Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông

Bài tổng quan

Hỏi Đáp Chiêm Nghiệm Câu 6 Đến 9: Phục Ngâm, Tuần Không, Nguyệt Phá

Bói Dịch - Bốc Phệ Chính Tông16/09/202620 phút đọc12 lượt đọc
Hỏi Đáp Chiêm Nghiệm Câu 6 Đến 9: Phục Ngâm, Tuần Không, Nguyệt Phá

Có những trạng thái khiến một hào tưởng như đã mất hết sức, và các câu hỏi đáp về Phục ngâm, Tuần Không, Nguyệt Phá, Phục thần đều xoay quanh chính ảo tưởng ấy. Câu thứ sáu hỏi cái hung của Phục ngâm có phân biệt nặng nhẹ không, với bốn ví dụ. Câu thứ bảy, dài nhất nhóm, lý giải vì sao hào gặp Tuần Không có khi rốt cuộc là không, có khi lại bất không, với hàng loạt ví dụ, có cả chuyện tìm xác người chết đuối ở Thái Hồ. Câu thứ tám đặt vấn đề tương tự cho hào Nguyệt Phá. Câu thứ chín bàn trường hợp Dụng thần không hiện, phải xem Phục thần nằm dưới hào nào và có thoát ra được không. Ở đó có hai ca bệnh được đoán là do tượng thần giấu trong nhà.


Câu Hỏi Thứ Sáu

CÂU HỎI THỨ SÁU

Hỏi: Hung của Phục ngâm có phân biệt nặng nhẹ phải không?

Đáp: Phục ngâm có tượng ưu uất, rên rỉ. Nội quái Phục ngâm thì bên trong bất lợi, Ngoại quái Phục ngâm thì bên ngoài bất lợi. Phàm xem gặp quẻ này đều không được vừa lòng. Động hay bất động đều u sầu buồn bã. Xem công danh thì khốn quẫn lâu ngày, xem hoạn lộ thì trì trệ khó tiến, xem vốn liếng thì thiếu hao, xem nhà cửa mồ mả thì muốn dời chẳng được, giữ thì không lợi. Xem bệnh lâu ngày thì khó lành, hôn nhân không tựu, xem việc quan thì không xong, xuất hành bị cản trở, hỏi hành nhân thì còn ở ngoài nhiều âu lo. Xem về thế này kia, nếu nội Phản ngâm thì lòng ta không toại, ngoại quái thì lòng người không yên. Muốn hỏi về hung cát phải xem xét sinh khắc của Dụng thần mới rõ, muốn biết họa phúc cần hiểu biết về Dụng thần, Kỵ thần và Phục ngâm.

Ví dụ:

Ngày Ất Mão tháng Thân, xem quân sắp đến, cả nhà nên tránh nơi nào, được quẻ Vô Vọng biến Đại Tráng.

Quẻ Vô Vọng biến Đại Tráng

Đoán rằng: Nội quái Phục ngâm ưu uất chưa giải được, mừng được Thế hào Ngọ hỏa là Tử Tôn là chính mình, Ứng hào Tí thủy Phụ Mẫu là cha mẹ. Nguyệt kiến sinh Ứng, Nhật thần sinh Thế, Thế Ứng an tĩnh nên cha mẹ và mình không có gì lo ngại, chỉ ngại Huynh Đệ là Dần mộc Phục ngâm, tháng này lâm Nguyệt phá, anh em gặp nguy hiểm. Người xem hỏi: Cha mẹ ở nhà người thân tại phía tây có hại gì không? Đáp: Phương tây thuộc Kim sinh phò Phụ Mẫu, không có lo ngại chút nào cả. Còn ông nên tránh ở phía đông, đông thuộc Mộc sinh Hỏa, vợ và anh em theo ông chạy vị Tử Tôn trì Thế có thể khỏi lo. Người xem về dẫn gia quyến lánh nạn ở phía đông. Về sau trở về, thăm ta và nói: Bình yên, chỉ có em trai quá nhớ cha mẹ đi thăm, nửa đường bị hại.

Ví dụ 2

Ngày Giáp Ngọ tháng Thân xem tại nơi trấn nhậm có bình an không, được quẻ Cấu biến Hằng.

Quẻ Cấu biến Hằng

Đoán rằng: Chỉ ngại Ngoại quái Phục ngâm, ở nơi trấn nhậm tất có biến cố cho nên mới có quẻ rên rỉ này. Người xem nói: Địa phương này có bộ tộc Miêu đồng gây rối, có gì trở ngại không? Đáp: Quẻ Phục ngâm muốn về mà về không được. Sang năm tháng Thìn, phải bỏ chức ở huyện Bình Tĩnh, tháng Ngọ được bổ dụng lại. Ứng với tháng Thìn bỏ chức vì hào Tuất Phụ Mẫu Phục ngâm lại bị Nguyệt phá. Ư với tháng Ngọ được bổ dụng lại vì Nhật thần là Quan tinh sinh Dụng thần, nên được thời mà vượng.

Ví dụ 3

Ngày Ất Mão tháng Dần, khách xa đến xem trong nhà có bình an không, được quẻ Vô Vọng biến Càn.

Quẻ Vô Vọng biến Càn

Đoán rằng: Nội quái là trong nhà bị Phục ngâm nên có việc đau buồn xảy ra. Người xem hỏi: Việc gì? Đáp: Ngày Mão tháng Dần cùng đến khắc Tài hào là Thìn thổ, e là việc của thê thiếp, nô bộc.

Ví dụ 4

Vào ngày trên, người đó lại xem thê thiếp ở nhà có bình an không. Được quẻ Dự biến Bĩ.

Quẻ Dự biến Bĩ

Đoán rằng: Tuất thổ Tài hào lại Phục ngâm, bị Nhật Nguyệt đều khắc, ông tất có nguy lớn.

Hỏi: Ứng vào lúc nào?

Đáp: Nhật thần hợp với Tuất, nên trước mắt dù Dần Mão đều khắc nhưng chưa có hại. Qua tháng Thìn, Dụng thần Phục ngâm lại bị Nguyệt xung, tất khó tránh được.

Quả tháng ba vợ chết.

Câu Hỏi Thứ Bảy

CÂU HỎI THỨ BẢY

Hỏi: Hào gặp Tuần không, khi thì đoán rốt cuộc sẽ là Không thì ứng vào lúc điền thực, khi thì đoán là Bất Không, rồi rốt cuộc là Không, sao vậy?

Đáp: Không có sinh mà bị khắc thì rốt cuộc là Không; được sinh mà không khắc thì đợi thời mà dùng. Quẻ qua hung mừng được Dụng Thần lâm Không, quẻ quá tốt kỵ Dụng Thần lâm Không.

Ví dụ:

Ngày Mậu Tuất tháng Tị, xem cầu tài được quẻ Ích.

Quẻ Ích

Đoán rằng: Tài hào Thìn thổ trì Thế vì lâm Không, được ngày Tuất xung, ấy là xung Không tức khởi. Vào ngày này tất được.

Quả nghiệm. Ứng vào ngày này, vì Tuất cũng là Tài tinh xung ta. Đấy là xung Không mà hữu dụng vậy (quẻ này quan trọng là Tài thổ mà xem trong tháng Tị hỏa nên rất vượng, mới xung Không thành y thực được).

Ví dụ 2

Ngày Giáp Tí tháng Hợi xem nô bộc ngày này trở về, được quẻ Cách.

Quẻ Cách

Đoán rằng: Tài Ngọ hỏa phục là Dụng Thần, bị Nhật Nguyệt khắc, hỏi hung hay cát thì hung. Nay hỏi ngày nào trở về, mà Thế lâm Không thì chậm, Kỵ thần Tuần không thì trong tuần tất đến, ngày Kỷ Tị tất trở về. Sau quả nghiệm.

Ứng với ngày Tị vì Tị hỏa cũng là Tài, xung Phi thần mà hiển lộ Phục. Hoàng Kim Sách có câu: "Không hạ Phục thần dị vu dẫn bạt" (Phục ở dưới hào Không thì dễ kéo ra) (quẻ này có lẽ chủ ý của người xem không hiểu nô bộc thế nào, vì thế hào Thế mới lâm Không, nhưng Thế vượng, nên ngày Tị xung Không thì tất giải mối nghi của người xem mà thôi).

Ví dụ 3

Ngày Đinh Mão tháng Thân xem yết kiến quí nhân cầu tài, được quẻ Đồng Nhân.

Quẻ Đồng Nhân

Đoán rằng: Hợi thủy Quan tinh trì Thế lâm Tuần Không, xuất Tuần đến ngày Hợi tất gặp. Nguyệt kiến Tài hào sinh Thế, tiền bạc lợi vừa ý. Quả nghiệm. Đậy là xuất Không thì hữu dụng.

Ví dụ 4

Ngày Quí Dậu tháng Tí, một người tự xem chuyện hôn nhân, được quẻ Hằng biến Đỉnh.

Quẻ Hằng biến Đỉnh

Đoán rằng: Thế Quan Ứng Tài gọi là "đắc địa". Nay Tuất thổ là Tài hào lâm Không hóa Tị hỏa hồi đầu sinh, động mà được sinh thì bất Không, ngày kế tiếp đến cầu hôn tất được.

Quả nhiên ngày sau giờ Tị hôn nhân được định (quẻ này đến ngày Tuất thì Tài hào đã xuất Không rồi).

Câu Hỏi Thứ Bảy: ví dụ 5–8

Ví dụ 5

Ngày Quí Sửu tháng Ngọ, xem vợ bị bệnh ngày nào sẽ lành, được quẻ Tụy biến Tỉ.

Quẻ Tụy biến Tỉ

Đoán rằng: Mão mộc Tài hào là Dụng Thần, lâm Không có Hợi thủy là Nguyên thần sinh, ngày sau tất lành.

Có người đứng bên hỏi: Hào Mão bị Tuần Không, nên đoán là ngày Mão, sao lại đoán ngày Dần.

Ta nói: Ông không biết phép, đến ngày Giáp Dần thì Mão mộc đã xuất Không. Dần mộc cũng là Dụng Thần.

Quả ứng vào ngày Giáp Dần thì lành, tức trước Mão một ngày (quẻ này nên lấy hào động mà đoán mới phải, Hợi thủy Tử Tôn động sinh Thế, tức ứng vào ngày hợp là Dần).

Ví dụ 6

Ngày Canh Tuất tháng Dần, xem con bị bệnh ngày nào lành, được quẻ Cấu biến Vô Vọng.

Quẻ Cấu biến Vô Vọng

Đoán rằng: Hợi thủy Tử Tôn hóa Dần mộc Tuần không, cận bệnh gặp Không tất lành, hiềm Hợi thủy hóa Dần mộc lâm Không tất không thể được Dậu kim sinh, phải đợi đến ngày Dần mới lành.

Quả nghiệm. Đấy là hóa Không xuất Không vậy(quẻ này có nhiều yếu tố để đoán con lành, Tử, Thế đều hóa Hợp, nhưng nên lấy đại thể mà đoán cận bệnh mà quẻ biến Lục xung tất lành. Còn khi nào lành thì phải dùng hào hợp với Tử Tôn động tức là ngày Dần).

Ví dụ 7

Ngày Canh Tí tháng Mùi xem cầu tài, ngày nào tiền đến tay. Được quẻ Tiểu Súc.

Quẻ Tiểu Súc

Đoán rằng: Tháng Mùi trì Tài, trong tháng tất có, nay hỏi ngày nào đến tay. Trong quẻ Thìn thổ lâm Không tất có nguyên nhân mới hiện ra như thế. Nên đoán ngày Thìn tất được tiền. Quả nghiệm.

Đấy là bỏ hào Mùi thổ bất Không mà chọn hào Thìn thổ lâm Không vậy.

Ví dụ 8

Ngày Canh Thìn tháng Dậu xem nhạc mẫu bị cận bệnh (tức bệnh mới phát) được quẻ Sư biến quẻ Thăng.

Quẻ Sư biến Thăng

Đoán rằng: Dậu kim Phụ Mẫu Tuần không, cận bệnh gặp Không tất lành. Nhật thần lại hợp Phụ Mẫu, cận bệnh gặp hợp tất chết. Nhưng không nên Thế trì Kỵ thần khắc. Bệnh này tất nguy.

Hỏi: Nguy vào ngày nào?

Đáp: Ngọ hỏa tự hóa Không, trong tuần không thể bị khắc. Cận bệnh gặp Không thì không chết, nên trong tuần không chết. Phòng ngày Ất Dậu.

Quả đến ngày Ất Dậu giờ Mão thì chết.

Câu Hỏi Thứ Bảy: ví dụ 9–11

Ví dụ 9

Ngày Nhâm Thìn tháng Dậu xem con bị bệnh, được quẻ Đại Quá.

Quẻ Đại Quá

Đoán rằng: Ngọ hỏa Tử Tôn phục dưới hào Thế là Hợi. Nguyệt kiến sinh trợ Hợi thủy khắc Tử Tôn. Trước mắt Dụng Thần lâm Không không chịu khắc. Ngày Giáp Ngọ khó tránh.

Quả chết vào ngày Ngọ giờ Ngọ. Đấy là "Phục vô đề bạt" (phục không được trợ giúp)

Ví dụ 10

Ngày Ất Tị tháng Tí, một người đến xem về em chết ở Thái Hồ, thây không biết có thể tìm được không. Được quẻ Phục.

Quẻ Phục

Đoán rằng: Phàm xem thây người lấy hào Quỷ làm Dụng Thần. Nay Dần mộc là hào Quỷ lâm Không, mà Hợi thủy đang nắm lệnh (xem tháng Tí, Thủy vượng, nên Hợi nắm quyền) lại ám động hợp Quỷ. Rõ ràng thây ở trong dòng nước lớn. Nhưng Dần mộc lâm Không, bị hợp nên đợi ngay xuất Tuần, gặp xung tức ngày Canh Thân tất có thể tìm được.

Sau đến ngày Canh Thân không thấy. Mãi đến tháng Sửu, ngày Nhâm Thân trong tuần Giáp Tí thây nổi lên mới tìm thấy. Thế nghĩa là sao?

Dần thủy xuất Tuần mà Hợi thủy quá vượng, phải đến lúc giao tiết tháng Sửu, Sửu thổ có thể chế Thủy. Tuần Giáp Tí, Hợi thủy lâm Không, Thủy lâm Không thì như thủy rút. Mộc ở trong Thủy không xung thì không khỏi. Cho nên nghiệm vào tuần Giáp Tí ngày Nhâm Thân. Há chẳng phải thần kỳ sao. Học giả không thể không xét kỹ.

Ví dụ 11

Ngày Giáp Ngọ tháng Sửu, một người xem cha bị cận bệnh được quẻ Phục cũng biến Phệ Hạp.

Quẻ Phục biến Phệ Hạp

Đoán rằng: Tị hỏa Phụ Mẫu là Dụng thần, lâm Không được Nhật thần củng. Cận bệnh gặp Không tất không chết nhưng bất lợi vì quẻ Lục Hợp, Lục Hợp tất chết. Ta nghĩ Dụng lâm Không và Lục Hợp có thể địch lại nhau. Chỉ không nên Thế tại Kỵ thần mà ám động. Ngoại quái Tị, Dậu, Sửu hợp thành Kim cục trợ Thủy khắc Dụng. Bệnh này tất hung.

Người xem hỏi: Hung tại ngày nào?

Đáp: Ngày Kỷ Hợi khắc xung Tị hỏa nhưng còn ở trong Tuần nên không hại gì, sợ nguy ở ngày Tân Hợi sau khi xuất Tuần. Quả đến ngày này thì chết.

Đó là ứng với xuất Tuần bị xung khắc.

Câu Hỏi Thứ Bảy: ví dụ 12–14

Ví dụ 12

Ngày Mậu Tuất tháng Mùi, vì đại hạn xem ngày nào thì mưa, được quẻ Quán.

Quẻ Quán

Đoán rằng: Nguyệt kiến Mùi thổ Phụ Mẫu là Dụng thần được Nhật thần trợ lực, có mưa tất lớn. Nhưng Tị hỏa Quan hào là Nguyên thần lâm Không, yên tĩnh. Tĩnh tất phải đợi xung, Không phải đợi xuất Tuần. Đoán ngày Tân Hợi có mưa to.

Quả đến giờ Thân Dậu ngày này mưa to được 5 tấc.

Ví dụ 13

Ngày Mậu Tuất tháng Mùi xem người mới quen ngày nào đến, được quẻ Kiển.

Quẻ Kiển

Đoán rằng: Phàm xem bạn chí thân lấy hào Huynh Đệ làm Dụng thần, xem người mới quen phải lấy hào Ứng làm Dụng thần. Nay hào Ứng lâm Không được Nhật thần xung khởi, tất phải chờ đến ngày Giáp Thìn. Quả nghiệm.

Ví dụ 14

Ngày Giáp Thìn tháng Mùi xem ngày nào có mưa to, được quẻ Tiểu Quá biến Cách.

Quẻ Tiểu Quá biến Cách

Đoán rằng: Nhật thần Thìn thổ là hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, phát động được Nguyệt kiến trợ giúp. Dụng thổ đang vượng khỏi phải nói, chắc chắn có mưa không nhỏ. Nhưng không nên Dụng hóa Mão mộc lâm Không mà hồi đầu khắc. Tuy có Thân hóa Dậu kim Tiến thần khắc Mộc cứu Thổ, mà Mão mộc lâm Không, ấy là né tránh Kim khắc. Nên kết quả Phụ Thìn thổ có bệnh do Mão mộc. Đợi đến tuần Giáp Dần, ngày Ất Mão khi Mão mộc xuất Không trị nhật, lộ ra nên khó tránh được khắc. Tuất thổ ám động trợ Kim khắc Mộc, nên Mão mộc đã bị Kim khắc thì không thể hại Thìn thổ. Nên phải đợi đến tuần Giáp Dần ngày Ất Mão mới có mưa.

Đến lúc đó lại không mưa. Phải đến Lập thu, ngày Tân Dậu giờ Thân mới mưa. Vì sao lại ứng sau Lập thu ngày Dậu? Quẻ hiện rõ Thân hóa Dậu tức tháng Thân ngày Dậu vậy. Mão mộc xuất Tuần trị nhật cuối cùng bị khắc không tận, phải đến tháng Thân khắc, ngày Dậu xung mới có mưa. Ta nhờ thế mà học tiến thêm một bước nữa.

Câu Hỏi Thứ Tám

CÂU HỎI THỨ TÁM

Hỏi: Hào Nguyệt phá, hoặc định Phá là vô dụng, rồi lại ứng vào Phá; hoặc gọi là bất Phá rồi rốt cuộc là Phá mà vô dụng, vì sao vậy?

Đáp: Thần cơ hiện ở Phá, căn bản của họa phúc định ở nơi động. Hào Phá động mà được sinh không khắc thì có phép xuất Phá điền thực, hợp Phá; hào Phá mà an tĩnh bị khắc không sinh thì rốt cuộc là Phá.

Ví dụ:

Ngày Đinh Mão tháng Tuất, xem việc kiện tụng được quẻ Thái.

Quẻ Thái

Đoán rằng: Gặp quẻ Lục hợp, quan sự tất thẩm tra, không nên hào Tuất xung Thế bị Nguyệt phá, ngày Mão lại khắc Thế, tất chắc chắn thua. Sau quả bị trách phạt. Đó là ứng với Nhật khắc Nguyệt phá vậy.

Ví dụ 2

Ngày Kỷ Sửu tháng Hợi xem tương lai có quan chức không, được quẻ Đoài biến Tụng.

Quẻ Đoài biến Tụng

Đoán rằng: Mùi thổ Phụ Mẫu trì Thế hóa Tiến thần, tuy lâm Không nhưng Nhật xung mà thành Thực (đây là "xung Không tất Thực")chẳng phải là Không. Tị hỏa Quan tinh động sinh Thế hóa thành dần Trường Sinh, hiển nhiên là có quan chức.

Người xem hỏi: Ứng vào năm nào?

Đáp: Tất nhiên năm Tị, ăn lộc của vương gia.

Quả vào năm Tị được bổ vào nơi khuyết quan huyện. Ứng vào năm Thực phá.

Ví dụ 3

Ngày Mậu Tí tháng Thìn, xem cha mới đi gần đây, ngày nào trở về, được quẻ Càn biến Quải.

Quẻ Càn biến Quải

Đoán rằng: Phụ Mẫu trì Thế bị Nguyệt phá mà hóa Không, hóa Thoái. Nếu chấp vào tử pháp thì đoán cha không thể về. Nhưng không những không chuyển đi nơi khác mà lại trở về. Ta lấy Chu Tước lâm ở động hào trì Thế, ngày Mão có tin, ngày Mùi tất về.

Quả vào ngày Mão có tin, ngày Mùi đến nhà.

Ứng vào ngày Mão có tin vì ngày Phá mà gặp hợp. Ngày Mùi về vì Phụ hóa Mùi thổ lâm Không, mà ngày Mùi là ngày xuất Không.

Ví dụ 4

Ngày Quí Mão tháng Ngọ, xem công danh hậu vận, được quẻ Cấn biến Quán.

Quẻ Cấn biến Quán

Đoán rằng: Dần mộc Quan tinh trì Thế, hào Thân động khắc, năm nay tháng bảy tất gặp hung.

Người xem hỏi: Xem vì việc gì?

Đáp: Ứng động khắc Thế tất là có người thù oán.

Lại hỏi có trở ngại công danh không?

Đáp: Nếu không có Tí thủy động thì chắc chắn thôi chức. May có Tí động tiếp tục tương sinh, vốn là tốt. Hiềm mà Tí Nguyệt Phá hóa Không, nên khó tránh giáng cấp điều đi.

Quả đến tháng bảy, người ấy bị đàn hặc kết thành tội lớn, qua tháng Tí kết thúc giáng cấp điều đi. Đến tháng tư năm Tí được giữ nguyên phẩm mà bổ dụng, làm quan ở hai nơi.

Ứng với Tí thủy là Nguyên thần, ban đầu gặp Không Phá nên không có sức để sinh Thế, nên lúc đó bị họa. Sau đến năm điền thực nên hữu dụng mà ứng nghiệm.

Câu Hỏi Thứ Tám: ví dụ 5–7

Ví dụ 5

Ngày Giáp Ngọ tháng Dần, xem con bị bệnh hung hay cát, được quẻ Cấn biến Mông.

Quẻ Cấn biến Mông

Đoán rằng: Thân kim Tử Tôn là Dụng thần, lâm Nguyệt Phá không nên Nhật thần khắc, động hào khắc, lại hóa hồi đầu khắc. Chỉ có khắc mà không sinh mau về nhà, con của ông tất chết. Người này chưa về nhà đã có người báo con chết vào giờ Thân. Đó là ứng vào giờ điền thực, chịu khắc mà chết.

Ví dụ 6

Ngày Canh Thân tháng Sửu xem phong thủy của mồ mả, được quẻ Hàm.

Quẻ Hàm

Đoán rằng: Nhật thần lâm Thanh Long trì Thế tức rồng đến từ bên trái. Long Hổ đều hữu khí, tất nhiên vây bọc. Chỉ hiềm Mùi thổ ở Ứng lâm Nguyệt Phá mà Ứng là chiếu sơn. Trước Thế một bậc là triều án mừng có Hợi thủy được ngày Thân sinh, tất có triều thủy. Nên lấy thủy làm triều, hơn là lấy núi làm hướng. Gian hào là Minh đường vượng tướng, tất rộng rãi.

Người xem bảo: Quả giống hoàn toàn, nhưng táng có tốt không.

Ta đáp: Như tôi nói lấy Thủy tác triều, bỏ lấy núi làm hướng tất đại phát.

Về sau quả y như lời đoán.

Ví dụ 7

Ngày Tân Mão tháng Thân xem mua nhà tốt hay không, được quẻ Cách biến Quải.

Quẻ Cách biến Quải

Đoán rằng: Nguyệt kiến sinh Thế hào, Dậu kim ám động sinh Thế. Nhưng không nên Quan hóa Dần mộc Tử Tôn lâm Nguyệt phá, lại bị Kim khắc, nên phòng hại cho con.

Người kia dời vào nhà này ở được nửa tháng, đứa con lên đậu mùa mà chết.

Sau đó lại cầm quẻ này đến nói với ta: Đứa con quả nhiên chết. Nhà này về sau có thể ở được không?

Ta đáp: Nên bói lại mới có thể quyết được.

Câu Hỏi Thứ Chín

CÂU HỎI THỨ CHÍN

Phục Thần

Hỏi: Dụng thần không xuất hiện xem Phục thần ở dưới hào nào, thoát ra được hay không được luận như thế nào?

Đáp: Phục thần thoát ra được có bốn cách:

- Nhật Nguyệt sinh, Nhật Nguyệt trì

- Phi thần sinh Phục thần, động hào sinh Phục thần.

- Nhật Nguyệt, động hào xung khắc Phi thần.

- Phi thần lâm Không Phá, hưu tù, Mộ Tuyệt ở Nhật thần.

Với bốn loại trên Phục thần đều hữu dụng.

Phục thần không thoát ra được cũng có bốn loại:

- Phục thần hưu tù, vô khí, Nhật Nguyệt khắc.

- Phi thần vượng tướng, Nhật Nguyệt sinh trợ Phi thần khắc hại Phục thần.

- Phục thần Mộ Tuyệt ở Nhật Nguyệt, ở hào Phi.

- Phục thần hưu tù, Tuần không, Nguyệt phá.

Với bốn loại trên Phục thần vô dụng, có cũng như không, rốt cuộc cũng chẳng thoát ra được.

Phàm Dụng thần vượng tướng nếu lâm Không, đến ngày xuất Không tất thoát ra được.

Ví dụ:

Ngày Nhâm Thìn tháng Mão, xem ngày nào nhận được văn thư, ra quẻ Bí.

Quẻ Bí

Đoán rằng: Ngọ hỏa Phụ Mẫu là Dụng thần phục dưới hào nhị là Sửu thổ, lại lâm Không. Phải đến ngày Giáp Ngọ xuất Không tất nhận được.

Quả nghiệm. Đấy là ứng với ngày xuất Tuần.

Ví dụ 2

Ngày Đinh Tị tháng Thìn, xem nô bộc bỏ trốn, được quẻ Kiển.

Quẻ Kiển

Đoán rằng: Xem nô bộc lấy hào Tài làm Dụng thần. Dụng thần là hào Mão mộc của quẻ Đoài đến phục tại hào nhị của quẻ này là Ngọ hỏa. Ngọ hỏa là Phi thần, Mão mộc là Phục thần. Nay Thân kim trì Thế khắc chế Mão mộc, rốt cuộc không thể bỏ trốn. Nhưng vì Phục đi sinh Phi, gọi là tiết khí tức trộm của cải, tiêu hết ở trong lò rèn, ngày Giáp Tí bắt được.

Quả ngày Tí được tin đánh bạc trong nhà người thợ đúc, giờ Thân bắt được.

Ứng với ngày Tí vì xung khắc Phi thần Ngọ hỏa, sinh khởi Phục thần Mão mộc.

Hoàng Kim Sách có câu: "Phục vô đề bạt chung đồ nhĩ, Phi bất suy khai diệc uổng nhiên" (Phục không nâng đỡ rồi vô ích, Phi chẳng xung khai cũng uổng công). Quẻ này ứng nghiệm với câu trên.

Ví dụ 3

Ngày Bính Thìn tháng Dậu xem con bị bệnh được quẻ Thăng.

Quẻ Thăng

Đoán rằng: Ngọ hỏa Tử Tôn phục dưới hào Thế Sửu thổ. Sửu thổ lâm Không nên Phục thần dễ thoát. Đến ngày Ngọ tất bệnh lành.

Quả ứng nghiệm.

Ví dụ 4

Ngày Bính Thìn tháng Mão xem cha bị bệnh được quẻ Phục.

Quẻ Phục

Đoán rằng: Tị hỏa Phụ Mẫu phục ở hào nhị Dần mộc. Phi sinh Phục mà Phục gặp Trường Sinh. Ngày hôm sau sẽ lành.

Quả ứng nghiệm.

Ví dụ 5

Ngày Canh Thân tháng Thìn, xem giá lá dâu lên hay xuống, được quẻ Ký Tế.

Quẻ Ký Tế

Đoán rằng: Ngọ hỏa Tài hào là Dụng thần, phục dưới hào Thế là Hợi thủy, Thế được Nhật thần sinh, mà Ngọ hỏa lại Tuyệt ở Hợi, chủ giá của lá rẻ, chẳng phải nghi ngờ gì nữa.

Người đứng bên hỏi: Hôm nay giá là 3 đồng, không phải là rẻ, theo lời luận của tiên sinh thì ba đồng là rẻ sao?

Ta đáp: Không phải, trước mắt còn quá sớm, giá 3 đồng mọi người lo đắt, là giá qui định năm nay, nay hỏi giá chung, tất phải đoán giá ở chợ lớn.

Người đứng bên hỏi: ở chợ lớn ngày nào mắc, ngày nào rẻ?

Đáp: Giao tuần Giáp Tí, Hợi thủy lâm Không, chỉ ngày Tị, Ngọ giá cao, giao tuần Giáp Tuất, Hợi thủy xuất Không, Ngọ hỏa không thể thoát, tất giá xuống dần.

Quả nghiệm.

Ví dụ 6

Ngày Mậu Thìn tháng Dần, xem bệnh có phải bị quỷ thần gây hại không, được quẻ Tiểu Súc.

Quẻ Tiểu Súc

Đoán rằng: Phàm xem Quỷ Thần lấy hào Quan làm Dụng thần. Nay Quan Quỷ phục dưới hào Thìn mà hợp với Phi thần, được Nhật thần hợp. Ta nghĩ Phục mà hợp là có tượng che giấu. Dậu kim là thần chánh khí. Hào tam là phòng ốc, nên đoán trong phòng nhà ông có chứa tượng thần gây quái.

Người xem hỏi: Tiên sao, quả có tấm ảnh Quán Âm cất nơi nhà bếp.

Sau đem ảnh đưa đến chùa, bệnh lành ngay.

Ngày Canh Thân tháng bảy cũng được quẻ này, ta cũng đoán như trước. Người xem bảo: Có tương đồng Đạt Ma Tổ Sư ở trong tráp. Khiến đem đến chùa, bệnh cũng lành.


Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông