Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông

Bài tổng quan

Hỏi Đáp Chiêm Nghiệm Câu 14 Đến 18: Tam Hình, Độc Phát, Đa Dụng Thần

Bói Dịch - Bốc Phệ Chính Tông16/09/202617 phút đọc6 lượt đọc
Hỏi Đáp Chiêm Nghiệm Câu 14 Đến 18: Tam Hình, Độc Phát, Đa Dụng Thần

Mọi phép bói đều có giới hạn, và những câu hỏi đáp về Tam Hình, Độc Phát, Đa Dụng Thần dẫn tới chính giới hạn ấy. Câu thứ mười bốn hỏi phạm Tam Hình, Lục Hại có tất hung không, kèm ghi chú thẳng thắn của dịch giả về độ tin cậy của hai phép này. Câu thứ mười lăm bàn về quẻ chỉ có một hào tĩnh hoặc một hào động, trong khi câu thứ mười sáu hỏi quẻ hoàn toàn an tĩnh hay hoàn toàn phát động thì đoán thế nào. Câu thứ mười bảy giải quyết tình huống Dụng Thần hiện ra nhiều lần, buộc phải chọn lấy một hào. Câu thứ mười tám đặt ra một nghi vấn rất thật: người hỏi thành tâm, người đoán sáng suốt mà vẫn có lúc không nghiệm, vì sao lại như thế?


Câu Hỏi Thứ Mười Bốn

CÂU THỨ MƯỜI BỐN

Tam hình - Lục hại

Hỏi: Phạm phải Tam hình, Lục hại tất hung phải không?

Đáp: Tam hình gồm:

- Dần - Tị - Thân là tam toàn thành hình (tức hình lẫn nhau)

- Tí - Mão là lưỡng ngộ thành hình (tức gặp nhau)

- Sửu - Mùi - Tuất là tam toàn thành hình

- Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi là tự hình (tức chi nào hình chi đó, như Thìn thì hình Thìn, Dậu hình Dậu...)

Xem về Tam hình, nếu Dụng Thần hưu tù mà bị hào khắc khắc, mà lại phạm Tam hình chủ hung tai.

Trong quẻ gặp Tam hình không động, Dụng Thần không thương tổn, được sinh phù thì không thấy nghiệm.

Lục hại thử luôn mà chẳng thấy nghiệm nên không ghi ra đây.

Ví dụ:

Ngày Canh Thân tháng Dần, xem cháu (nguyên văn "điệt tôn" là cháu gọi bằng ông chú, ông bác) bị bệnh được quẻ Gia Nhân biến Li.

Quẻ Gia Nhân biến Li

Đoán rằng: Tị hóa là Dụng Thần được Nguyệt sinh, Nhật hợp, là bệnh có thể trị. Nhưng không nên Nguyệt kiến Dần, Nhật thần Thân với hào Tị Tử Tôn hợp thành Tam Hình, e nguy.

Sau quả chết vào ngày Dần giờ Dần.

Ví dụ 2

Ngày Mậu Ngọ tháng Thìn, xem bệnh của chồng được quẻ Li biến Di.

Quẻ Li biến Di

Đoán rằng: Hợi thủy Phu tinh làm Dụng Thần. Tuất thổ sinh phò Dậu kim động sinh Dụng. Nhưng không nên Dụng hóa nhập Mộ, lại hóa Nguyệt kiến hồi đầu khắc. Lại thêm ngày Ngọ, Ngọ - Dậu - Hợi tự hình có đủ, bệnh này tức hung nguy.

Quả giờ Ngọ này này chết.

Ví dụ 3

Ngày Mậu Tuất tháng Hợi xem vợ lẽ cận bệnh được quẻ Tốn biến Đại Hữu.

Quẻ Tốn biến Đại Hữu

Đoán rằng: Mùi thổ Tài hào là Dụng Thần, không nên hóa Dậu kim Quan Quỷ, không nên có Tị hỏa Nguyên thần lâm Không và Nguyệt phá cùng nhập Mộ tại Nhật thần. Thêm nữa Sửu - Tuất - Mùi tam hình đầy đủ, nên chẳng phải là điềm tốt, cần phòng.

Quả chết vào giờ Mùi ngày đó.

Ví dụ 4

Ngày Canh Tí tháng Tuất xem việc làm ăn được quẻ Bí biến Gia Nhân.

Quẻ Bí biến Gia Nhân

Đoán rằng: Mão mộc trì Thế hợp với Nguyệt kiến, Nhật thần sinh, sinh nhiều thì được lợi lớn.

Người xem hỏi: Ngày Tí với hào Tí hình Thế, có gì tốt không?

Đáp: Phàm xem quẻ coi trọng về sinh khắc Thế, Dụng. Nay trong Hình lại có sinh nên tham sinh mà quên hình.

Về sau đến mùa đông thu lợi lớn.

Ghi chú (của dịch giả): Về Tam Hình các sách Bốc Dịch đề cập rất ít. Trong Tăng San Bốc Dịch có đề cập đến Tam Hình một cách đơn sơ, và phân Tam hình là: 1. Dần hình Tị, Tị hình Thân; 2. Tí hình Mão, Mão hình Ngọ; 3. Sửu - Tuất tương hình; Mùi - Thìn tương hình; 4. Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi là tự hình. Nhưng cho biết khi áp dụng chẳng thấy ứng nghiệm gì cả. Sách cũng nêu ra chỉ một ví dụ như ví dụ đầu tiên ở trên. Với ví dụ này cả Bốc Phệ Chính Tông và Tăng San Bốc Dịch đều lý luận thiếu thuyết phục vì sao mà chết, trong khi hào Tử Tôn quá vượng. Trong những ví dụ sau yếu tố Tam Hình nêu ra chẳng qua cho có mà thôi. Cách dùng các từ hình xung khắc hại, chỉ có xung khắc là định rõ, cũng như hình khắc chế hóa trong môn Tử Vi thì hình hóa cũng không rõ ràng…

Nhưng vì xưa truyền lại nên sách nào cũng cố gắng đề cập. Chỉ có Lục Hại thì sách nào cũng bài bác cả. Nhưng nói chung cả Tam Hình, Lục Hại đều không nên đưa vào vì không áp dụng được gì trong sự vận dụng sinh khắc của Ngũ hành, mà sự vận dụng này theo thời gian là phần chính yếu để giải đoán trong Bói Dịch.

Câu Hỏi Thứ Mười Lăm

CÂU THỨ MƯỜI LĂM

Độc tĩnh - Độc phát

Hỏi: Độc tĩnh, độc phát ứng nghiệm như thế nào?

Đáp: Năm hào đều động chỉ một hào an tĩnh ấy là độc tĩnh, năm hào an tĩnh chỉ một hào phát động là độc phát. Nếu sáu hào trong quẻ có một hào minh động, một hào ám động thì không phải là độc phát. Nhưng độc tĩnh, độc phát không ảnh hưởng đến thành bại, nhanh chậm của sự việc. Còn như hung cát phải suy từ Dụng Thần. bỏ Dụng Thần để quyết đoán là quá viễn vông, sai lầm.

Ví dụ:

Ngày Bính Ngọ tháng Ngọ xem đi tìm cha đưa về, được quẻ Đại Hữu biến Li.

Quẻ Đại Hữu biến Li

Một người bạn biết Dịch cùng hỏi về cha, cầm quẻ này nói với ta: Chỉ độc hào Dần phát động, tháng Giêng gặp được phải không?

Ta bảo: Không phải. Trong quẻ Phụ hào trì Thế bị Dần mộc khắc chế nên tự thân không thể động được mà cha cũng không gặp được. Muốn thân động gặp cha tất đợi xung khắc năm Dần mộc.

Rồi khiến người đó bói thêm quẻ nữa để hợp mà đoán, được quẻ Cách biến Ký Tế.

Quẻ Cách biến Ký Tế

Đoán rằng: Quẻ này hợp với quẻ trước. Quẻ trước ứng với lúc xung khai Dần mộc là Thân. Quẻ này Thế hòa Thân kim hồi đầu sinh cũng ứng với Thân.

Quả đến tháng tám năm Thân tìm ra cha đem trở về nhà. Ứng vào năm Thân, ở quẻ trước là năm xung khử Kỵ thần, ở quẻ sau là hóa ra Thân kim là hào Dụng Thần Phụ Mẫu sinh Thế.

Ví dụ 2

Ngày Tân Mão tháng Thân xem về con nối dõi, được quẻ Phục.

Quẻ Phục

Người đến xem hỏi: Tôi có một đứa con, nhân loạn lạc thất tán, nay không có, nên đến hỏi tương lai có con không?

Đoán rằng: Tí thủy trì Thế, Nguyệt kiến là Tử Tôn sinh Thế, là điềm có con. Hào thứ sáu Dậu kim là Tử Tôn ám động sinh Thế cũng gọi là độc phát, động ở ngoại quái tất có điềm đứa con ở ngoài trở về.

Hỏi: Lúc nào gặp được con?

Ta đáp: Sang năm là Giáp Thìn tương hợp với Dậu kim, đắc ý trở về.

Về sau quả nghiệm. Đấy là Dụng thần độc phát do xung, mà ứng năm hợp.

Ví dụ 3

Ngày Giáp Thân tháng Ngọ xem mưa lâu ngày có hại lúa không, được quẻ Đồng Nhân biến Cách.

Quẻ Đồng Nhân biến Cách

Một người bạn cầm quẻ này hỏi ta: Tuất thổ là Tử Tôn hào lục độc phát, hôm qua đã là ngày Bính Tuất nhất định phải tạnh, vì sao còn mưa?

Đáp: Ông lo lúa bị hại, thần mới hiện Tử Tôn động khắc Quỷ ở bên Thế, bảo ông chớ lo, mà chẳng ứng chuyện tạnh mưa. Chắc chắn không có hại. Nhưng Tuất thổ hóa Thoái, không thể khắc hết lòng âu lo, nên trời còn mưa. Đợi đến ngày Mão hợp với Tuất thì trời nắng.

Quả nghiệm.

Câu Hỏi Thứ Mười Lăm: ví dụ 4–6

Ví dụ 4

Ngày Giáp Ngọ tháng Thân, xem đào mỏ than ngày nào có được than, ra quẻ Gia Nhân biến Ích.

Quẻ Gia Nhân biến Ích

Đoán rằng: Thìn thổ hào Tài là Dụng thần, quẻ này Hợi thủy độc phát hóa Tài, rõ ràng tháng Thìn có thể tìm được.

Quả đến Thanh Minh năm sau mới tìm được than. Đây là ứng với độc phát hóa ra Dụng thần.

Ví dụ 5

Ngày Canh Tuất tháng Dần xem con gái bị bệnh, được quẻ Vị Tế biến Kiển.

Quẻ Vị Tế biến Kiển

Quẻ này Dần mộc độc tĩnh, nếu không thấy Dụng thần thì đoán ngày Dần sống sao, hay ngày Dần chết sao?

Trong quẻ Thổ là Dụng thần được Tị, Ngọ hỏa động sinh, Mùi thổ Tử Tôn hóa Tiến thần, Thìn thổ Tử Tôn hóa hồi đầu sinh, tương quẻ tốt, chắc chắn ngày Dần lành.

Quả nghiệm.

Ví dụ 6

Ngày Giáp Thìn tháng Dần xem cha đi xa ngày nào trở về, được quẻ Độn biến Qui Muội.

Quẻ Độn biến Qui Muội

Đoán rằng: Ngoại quái Phục ngâm ở ngoài có tượng u buồn.

Người xem hỏi: Có hại gì không?

Đáp: Nội quái Thìn thổ Phụ Mẫu động hóa Tị hỏa hồi đầu sinh, Thế hào Ngọ hỏa hóa Mão mộc trợ Hỏa sinh Dụng, hoàn toàn không có hại. Hào tứ Ngọ hỏa độc tĩnh, tháng năm tất trở về.

Sau ba bốn tháng cha làm ăn ở Hồ Quảng, chẳng ngờ binh biến, tháng năm mới trở về được.

Câu Hỏi Thứ Mười Sáu

CÂU THỨ MƯỜI SÁU

Tận tĩnh - Tận phát

Hỏi: Trong quẻ hoàn toàn an tĩnh, hoàn toàn phát động thì làm sao đoán?

Đáp: Sáu hào an tĩnh, không có hào bị Nhật thần xung gọi là tận tĩnh, sáu hào đều động ấy là tận phát.

Tận tĩnh như hoa xuân chưa hé nụ, người ta chưa thấy vẻ đẹp, thấm mưa móc tự nhiên hé nở.

Tận phát như trăm hoa đua nở, người ta thấy nhiều vẻ đẹp, một khi gặp gió lớn bị hại tơi tả.

Cho nên tĩnh thường đẹp, động thường xấu.

Ví dụ:

Ngày Canh Thìn tháng Ngọ xem nô bộc mới đây đi khỏi nhà, ngày nào tự trở về. Được quẻ Li

Quẻ Li

Đoán rằng: Dậu kim Tài hào là Dụng thần bị Nguyệt khắc, được Nhật sinh giống như ngang sức mà không có sinh khắc. Duy Dậu kim Dụng thần lâm Không, hợp với Nhật thần nên thần cơ là ở nơi đó. Nhưng lâm Không thì phải đợi xuất Tuần, nhưng lại hợp nên chỉ dùng được một nửa, phải đợi đến lúc xung động, lúc giao tiết Tiểu Thử tức ngày Tân Mão, Dậu kim bất Không mà bị xung động thì nô bộc sẽ về.

Quả đến ngày Tân Mão thì về nhà.

Quẻ này ứng với tĩnh mà gặp lúc xung tĩnh, Không đợi xuất Không.

Ví dụ 2

Ngày Kỷ Mão tháng Thìn, xem hôm nay có người trả lại bạc không, được quẻ Khôn.

Quẻ Khôn

Đoán rằng: Dậu kim là Nguyên thần lâm Không bị Nhật thần xung tức xung tĩnh, gặp xung tất khởi (động). Huống gì Nhật thần lâm Ứng xung Thế, người kia tất giờ Tị hôm nay đưa trả.

Quả giờ Tị hôm nay người đó trả lại một nửa. Tĩnh lâm Không được xung khởi chỉ được nửa sức, mà tiền cũng chỉ có nửa. Ngày Ất Dậu tất trả hết. Đã được xung khởi, trị nhật là Nguyên thần thì đầy đủ. Mà Tử Tôn là thần vui vẻ, trả xong chẳng vui vẻ sao (quẻ này tận tĩnh, mà Nguyên thần quá vượng chỉ bị lâm Không, nên được trả ngay trong ngày. Vì Tài không vượng nên dù bị xung khởi cũng chỉ có được một nửa, phải đến lúc Thế xuất Không mới được hoàn toàn).

Ví dụ 3

Ngày Nhâm Thân tháng Tí xem cha ở trong loạn quân, hung cát thế nào. được quẻ Đại Súc biến Tụy.

Quẻ Đại Súc biến Tụy

Đoán rằng: Sáu hào loạn động, chính là tượng ở trong loạn quân. Lấy biến hào Tị hỏa Phụ Mẫu làm Dụng thần, bị Nguyệt kiến khắc, Nguyên thần Dần thủy lại bị Nhật thần xung khắc, e khó giữ được tính mệnh.

Sau quả chết mất tung tích.

Ví dụ 4

Ngày Giáp Tí tháng Thìn, xem xây mộ chôn cha mẹ được quẻ Càn biến Khôn.

Quẻ Càn biến Khôn

Đoán rằng: Quẻ này rất hung không cần phải luận kỹ.

Người xem nói: Mộ đã xây xong, chờ mở kim tỉnh để táng, nên xem để quyết. Xem gia đình có yên không.

Ta cố sức ngăn, không nên chôn. Đang lúc bàn bạc có người đến báo vùng nơi huyệt phía dưới đá lớn vô số, mà không có nơi để điểm huyệt. Sau có thầy địa xem bảo "bối thủy tẩu thạch" không làm được mộ.

Câu Hỏi Thứ Mười Bảy

CÂU THỨ MƯỜI BẢY

Dụng thần đa hiện

Hỏi: Dụng Thần hiện nhiều trong quẻ làm sao mà chọn?

Đáp: Ta thử thường thấy nghiệm:

- Bỏ nhàn hào (chỉ hào không có chức vụ hoặc tác động gì cả) mà dùng hào trì Thế

- Bỏ hào không quyền hành mà dùng Nhật Nguyệt.

- Bỏ hào an tĩnh mà dùng hào phát động

- Bỏ hào bất Phá mà dùng hào Nguyệt phá

- Bỏ hào bất Không mà dùng hào Tuần không

Thiên cơ ở nơi hào có bệnh, phép đoán nói chung giống như người thầy thuốc.

Ví dụ:

Ngày Canh Tí tháng Mùi xem cầu tài được quẻ Tiểu Súc.

Quẻ Tiểu Súc

Đoán rằng: Mùi thổ Nguyệt kiến là Dụng Thần, nhưng lại chọn Thìn thổ lâm Không làm Dụng Thần, vì Không tất có dính líu. Và đoán ngày Thìn trong tháng tất được tiền.

Quả đến ngày Giáp Thìn giờ Tị tiền đến tay. Đó là ứng vào ngày giờ xuất Không.

Ví dụ 2

Ngày Canh Ngọ tháng Mùi, xem thăng chức điều đi, được quẻ Sư biến Hoán.

Quẻ Sư biến Hoán

Đoán rằng: Nhật thần là Thế rất vượng được Nguyệt kiến là Quan tinh tương hợp, nhưng trong quẻ hiện hai hào Quan, một Không, một Phá thì lấy hào nào làm Dụng Thần để đoán năm nào thăng mà đổi đi.

Đáp: Năm nay là năm Mão, sang năm là Thìn tất lấy Thìn làm Dụng Thần, thì sang năm có thể thăng chức. Nhưng ngoại quái Phản ngâm, nên ứng nghiệm đi rồi lại về.

Quả đến năm Thìn điều đi Hà Nam, tháng năm lại điều trở về. Tháng mười mở phủ Tổng Đốc. Một năm hai lần điều đi, một lần được thăng chức đều ứng vào năm thực Không.

Ví dụ 3

Ngày Bính Ngọ tháng Hợi xem con ngày nào thoát nạn, được quẻ Dự biến Qui Muội

Quẻ Dự biến Qui Muội

Đoán rằng: Trong quẻ hiện ba hào Tử Tôn đều sinh hào Thế, tất thoát được tai ách. Hào Ngọ Nhật thần an tĩnh, hai hào Tị hỏa đều bị Nguyệt Phá, tất năm Tị thoát tai ách.

Quả nghiệm. Đấy là Dụng Thần hiện nhiều mà dùng hào bị Nguyệt Phá, tức hào có bệnh và ứng nghiệm vào năm thực Phá.

Ví dụ 4

Ngày Đinh Sửu tháng Mùi, xem con đi xa ngày nào trở về, được quẻ Đỉnh biến Nhu.

Quẻ Đỉnh biến Nhu

Đoán rằng: Mùi thổ hóa Tiến Thần, bị Nhật thần xung. Sửu thổ hóa Tí thủy tương hợp. Tị thủy là Nguyên thần động sinh Dụng thần, hóa Tí thủy hồi đầu khắc, trước mắt không về.

Hỏi: Rốt cuộc có về đến không?

Đáp: Năm Ngọ tất đến.

Quả tháng Ngọ, năm Ngọ đến nhà. Ứng với năm tháng Ngọ vì Mùi thổ động mà Nhật xung, tất động phải gặp năm tháng hợp. Sửu thổ hóa Tí thủy hợp, hợp thì cần năm tháng xung khai. Tị hỏa hóa Tí thủy khắc, nên xung khử Tí thủy tất "khử sát lưu ân".

Ví dụ 5

Ngày Quí Hợi tháng Dần, xem con nối dõi có đông không, được quẻ Khôn biến Cấn.

Quẻ Khôn biến Cấn

Người xem hỏi: Tỳ thiếp đến ba bốn người, trong ba bốn năm sinh ra thì chết đến chín người mà không còn một. Nay về sau có thể còn có con không?

Ta đáp: Tử hóa Quỷ, Quỷ hóa Tử không chỉ rối rắm mà sau cũng không có. Quả về sau không có con, phải lấy cháu nối dõi.

Câu Hỏi Thứ Mười Tám

CÂU THỨ MƯỜI TÁM

Không ứng nghiệm

Hỏi: Người bói thành tâm, người đoán sáng suốt, cũng có khi không nghiệm, vì sao?

Đáp: Lý do là tại người bói, không phải tại người đoán. Ý người bói tuy thành, nhưng việc kín khó nói rõ, hoặc hỏi này mà ý muốn khác. Vì lý đó nên mới không ứng nghiệm mà thôi.

Ví dụ:

Ngày Mậu Thân tháng Dậu xem bác ngày nào trở về, được quẻ Lữ biến Cấn

Quẻ Lữ biến Cấn

Quẻ này nếu đoán bác có bình an không. Mão mộc Phụ Mẫu phục không hiện, bị Nhật Nguyệt động hào khắc xung tất không bình an. Nay hỏi về ngày về, thì không đoán như thế. Chỉ dùng Dụng thần phục tàng chịu khắc nên không về.

Về sau quả không về nhưng ở ngoài bình an.

Ví dụ 2

Ngày Ất Hợi tháng Thân xem gia trạch, được quẻ Tỉnh biến Tiết.

Quẻ Tỉnh biến Tiết

Đoán rằng: Ứng ở hào nhị ấy là Ứng nhập trạch, lâm Phụ Mẫu tất có bậc trưởng giả ngoài họ cùng ở.

Người xem nói: Trước đây không có người ngoài ở chung.

- Nội quái hợp thành Quan cục tất trong nhà không yên.

Người xem nói: Trước đây không có lộn xộn.

- Dần mộc là Huynh Đệ phục tàng bị Nguyệt phá, bị Quan cục khắc, gia đình anh em bất lợi.

Người xem nói: Tôi xem gia trạch nhưng muốn cùng thầy dạy trong nhà đi thi hương, thực là xem công danh mà thôi.

Ta bảo: Công danh với gia trạch xa vời như trời với đất. Công danh lấy Quan Quỷ làm quan tinh, gia trạch lấy Quan Quỷ làm họa hại. Đã xem công danh, thì công danh của ông không được, mà thầy dạy thì đậu cao.

Người xem hỏi: Vì sao mà biết?

Đáp: Quan cục sinh Ứng không sinh Thế, tất xuất hiện vô tình, ta không liên can.

Sau đến tháng tám Dậu kim, tháng thực Không, người này nhập trường thi, Ngày niêm bảng chỉ có thầy dạy đậu cao đến thứ tư.

Ví dụ 3

Ngày Quí Hợi tháng Mùi xem lưu niên, được quẻ Cấn.

Quẻ Cấn

Người này ở đến xem xin vào quân đội, lại không biết mà nói xem lưu niên. Xem danh lấy Quan Quỷ làm quan tinh, mừng nhất là Quan Quỷ trì Thế, xem lưu niên, không lấy hào Quỷ làm quí, không nên Quan Quỷ trì Thế. Ta lấy lẽ này để bảo cho người xem rõ.

Người xem nói: Nhờ cậy người vin theo lệ, không biết có thành việc không?

Đáp: Quẻ này Quan tinh trì Thế, Nhật thần sinh hợp, sự nghiệp đã thành.

Quả ngày Nhâm Thân, có văn thư thu nhận. Ứng với ngày Thân vì Quan tinh Dần mộc hợp với Nhật thần, hợp thì đợi ngày xung. Nếu đoán lưu niên ắt sai lầm.

Ví dụ 4

Ngày Ất Dậu tháng Tí xem nơi nhậm chức hung hay cát, được quẻ Nhu

Quẻ Nhu

Người này nhân trong tỉnh khuyết chức, nói ra không tiện, nên mới hỏi chỗ làm hiện tại hung hay cát, mà không biết hỏi có thể vào chỗ khuyết ấy không. Tử Tôn trì Thế thì không được. Xem hung cát thì Tử Tôn trì Thế tất thôi việc quan. Ta liền hỏi rõ.

Người xem nói xem lên chức.

Đáp: Chỗ khuyết này không được.

Quả không thay được, chỗ làm việc an ổn. Nếu xem hung cát nơi làm việc thì đoán thôi việc quan rồi. Chẳng phải khác nhau như trời vực sao?.

Ví dụ 5

Ngày Tân Sửu tháng Ngọ, nhân mẹ bị bệnh mà hỏi lưu niên, được quẻ Ích biến Vô Vọng.

Quẻ Ích biến Vô Vọng

Nếu người bán buôn hỏi lưu niên tự nhiên lấy hào Tài làm trọng. Quẻ này Mùi thổ Tài vượng trì Thế, hóa Ngọ hỏa sinh hợp tất sẽ phát tài.

Người xem nói: Tôi nhân mẹ già bị bệnh mà đến xem, muốn xem ngày nào yên?

Ta đáp: Xem cầu tài lưu niên và xem bệnh mẹ xa nhau như trời vực.

Đoán: Mẹ nguy vào ngày Giáp Thìn.

Quả nghiệm. Đấy là ứng với ngày Thìn thổ xuất Không.

Ví dụ 6

Ngày Tân Dậu tháng Ngọ xem công danh được quẻ Tụy biến Độn.

Quẻ Tụy biến Độn

Đứa bé này mười hai tuổi vâng cha đến xem công danh. Nếu lấy hào Quan trì Thế đang ở mùa hè hỏa vượng, hào Mùi thổ Phụ Mẫu là văn chương hóa Tiến thần tất công danh nhiều triển vọng. Đâu biết cha khiến con đi xem. Ý xem phát từ lòng thành của cha, tức cha xem cho con. Mão mộc không thể khắc Phụ, tất Phụ động khắc Tử.

Đứa bé này chết vào ngày Tuất tháng Mùi.


Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông