Bài tổng quan
Khảm Cung Trong Lục Hào Tượng Giải: Bát Thuần Khảm, Tiết, Truân Và Ký Tế
Một người cha gieo quẻ tìm đứa con bỏ trốn khỏi quân ngũ, và hào Tử Tôn hợp hào biến chỉ đúng khách sạn hướng Đông Bắc doanh trại lẫn ngày Tị nó quay về. Khảm là nước, là hãm, là hiểm. Bát Thuần Khảm hai lớp nước, trời đầy mây đen sắp mưa lớn. Thủy Trạch Tiết là nước trong đầm phải có chừng mực, tượng tiết kiệm, chậm chạp. Thủy Lôi Truân là sấm bị nước đè, mầm cây gian nan nhú lên. Thủy Hỏa Ký Tế ba âm ba dương đều đúng vị, đã thành mà phải lo cái phản. Mười hai lá quẻ thực chiêm, từ người phụ nữ nông thôn ăn ít mặc thiếu tới cô gái được tìm thấy trong vũ trường đang ôm mấy gã choai choai. Vì sao một quẻ đẹp đến hoàn mỹ như Ký Tế lại đọc ra cả người chồng lười biếng lẫn gã tình nhân xài tiền như nước?
Bát Thuần Khảm
Khảm cung: Bát Thuần Khảm (lục xung)
Tổng quan: Một dương giữa hai âm, lại trùng điệp, có ý hiểm trở trùng điệp. Nói chuyện làm việc có thành tín, bỗng nhiên thông suốt. Trong thực tế tượng được quyết định khi cân nhắc sinh khắc cát hung, tốt thì là tượng tốt, xấu là tượng xấu. Tên quẻ có ý long đong, khó khăn trắc trở, nhiều cạm bẫy, nguy hiểm. Núi nặng thủy phục, trùng điệp gian nan, thủy hướng xuống, tượng hãm lạc.
Quẻ tượng: Nội ngoại đều là Khảm, Khảm là nước, thuỷ tính hướng xuống dưới, thủy muốn chảy tất cần chỗ trũng, trên nước thêm nước, thủy nhiều là họa, cho nên cổ nhân gọi là Khảm, Khảm, hãm vậy.
Lục hào tượng: Thế tại hào sáu, hào sáu là đầu, lâm thủy, thủy chủ trí tuệ, cho nên là tượng rất có trí tuệ. Thế xung khắc hào Ứng, Ứng là người khác, cho nên tuy có trí tuệ mà không thể cùng người hòa thuận, đây là hung hiểm, làm không tốt, liền sẽ mất đi ưu thế trí tuệ của mình.
Quẻ này bên trong bao hàm ý gặp nguy hiểm, bị động, thoái trào, thung lũng, khốn cảnh, lên xuống, rung chuyển.
Ví dụ 41-1
Ngày Nhâm Ngọ tháng Sửu, một người xem mất máy ảnh có thể tìm được hay không? Được Bát Thuần Khảm biến Địa Thủy Sư.
Lấy Tài làm Dụng thần. Dụng thần được Nhật tỷ hòa là vượng, nhưng không nên Quan quỷ Tuất thổ độc phát, Dụng thần nhập mộ. Quan quỷ chủ đạo tặc, Dụng thần nhập mộ tại Quan quỷ, máy ảnh đã đến tay tặc nhân, rất khó tìm về.
Quan quỷ tại hào năm, hào năm là đường, mất trên đường. Huynh đệ trì Thế ám động. Là chính mình không cẩn thận bị trộm. Thế lâm Bạch Hổ Dịch Mã, Bạch Hổ là đường đi, Dịch Mã cũng chủ tàu xe, là ngồi xe thì bị trộm. Nguyệt lâm Quỷ hợp hào Thế, người trộm đồ và mình ngồi cùng một xe.
Quẻ là Khảm, ý là sa sút, bị Quan quỷ lâm Đằng Xà đến khắc. Lục xung tâm không tĩnh, Đằng Xà lại chủ bất an, tâm lý rất là phiền não, bị kẻ trộm ảnh hưởng tới cảm xúc.
Quả nhiên không tìm được.
Ví dụ 41-2
Ngày Đinh Hợi tháng Dần, một người xem bệnh tật, được quẻ Bát Thuần Khảm.
Lấy Thế làm Dụng thần. Thế không có bị Nhật Nguyệt khắc thương, kị thần hưu tù bất động. Mới nhìn dường như không có bệnh gì. Bình thường khi Dụng thần không bị khắc chế, cần xem nguyên thần và các tin tức khác.
Quẻ này Thế tại hào sáu lâm thủy, hào sáu là đầu, thủy chủ trí tuệ, cũng chủ tư duy, Nguyệt là mộc, là đất bệnh của hào Thế, lại xung phá nguyên thần, nguyên thần cũng chủ tư duy, cho nên nhất định là tư duy có vấn đề.
Quẻ là Bát Thuần Khảm, Khảm là cao thấp nhấp nhô, cho nên suy nghĩ của hắn không bình thường, lúc tốt lúc xấu, suy nghĩ vấn đề không thể liên tục. Dần mộc là mấu chốt, mộc là thần kinh, cho nên là thần kinh xảy ra vấn đề.
Thực tế: người này bị bệnh tâm thần.
Ví dụ 41-3
Ngày Quý Sửu tháng Tý, một người đàn ông dự đoán cát hung, được quẻ Bát Thuần Khảm biến Thủy Phong Tỉnh.
Lấy hào Thế làm Dụng thần, Thế được Nguyệt tỷ hòa, nhưng bị Nhật khắc hợp, không tốt. Thế lâm Bạch Hổ, Bạch Hổ chủ gãy xương, huyết quang, quẻ là Khảm là tượng nguy hiểm, hung hiểm. Thế tại hào sáu lâm Huynh đệ, Huynh đệ là tay, hào sáu cũng là tay, đề phòng cánh tay và tay thụ thương.
Thực tế: người này bị gãy tay.
Thủy Trạch Tiết
Nước tràn hai lớp thì thành hãm, nhưng khi nước chỉ đọng trên đầm, có bờ có đáy giữ lại, cái hiểm chuyển thành cái mực thước có chừng mực.
Khảm cung: Thủy Trạch Tiết (lục hợp)
Tổng quan: Có ý dừng lại, tiết chế, tiết kiệm. Dòng nước chảy vào đất, nước đầy thì tràn, phải có độ, có lượng, có tiết chế mới được. Ví von nhân tính là con người phải có tiết chế, tiết kiệm, khí tiết mới là mỹ đức.
Quẻ tượng: Quẻ ngoại là Khảm, là thủy, là tròn. Quẻ nội là Đoài, là thủy, là thiếu. Lấy thủy mà hợp nhất, chính là cây trúc, cây trúc vật tròn, trống rỗng là thiếu, là Khảm, phân ra mà phù hợp, kết hợp tin tưởng, lấy cây trúc có tượng tiết (đốt), tên là Tiết.
Khảm là hung hiểm, Đoài là đầm lầy, đều là địa phương nguy hiểm, quẻ hỗ Cấn Chấn, Cấn là dừng lại, Chấn là động, có ý đình chỉ tiến lên, cho nên Tiết, dừng lại. Tiết, tin tưởng/tín.
Lục hào tượng: Thế tại sơ hào lâm Tài, sơ hào là tầng dưới, Tài biểu thị tài vật, được Ứng đến hợp, kết hợp là thêm vào, chứng minh tài phú là từ cơ sở từng chút từng chút tích lũy, đây chính là ý tiết kiệm, Thế hợp kim, kim chủ nghĩa, biểu thị thành tín. Thế lại là Tài, Ứng đến hợp, có tượng Tài bị người cướp đi, cho nên cần dừng lại thì dừng lại.
Quẻ này bên trong bao hàm ý đình chỉ, kết thúc, tiết kiệm, tích lũy, thủ tín, cấm chỉ, bằng chứng, lý do, chứng minh, có chừng mực.
Ví dụ 42-1
Ngày Canh Dần tháng Mão (Tuần không Thân Dậu), một người xem mua nhà như thế nào? Được quẻ Thủy Trạch Tiết biến Bát Thuần Đoài.
Lấy hào Phụ mẫu làm Dụng thần, Phụ Mẫu lâm Ứng phát động tương hợp cùng hào Thế, chính là đối phương chủ động đem nhà bán cho mình. Nhưng Phụ Mẫu không được Nhật Nguyệt sinh phù, nhà cũ. Ứng lâm Phụ Mẫu động mà hợp Thế. Đối phương là muốn dùng nhà này lừa gạt tiền, vì không vong chủ không thành tâm, Huyền Vũ là tượng quỷ kế đa đoan lừa gạt. Cho nên nhà này không mua là tốt.
Thê tài trì Thế tại sơ hào, sơ hào là nơi sự vật bắt đầu, lại là tầng thấp nhất, Tài được Nhật Nguyệt đến sinh, kết hợp quẻ tên là Tiết, lâm Câu Trần là tượng chậm chạp, cho nên tiền của mình là thời gian dài từng chút từng chút bớt ăn bớt mặc tiết kiệm được.
Kết quả không nghe, nói đối phương là bạn mình, hẳn là sẽ không lừa gạt, đem tiền giao cho đối phương, kết quả đối phương cầm tiền xong còn nói không bán nữa. Nửa năm sau mới đòi lại được tiền.
Ví dụ 42-2
Ngày Ất Dậu tháng Mão, một người gọi điện thoại xem bệnh, được quẻ Thủy Trạch Tiết biến Phong Trạch Trung Phu.
Lấy hào Thế làm Dụng thần, Thế ở sơ hào bị thủy đến khắc, sơ hào là chân, thủy chủ ẩm ướt, nát rữa, lâm Thanh Long, Thanh Long chủ đau nhức, ngứa. Tổng hợp phán đoán, chính là bệnh phù chân. Quẻ Lục hợp, hợp chủ chậm chạp, quẻ lại tên là Tiết, Tiết là dừng lại, cho nên đoán người này vì bệnh ở chân mà đi lại không tiện.
Quả như chỗ đoán.
Ví dụ 42-3
Ngày Bính Thân tháng Hợi (Tuần không Thìn Tị), một người xem cái này xin như thế nào được Thủy Trạch Tiết.
Dự đoán vận khí bình thường từ hai hướng, một là xem cát hung, hai là xem Tài. Hai thứ này không tốt, cuộc sống sẽ không an bình, mà công việc, sự nghiệp, quan vận đều là sau.
Quẻ này Thê tài trì Thế, vốn là cát tượng, nhưng bị Nguyệt kiến xung phá, lại lâm không vong, cho nên vận khí không tốt, cũng may hào Thế cùng Nhật tương hợp, Nguyệt phá bị giải, nếu không đây chính là một cái quẻ hỏng bét.
Tài lâm hào Thế đại biểu tiền tài trong tay, lâm Chu Tước, Chu Tước chủ miệng, ăn uống, có thể diễn biến thành ẩm thực và đồ dùng hàng ngày. Lại không phá, chứng tỏ người này không giàu có, ăn ít mặc thiếu lại kết hợp tên quẻ và Thê tài suy vượng có thể đoán người này thời gian qua vận khí không ổn.
Nhật là Phụ mẫu, hào Phụ mẫu chủ vất vả, Thế tại sơ hào, sơ hào là chân, là tượng khắp nơi bôn ba. Tài bị Nguyệt phá được hào Phụ mẫu hợp phá. Biểu thị chỉ có vất vả vất vả mới có thể an ổn.
Thực tế: người này là một phụ nữ nông thôn, thời gian qua rất gian khổ, thu nhập rất thấp.
Thủy Lôi Truân
Đầm nước có chừng mực thì yên, nhưng khi dưới nước là sấm của Chấn muốn động mà không động nổi, tượng chuyển sang mầm cây mới nhú gặp gian nan.
Khảm cung: Thủy Lôi Truân
Tổng quan: Có hàm nghĩa sinh sôi. Cỏ cây nảy sinh từ đất, nhưng trong quá trình nảy sinh lại có gian khổ; còn có ý dừng lại, đồn tích, đóng quân. Xem sự việc sẽ có tượng trữ hàng, hoặc sự vật vừa mới hình thành, tạo ra. Gian nan, khó khăn.
Quẻ tượng: Quẻ ngoại là Khảm, là hung hiểm. Quẻ nội là Chấn, là động, động thì có hiểm, cho nên cần đình chỉ hoạt động, nên cố thủ bất động. Cho nên là Truân. Truân, khó vậy, dừng lại vậy.
Lục hào tượng: Tử tôn trì Thế tại hào hai, Tử tôn là binh sĩ, hào hai là nhà, là trụ sở. Là tượng xây dựng cơ sở tạm thời, cắm trại cố thủ, tìm kỳ ngộ, khắc Quan quỷ ở Ứng, mà hào Ứng trong quẻ lâm hào năm, hào năm là tôn vị. Địch nhân cường đại mà ta yếu, cần thận trọng từng bước, nếu như không thể khắc, liền cần đình chỉ hành động.
Cho nên quẻ này bao hàm ý dừng lại, gian nan, bất động, thủ hộ, bảo vệ, lực bất tòng tâm.
Ví dụ 43-1
Ngày Mậu Tý tháng Hợi một người xem cho vay có đòi được hay không, được quẻ Thủy Lôi Truân.
Lấy Thê tài làm Dụng thần. Tài không hiện lên quẻ, phục dưới hào ba Quan quỷ Thìn thổ, Nhật Nguyệt khắc Tài, xung là Nhật phá. Hào Ứng là người vay tiền, lâm Tài khố, lấy lại tiền mà không được, Ứng lâm Quan quỷ, lâm Thanh Long tại hào năm, hào năm là hào vị lãnh đạo, Thanh Long là quý, Quan quỷ là quan, đối phương là người làm quan.
Thế là Tử tôn sinh Tài, muốn lấy lại tiền, nhưng Tài vốn không có gốc rễ, sinh phù không dậy nổi, quẻ tên là Truân, Truân, khó vậy. Rất khó đòi được. Tài là Hỏa, hỏa chủ số hai, hưu tù giảm phân nửa, đối phương mượn 10 triệu.
Nghiệm chứng: Đúng như dự đoán.
Ví dụ 43-2
Ngày Mậu Dần tháng Tị năm 99, một người xem, nói đứa con gia nhập quân ngũ nhưng bỏ đi đâu không rõ, xem cát hung ra sao? Đi đâu? Được quẻ Thủy Lôi Truân biến Thủy Phong Tỉnh.
Lấy Tử tôn làm Dụng thần, Tử tôn phát động chính là tin tức đứa con trốn đi, động mà hợp hào biến Huynh đệ Hợi thủy, đứa con không phải chỉ đi một mình, hẳn là còn có bạn bè đi cùng. Phụ Mẫu Thân kim ám động khắc Tử tôn, đứa con là bị chèn ép nên trốn đi.
Tử tôn được Nhật phù hóa hồi đầu sinh, lại được Huynh đệ Tý thủy tại sơ hào động đến sinh, ở bên ngoài bình an vô sự. Tử tôn Dần mộc, Dần đối ứng hướng Đông Bắc, là đi hướng Đông bắc. Tử tôn tại hào hai. Hào là nhà, quẻ tên là Truân, Truân, lưu lại vậy. Hẳn là ở tại một nơi nào đó trong nhà. Tử tôn Dần mộc hợp hào biến, ngày Tị sẽ trở lại quân ngũ.
Trong quẻ Thìn thổ động hóa xuất Phụ Mẫu, ngày Thìn sẽ có tin tức.
Thực tế: Đứa con khi trực ban có người mất một sợi dây chuyền, ban trưởng tra hỏi, tức giận trốn đi. Ngày Thìn biết được con trai ở một khách sạn hướng Đông bắc doanh trại. Ngày Tị tìm về và đi cùng một chiến hữu.
Ví dụ 43-3
Ngày Tân Dậu tháng Dần (Tuần không Tý Sửu), một người đàn ông xem con bị lạc đường vài ngày. Được quẻ Thủy Lôi Truân.
Lấy hào Tử tôn làm Dụng thần. Tử tôn trì Thế tại hào hai, được Nguyệt kiến tỷ hòa là vượng tướng. Hào hai là nhà, con gái anh ta ở gần nhà không có đi xa. Dụng thần vượng tượng, người ở bên ngoài bình an. Tử tôn lâm Huyền Vũ, Huyền Vũ chủ dâm uế, đứa con có dính líu sắc tình.
Quẻ gọi là Thủy Lôi Truân có ý là tụ tập. Con của anh ta ở cùng một chỗ với người không đứng đắn. Nguyên thần là tư duy của một người, trong quẻ nguyên thần không vong, không sinh hào hai Tử tôn, đứa con không muốn về nhà, cần đi tìm mới về.
Thế là người này đi tìm ở nhiều chỗ có liên quan đến sắc tình, mấy ngày sau cuối cùng tìm được đứa con trong một vũ trường. Khi gặp được đứa con thì đứa trẻ đang ôm ấp mấy gã choai choai.
Thủy Hỏa Ký Tế
Mầm non gian nan của Truân rồi cũng lớn, và khi nước ở trên chế được lửa ở dưới, ba âm ba dương đều đúng vị, tượng của việc đã thành hiện ra, nhưng thành rồi thì phải lo cái phản.
Khảm cung: Thủy Hỏa Ký Tế
Tổng quan: Ba âm ba dương tất cả đều được vị, hình tượng hoàn chỉnh hoàn mỹ. Dự đoán gặp nhiều khó khăn vì vật cực tất phản. "Ký Tế" ý là đã thành công, mà thực tế hiện tại chưa thành công, cho nên luận ngược lại.
Quẻ tượng: hạ hỏa thượng thủy, vì hỏa tính nóng, thượng thì lại lấy ôn hàn thủy, thủy ở quẻ ngoại, ở trên, thủy tính chảy xuống, khắc chế hỏa làm hỏa không quá vượng, thủy hỏa chế ước lẫn nhau, bổ khuyết cho nhau, cho nên gọi là Ký Tế.
Lục hào tượng: Thế Ứng tỷ hòa. Nội ngoại đều là Huynh đệ bằng hữu, hòa hợp, có phúc cùng hưởng, như người một nhà, không có khác biệt, cho nên cũng phù hợp hàm nghĩa tên quẻ.
Quẻ này có ý bổ sung, hòa hợp, trợ giúp, bình ổn, viên mãn, ngược lại có lợi ích, ăn khớp, phối hợp.
Ví dụ 44-1
Ngày Đinh Sửu tháng Sửu (Tuần không Thân Dậu), một người xem mở công ty bán đồ ăn như thế nào? Được quẻ Thủy Hỏa Ký Tế.
Xem thành lập công ty lấy Phụ Mẫu làm Dụng thần. Phụ Mẫu Thân kim được Nhật Nguyệt sinh, nhưng cũng là mộ khố, mộ có ý ngưng lại, lại thêm Dụng thần không vong, nên đoán chuyện này đã kéo dài rất lâu.
Năm 2000 dự đoán, Dụng thần là Thân, tĩnh ứng gặp trị, không cũng ứng thực không cho nên đoán năm Nhâm Thân đã bắt đầu trù bị chuyện này.
Thế lâm Đằng Xà, vì chuyện này mà rất phiền não. Quẻ là Ký Tế, Thế Ứng tỷ hòa, điều kiện đã thành thục, nội ngoại đều đã câu thông. Việc này có thể thành, ứng tại tháng Dần, xung thực Phụ Mẫu Thân kim, cũng xung Phụ Mẫu khỏi mộ.
Quả nhiên ứng nghiệm.
Ví dụ 44-2
Ngày Bính Tý tháng Thìn, một người xem hôn nhân được quẻ Thủy Hỏa Ký Tế biến Thủy Sơn Kiển:
Lấy Quan quỷ làm Dụng thần. Trong quẻ Quan quỷ lưỡng hiện, nữ đoán hôn nhân gặp quẻ tượng như vậy đa số chân đạp hai thuyền, hoặc là ngoại tình. Quẻ này Tử tôn Mão mộc lâm sơ hào, động mà hóa Quan quỷ, sơ hào là tâm sự và ý nghĩ, động mà đi khắc Quan quỷ, đồng thời lại hóa xuất Quan quỷ, loại tổ hợp này chính là ly hôn với chồng và kết hôn với người khác.
Cụ thể phân biệt tình huống hai người đàn ông cần từ hai hào Quan quỷ trong quẻ để phán đoán. Quan quỷ Sửu thổ tại hào hai, hào hai là hào vị phu thê, lại là nhà, như vậy sẽ lấy hào Quan này là người chồng, còn hào Quan Tuất thổ là tình nhân.
Hào hai Quan quỷ Sửu thổ lâm Câu Trần, hào hai lâm Câu Trần nhập mộ là lười biếng. Quan quỷ Sửu thổ Câu Trần lâm thân, nhập mộ tại Nguyệt, chính phù hợp điều kiện. Đồng thời Quan quỷ hợp Nhật, cái hợp này có hai tầng ý tứ, tầng đầu ý tứ là hợp quần chân, quần chân chính là bất động, cũng là lười biếng, một ý khác thì Nhật là hào Huynh đệ, nữ đoán hôn nhân, Huynh đệ chủ cạnh tranh, hào Huynh đệ biến thành người cùng giới với mình, cụ thể là người gì, cần từ trong quẻ xem Tý thủy lâm hào vị nào để phân biệt. Trong quẻ Tý thủy tại hào sáu lâm Thanh Long, thủy là lẳng lơ, Thanh Long chủ tửu sắc mỹ mạo, ông chồng có tằng tịu với một nữ nhân lẳng lơ.
Quan quỷ Tuất thổ là tình nhân. Quan quỷ Nguyệt phá, chứng minh tình cảm của nhân tình không phải rất tốt, sơ hào Mão mộc phát động khắc hào hai Quan quỷ đồng thời lại hợp hào năm Quan quỷ Tuất thổ, chính là người này đối xử với chồng không tốt mà lại đi o bế tình nhân. Lại thêm quẻ tượng Ký Tế, quan hệ với tình nhân rất hòa hợp.
Vì sao lại nói vậy? Vì Quan quỷ Tuất thổ Nguyệt phá, vốn là tin tức không tốt, nhưng Mão mộc động mà hợp, Nguyệt phá tự nhiên bị hóa giải. Quan quỷ Tuất thổ lại là Tài khố, người tình nhân đó khá giàu, Tài khố Nguyệt phá, Tài liền sẽ từ mộ xuất ra cũng ám chỉ người tình nhân đó chi tiêu rất hào phóng, xài tiền như nước. Hào năm là tôn vị, Quan quỷ Tuất thổ tại hào năm, người này rất sung bái người tình, coi như thần minh.
Quẻ này Tử tôn độc phát, độc phát lấy tượng phân biệt cát hung. Tử tôn đã khắc Quan quỷ lại là tử địa của Quan quỷ, hôn nhân rất khó duy trì. Đồng thời hào độc phát có thể biểu thị ứng kỳ, động mà gặp trị gặp hợp, tham khảo Tuất thổ Nguyệt phá, ứng khi thực phá, cho nên khả năng tháng Tuất ly hôn là rất lớn.
Kết quả: tháng Tuất ly hôn.
Nguồn: Dịch Kinh Chân Tủy – Lục Hào Tượng Giải (An Hạ)
