Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Quẻ Thuần Khảm: Thoán Từ và trọn sáu hào trong Kinh Dịch

Bói Dịch27/09/20266 phút đọc4 lượt đọc
Quẻ Thuần Khảm: Thoán Từ và trọn sáu hào trong Kinh Dịch

Một hào dương bị hãm giữa hai hào âm, cái tượng ấy Nguyễn Hiến Lê dịch trọn thành quẻ hiểm nhất trong sáu mươi bốn quẻ: nước không bao giờ ứ lại, gặp hố sâu nào cũng chảy tới, nhưng cũng vì vậy mà giữ được đức tin. Người bị trói bằng dây thừng to, đặt vào bụi gai suốt ba năm không ra nổi, mà kẻ chỉ dâng một chén rượu, một bát cơm lại được coi là...

Mục lục · 1 phần

Quẻ Thuần Khảm

Trên và dưới đều là Khảm (nước).

Lẽ trời không thể quá (cực đoan) được mãi, hễ quá thì sẽ phải sụp vào chỗ hiểm. Vậy sau quẻ Đại quá, tới quẻ Thuần Khảm. Khảm có nghĩa là sụp, là hiểm.

Thoán Từ

習坎:有孚,維心亨,行有尚
Tập Khảm: Hữu phụ, duy tâm hanh, hành hữu thượng.

Dịch: Hai lớp khảm (hai lớp hiểm), có đức tin, chỉ trong lòng là hanh thông, tiến đi (hành động) thì được trọng mà có công.

Giảng: Tập Khảm có nghĩa là trùng khảm, hai lần Khảm. Nhìn hình quẻ Khảm ta thấy một hào dương bị hãm vào giữa hai hào âm, cho nên Khảm có nghĩa là hãm, là hiểm.

Ta lại thấy ở giữa đặc (vạch liền), ngoài rỗng (vạch đứt), trái với quẻ Li giữa rỗng trên dưới đặc, như cái miệng lò; chỗ rỗng đó là chỗ không khí vô để đốt cháy than, củi, cho nên Li là lửa. Khảm trái với Li, chỗ nào trống thì nước chảy vào; Li là lửa thì Khảm là nước. Nguy hiểm không gì bằng nước sâu, không cẩn thận thì sụp xuống, chết đuối, nên bảo nước là hiểm.

Xét theo ý nghĩa thì hào dương ở giữa, dương là thực, thành tín; vì vậy bảo là Khảm có đức tin, chí thành (hữu phụ) ở trong lòng, nhờ vậy mà hanh thông. Gặp thời hiểm, có lòng chí thành thì không bị tai nạn, hành động thì được trọng mà còn có công nữa.

Thoán truyện giảng thêm: Nước chảy hoài mà không bao giờ ứ lại (lưu nhi bất doanh) chỗ hiểm trở nào cũng tới, cho nên bảo là có đức tin.

Lòng được hanh thông vì hai hào giữa (hào 2 và 5) đã cương mà đắc trung.

Trời có tượng hiểm (vì không lên trời được); đất có tượng hiểm, tức núi sông. Các bậc vương công theo tượng trời và đất mà đặt ra những cái hiểm (tức đào hào, xây thành, đặt ra hình pháp) để giữ đất đai và sự trật tự trong xã hội. Cái công dụng của hiểm nếu hợp thời thì cực lớn.

Đại tượng truyện khuyên nên theo cái đức chảy hoài không ngừng của nước mà giữ bền đức hạnh và tu tỉnh không ngày nào quên.

Hào Từ

Hào 1

初六:習坎,入于坎窞,凶
Sơ lục: Tập khảm, nhập vu khảm đạm, hung.

Dịch: Hào 1, âm: Hai lần hiểm, sụp vào hố sâu, xấu.

Giảng: Hào 1 đã âm nhu, lại ở dưới cùng quẻ Thuần Khảm, hai lần hiểm, nên rất xấu.

Hào 2

九二:坎有險,求小得
Cửu nhị: Khảm hữu hiểm, cầu tiểu đắc.

Dịch: Hào 2, dương: Ở chỗ nước (hiểm) lại có hiểm, mong làm được việc nhỏ thôi.

Giảng: Hào này dương cương, đắc trung, có tài, trí, nhưng ở giữa thời trùng hiểm, trên dưới bị hai hào âm nhu bao vây, chưa thoát được; cho nên chỉ mong làm được việc nhỏ thôi.

Hào 4 quẻ Dự (số 16) cũng là dương ở vị âm, cũng bị hai hào âm bao vây, còn kém hào 2 quẻ Khảm vì không đắc trung, vậy mà Hào từ cho là "đại hữu đắc" (thành công lớn); còn hào 2 quẻ Khảm này chỉ cầu được "tiểu đắc" thôi; chỉ vì thời khác: thời quẻ Dự là thời vui vẻ, hanh thông, thời quẻ Khảm là thời gian nan, nguy hiểm.

Hào 3

六三:來之坎坎,險且枕,入于坎窞,勿用
Lục tam: Lai chi khảm khảm, hiểm thả chẩm, nhập vu khảm đạm, vật dụng.

Dịch: Hào 3, âm: Tới lui đều bị hãm, trước mặt là hiểm mà sau lưng lại kê (dựa) vào hiểm, chỉ càng sụp vào chỗ sâu hơn thôi, chớ dùng (người ở hoàn cảnh hào 3 này, không được việc gì đâu).

Giảng: Hào này âm nhu, bất trung, bất chính, ở trên cùng quẻ nội khảm, mà tiến lên thì gặp ngoại khảm, trước mặt là khảm, sau lưng là khảm, toàn là hiểm cả, cho nên chỉ sụp vào chỗ sâu hơn thôi.

Hào 4

六四:樽酒簋,貳用缶,納約自牖,終无咎
Lục tứ: Tôn tửu quĩ, nhị dụng phẩu, nạp ước tự dũ, chung vô cữu.

Dịch: Hào 4, âm: Như thế chỉ dâng một chén rượu, một quĩ thức ăn, thêm một cái vò đựng vài thức khác nữa (không cần nhiều, hễ chí thành là được); (có thể tùy cơ ứng biến) đút khế ước qua cửa sổ (chứ không đưa qua cửa chính), như vậy không có lỗi.

Giảng: Lời hào này gọn quá, khó hiểu. Phan Bội Châu giảng như sau: Tôn là chén rượu, quĩ là đồ đựng thức ăn; nhị là thứ nhì, phó (trái với chánh) là thêm vào, phẫu là cái vò. Tôn tửu quĩ, nhị dụng phẫu nghĩa là rượu chỉ một chén, thức ăn chỉ một quĩ, cái thức khác thêm vào chỉ dùng một cái vò cũng đủ. Ý nói không cần nhiều, miễn lòng chí thành là được. "Nạp ước tự dũ" nghĩa là khế ước (để làm tin) đáng lẽ phải nộp qua cửa lớn, nhưng lại đút qua cửa sổ (dũ), như vậy là không chính đại quang minh, nhưng gặp thời hiểm, khó khăn, có thể "bất đắc dĩ nhi dụng quyền" (quyền này không phải là quyền hành, mà là quyền biến: tùy cơ ứng biến), miễn là giữ được lòng chí thành.

Hào 4 này như một vị đại thần, nhưng âm nhu, vô tài, không cứu đời ra khỏi cảnh hiểm được; cũng may mà đắc chính, chí thành, cứ giữ đức chí thành đó mà đối với vua, với việc nước, nếu lại có chút cơ trí, biết tòng quyền, thì rốt cuộc không có lỗi.

Hào 5

九五:坎不盈,祗既平,无咎
Cửu ngũ: Khảm bất doanh, chi kí bình, vô cữu.

Dịch: Hào 5, dương: Nước (hiểm) chưa đầy, nhưng đến lúc nước đầy rồi, lặng rồi thì sẽ khỏi hiểm, không có lỗi.

Giảng: Hào này dương cương, có tài, đắc trung, đắc chính, ở ngôi chí tôn, mới trải qua già nửa thời Khảm, hiểm chưa hết, nước còn dâng lên nữa, đến khi nào nước đầy rồi mới bình lại, mà dắt dân ra khỏi hiểm được. Chữ "kì" ở đây nghĩa là bệnh, tức hiểm nạn, trỏ chữ Khảm.

Hào 6

上六:係用徽纆,寘于叢棘,三歲不得,凶
Thượng lục: Hệ dụng huy mặc, trí vu tùng cức, tam tuế bất đắc, hung.

Dịch: Hào trên cùng, âm: Đã trói bằng dây thừng to, lại đặt vào bụi gai, ba năm không được ra, xấu.

Giảng: Hào này âm nhu, ở trên cùng quẻ Khảm, chỗ cực kì hiểm, đã không có tài ra khỏi cảnh hiểm, lại không biết hối mà sửa mình, nên bị họa rất nặng.

Quẻ này là cái tượng quân tử bị tiểu nhân bao vây, chỉ có hai hào là tạm tốt (hào 2 và 5), còn các hào khác đều xấu. Lời khuyên quan trọng nhất là gặp thời hiểm, phải giữ lòng chí thành và biết tòng quyền.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Phần II - Kinh Thượng, quẻ 29.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch