô sự, nhưng vẫn là thời khó khăn nên chỉ thành đạt nhỏ. Hào cửu ngũ chỉ ngôi chí tôn; khi ngôi đã vững thì như nước đã đầy, đầy rồi thì bằng phẳng, như người công bằng, không sợ thiên vị, nên không có lỗi. Toán Hà Lạc nói có cách cứu hiểm thì cứu hiểm thành công.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, có tài, đắc trung, đắc chính, ở nơi chí tôn; mới trải qua già nửa thời Khảm, hiểm chưa hết, nước còn dâng lên nữa. Đến khi nào nước đầy rồi mới bình lại, mà cứu dân ra khỏi hiểm được.

Người mệnh hợp cách đổi nguy ra an, cứu được dân, sự nghiệp không nhỏ; là người ở địa vị cao, có tài đức, biến nguy thành an, có công cứu nước, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách thì tài nhỏ, giải được ách, bình an; cũng là người có địa vị trong xã hội, thoát được cơn hoạn nạn, giữ được phúc lộc.

Về vận hạn: quan chức phận nhỏ nhưng không nguy; kẻ sĩ được lợi nhỏ; người thường bình thản, không nguy gì.

Hào thượng lục: bị trói bằng dây, đặt chân vào bụi gai

Hào âm, hào xấu. Hào từ nói buộc bằng dây thừng, đặt chân vào bụi gai, ba năm chẳng được gì, xấu. Như kẻ ở vị trí cao mà vô tài, nên bị hình phạt. Quan chức dễ bị hình án, truất giáng; kẻ sĩ gian nan, khó thành đạt; người thường dễ bị hình án. Toán Hà Lạc nói vô tài mà ở chỗ cực hiểm, ắt nguy vong.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào âm nhu, ở trên cùng quẻ Khảm, chỗ cực kỳ hiểm; đã không có tài ra khỏi cảnh hiểm, lại không biết hối mà sửa mình nên bị họa rất nặng.

Phan Bội Châu chú: quẻ Khảm này bốn hào âm vây bọc hai hào dương, tượng như bốn tiểu nhân vây bọc hai quân tử. Nên trong sáu lời hào, hào hai dương mong được việc nhỏ, hào năm dương mong nước đầy bình lặng, là trông mong cho quân tử mau thoát hiểm; hào một và hào sáu thì xấu; hào ba thì chớ dùng; hào bốn thì chỉ được không lỗi, là đau đớn cho tiểu nhân đi vào hiểm mà vô ích. Thánh nhân giúp quân tử, ghìm tiểu nhân là như thế. Lời hào sơ và hào thượng đều có chữ hung, mà lời Tượng đều có chữ mất đường lối; cứ nhìn hai hào đầu cuối và hai hào ở giữa là đủ biết.

Người mệnh hợp cách nên ẩn cư nơi sơn lâm, hoặc theo đạo tu hành; là người thật thà, ẩn cư hoặc tu hành. Người mệnh không hợp cách thì tổn thân, phá nghiệp tổ, cốt nhục khó yên, tuổi thọ kém, hình khắc nhiều; là người tài nhỏ chí to làm tổn hại cơ nghiệp, bị tù tội, gian nan.

Về vận hạn: quan chức lo bị trói buộc hoặc bị an trí; kẻ sĩ đấu tranh gay go; người thường phòng tù ngục.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc