Bài tổng quan
Phong Địa Quán: gió đi trên đất, người trên là tấm gương cho dân
Gió lướt qua mặt đất, bốn hào âm ngẩng đầu nhìn lên hai hào dương như dân nhìn người đứng đầu. Có đứa trẻ nhìn mà chẳng hiểu, có người con gái nhòm lén, có kẻ nhìn để biết nên tiến hay nên lui... Vậy người đứng ở chỗ cao nhất phải soi vào đâu để biết mình đúng hay sai?
Mục lục · 8 phần
- 01Quán là xem xét: gió đi trên mặt đất
- 02Hai hào dương làm gương trên cao, bốn hào âm ngước nhìn
- 03Hào sơ lục: trẻ con nhìn xem, kẻ nhỏ không lỗi mà quân tử thẹn
- 04Hào lục nhị: nhòm lén như con gái, giữ chính thì có lợi
- 05Hào lục tam: xét cách sống của ta mà tiến hay lui
- 06Hào lục tứ: xem vẻ sáng của nước, làm quý khách nơi vương triều
- 07Hào cửu ngũ: tự xét cách sống của mình, bậc quân tử không lỗi
- 08Hào thượng cửu: xem cách sống của chính mình để làm gương cho người
Quán là xem xét: gió đi trên mặt đất
Quẻ số hai mươi là Phong Địa Quán, thuộc hàng quẻ bình, tiết khí tháng Tám. Quán nghĩa là quan sát, xem xét, kiểm thảo. Trên là Tốn, là gió; dưới là Khôn, là đất.
Phong hành địa thượng, Quán. Tiên vương dĩ tỉnh phương, quan dân thiết giáo.
Lời Tượng nói rằng gió đi trên đất là quẻ Quán, tức xem xét. Người quân tử nhìn quẻ này mà đi tuần các địa phương, xem xét dân tình để đặt ra phép giáo hóa.
Hai hào dương làm gương trên cao, bốn hào âm ngước nhìn
Theo tượng quẻ, Tốn ở trên, Khôn ở dưới, là gió thổi trên đất, tượng trưng cho sự cổ động khắp mọi loài, hoặc quan sát khắp mọi loài. Lại thêm hai hào dương ở trên, bốn hào âm ở dưới: dương biểu thị để cho âm thấy, tức quán; âm nhìn xem, tức quan, dương mà theo.
Người xưa, trong lời Thoán, đưa một ví dụ cho dễ hiểu. Muốn làm mẫu mực cho người khác nhìn vào thì nên có lòng chí thành như người chủ tế, lúc sắp tế rửa tay cho tinh khiết, đó là điều quan trọng nhất. Còn việc dâng cỗ thuộc về vật chất, nhiều ít không sao, hương hoa cũng cứ tốt. Hào năm trong quẻ dương cương, trung chính, chính là người cho thiên hạ trông vào mà cảm hóa theo. Người ấy nên coi đạo trời cứ tĩnh lặng mà bốn mùa vận hành không sai, rồi lấy lòng chí thành làm gương cho dân, dạy dân, thì dân sẽ không ai không phục.
Phan Bội Châu giải thêm lời Tượng. Bậc nguyên thủ đời trước bắt chước tượng gió đi trên đất mà tuần tỉnh các địa phương, xem xét tục dân để đặt ra chính giáo. Tỷ như xứ nào suy mạt về nghề nghiệp thì dạy bằng nông tang; xứ nào suy đồi phong hóa thì dạy bằng lễ nghĩa; dân khiếp nhược thì dạy bằng thượng võ; dân hiếu dũng thì dạy bằng thượng văn. Đó là cách quán của bậc nguyên thủ vậy.
Hào sơ lục: trẻ con nhìn xem, kẻ nhỏ không lỗi mà quân tử thẹn
Hào này xấu. Hào từ nói trẻ con quan sát thì tiểu nhân không lỗi, quân tử thì hổ thẹn. Đó là việc của kẻ tiểu nhân, không phải của người quân tử. Giới chức, sĩ tử gặp gian nan, khó khăn, kinh doanh không gặp vận. Hào của những người ở địa vị thấp kém, ngớ ngẩn, dễ bị người đời chê cười. Toán Hà Lạc ghi rằng không có đức thì không đáng gần vị nguyên thủ.
Tên quẻ thì đọc là Quán, với tượng là người trên biểu thị làm gương cho người dưới. Nhưng xét từng hào thì đọc là Quan, với tượng là người dưới xem xét tư cách, hành vi của người trên. Hào năm dương, đắc trung, làm chủ quẻ, tượng trưng cho người trên, vị nguyên thủ. Hào nào cũng nhìn lên hào năm cả. Hào một ở xa quá, như đứa trẻ tò mò nhìn lên mà chẳng hiểu gì cả. Nhưng vì là con nít nên không đáng trách; người quân tử mà như vậy mới đáng trách.
Người mệnh hợp cách tính mẫn tiệp, nhạy cảm, khôi ngô ngây thơ, hay bắt chước như trẻ nhỏ, làm ăn chỉ đủ sống qua ngày. Người mệnh không hợp cách dù có lợi danh cũng nhỏ hẹp.
Về vận hạn: quan chức địa vị thấp, giản dị; người thường tính vụng, ngớ ngẩn, dễ bị lường gạt.
Hào lục nhị: nhòm lén như con gái, giữ chính thì có lợi
Hào này xấu về phía nam giới. Hào từ nói nhòm lén mà xem, như người con gái, giữ chính thì có lợi. Nhưng tốt cho nữ mệnh. Hào của những người không đủ tài đức, địa vị thấp kém. Sĩ tử kém tài đức. Người thường số vất vả, long đong vì cuộc sống, đức mỏng, phải nhờ cậy người khác mới hòng làm nên. Toán Hà Lạc nhận xét chí thấp, không nhìn xa được.
Hào này âm nhu, trung chính, là người con gái có nết trinh, ngó lên hào năm mà không thấy được đạo lý của hào năm. Con gái như vậy thì được, người trượng phu mà như thế thì đáng xấu hổ.
Người mệnh hợp cách tài sơ đức mỏng, chức nhỏ an phận, hoặc nhờ được quý bà nào giúp đỡ, hoặc lấy được vợ giàu. Nữ mệnh được phúc, thọ. Người mệnh không hợp cách sinh kế thấp kém, quê mùa.
Về vận hạn: quan chức tài lực không đầy đủ; học trò văn lý không thông hoạt; người thường tối ở nhà, sáng ở chợ, buồn vui phức tạp, hoặc có việc xấu nhờ về phu nhân. Hào này nữ mệnh thì tốt, nam mệnh thì xấu.
Nhu thuận lợi gái đức trinh, tài trai lỗi lạc nhòm khinh sợ thường.
Hào lục tam: xét cách sống của ta mà tiến hay lui
Hào này bình, vừa tốt vừa xấu. Hào từ nói hãy xem xét cách sống của ta mà tiến thoái. Tốt cho những ai biết tiến lui đúng thời, trước sau trung thực. Xấu cho người tiến lui bất kỳ, được mất khôn lường. Kinh doanh không kế hoạch thì khó. Toán Hà Lạc nói xem xét để tiến thoái cho chính đáng.
Hào này bất chính ở vị dương, lại ở trên cùng quẻ nội, có thể tiến hay thoái. Lời hào khuyên đừng ngó lên hào năm, cứ tự xét bản thân mình: nếu đối phó được với hoàn cảnh thì tiến lên, không thì thôi, như vậy là chưa sai đường lối.
Người mệnh hợp cách tu dưỡng đức, luyện nghề nghiệp kịp thời, là người hiền sáng suốt. Người mệnh không hợp cách lúc tiến lúc thoái, cô lập, gian nan.
Về vận hạn: quan chức tiến thoái vô định; học trò cạnh tranh bất nhật; người thường cái được cái mất nên xét kỹ.
Chí hành chưa quyết một bề, xét thực thì tiến, khó đi thì lùi.
Hào lục tứ: xem vẻ sáng của nước, làm quý khách nơi vương triều
Hào này tốt. Hào từ nói xem vẻ sáng của nước, lợi cho việc làm quý khách ở vương triều. Chỉ người học rộng tài cao, có khả năng đại diện cho đất nước, biết xem xét tình thế đất nước, thức thời mà đổi mới. Toán Hà Lạc nói đó là cái nghĩa giữa nguyên thủ và người phụ tá trong thời thịnh.
Hào này âm, đắc chính, ở ngay dưới hào năm, tức ở địa vị thân cận bậc nguyên thủ, như làm quý khách của nguyên thủ, được nguyên thủ tín nhiệm. Nó xem xét đức sáng của nguyên thủ, vì nguyên thủ là người hiền thì nước mới sáng, vinh quang của nước chính là đức sáng của nguyên thủ, rồi bắt chước, đem tài sức ra giúp đời.
Phan Bội Châu chỉ rõ chữ Nước trong lời hào có ý nghĩa hay lắm. Hào năm là bậc quốc trưởng, mỗi lời nói mỗi cử động tất thảy ảnh hưởng tới cả một nước. Trong nước mà có ảnh hưởng vẻ vang rực rỡ, tuy là văn minh của cả một nước, mà thực ra là nhờ văn minh của quốc trưởng nảy nở ra. Nên nói xem vẻ sáng của nước, xem nước tức là xem hào năm, là nguyên thủ vậy. Lời Tượng của hào còn nhấn mạnh ý xem vẻ sáng của nước mà sinh chí hướng muốn hiến thân cho nước, hoặc cho vương triều.
Người mệnh hợp cách tài đức đầy đủ, làm giường cột quốc gia, có quyền giám sát. Người mệnh không hợp cách có tài đức, làm thượng khách nước nhỏ, tức ngày nay có thể là đại sứ.
Về vận hạn: quan chức hoặc ở Hàn Lâm Viện hoặc ở chức vị thanh cao; học trò đỗ cao ở nước ngoài; người thường ra ngoài buôn bán lớn.
Lòng ngay thẳng, sự phân minh, trong lòng dưới mặt sự tình không sai.
Hào cửu ngũ: tự xét cách sống của mình, bậc quân tử không lỗi
Hào này tốt. Hào từ nói hãy xem xét cách sống của ta, người quân tử không lỗi. Biết ăn ở đúng mức. Quan chức được dưới tin, trên quý, dễ thăng tiến lên cao. Sĩ tử có tài văn chương nổi tiếng. Thương gia phát đạt, nhiều tài lộc. Toán Hà Lạc nói bậc nguyên thủ xét kỹ cách sinh hoạt để trị nước thì không hổ thẹn với chức vụ.
Hào năm ở ngôi chí tôn, cương cường mà trung chính, là bậc quân tử, làm gương cho bốn hào ở dưới, mọi người đều ngó vào.
Phan Bội Châu chú rằng ở thời đại quẻ Quán, bốn âm đang lớn, hai dương dần tiêu, chính là thời tiểu nhân đắc chí mà rất nguy hiểm cho quân tử. Những người quân tử ở đời này tất phải tự xem xét bản thân, có đức dương cương, trung chính như hào năm dương, quân tử như thế mới khỏi tội lỗi. Lời Tượng còn phát huy thêm ý nghĩa: tự xem xét mình há chỉ xem xét mình mà thôi đâu. Bởi vì hào năm dương là nguyên thủ của một nước, dân trong một nước, đức dân tốt hay sáng, tục dân tốt hay xấu, đều quan hệ ở bản thân hào năm. Hào năm tốt thì dân tốt, hào năm xấu thì dân xấu. Nên hào năm muốn xem tốt xấu ở bản thân thì phải xem gương tốt xấu ở nơi dân.
Người mệnh hợp cách đem lòng trung chính của mình để cải hóa thiên hạ, ca tụng người hiền, quý trọng đức. Người mệnh không hợp cách cũng là kẻ sĩ, có danh, có thọ.
Về vận hạn: quan chức trên mến, dân quý, lộc vị cao; học trò văn chương nổi tiếng ở Quốc học; người thường sinh nhai dễ chịu; nữ mệnh có sinh nở; bệnh nhân qua khỏi.
Cây ngay bóng thẳng xét mình, thì công giáo hóa cát hanh rõ ràng.
Hào thượng cửu: xem cách sống của chính mình để làm gương cho người
Hào này bình. Hào từ nói tự xem xét cách sống của mình, người quân tử không lỗi. Ý hào là lấy đời mình làm gương cho người. Quan chức hoặc thanh liêm hoặc bất đắc chí. Kẻ sĩ gian nan, khó tìm việc làm, không toại chí. Người thường kinh doanh khó khăn, kém lộc. Toán Hà Lạc nói trở lại bản thân để tự trị, làm tiêu biểu cho dân.
Lời hào này giống lời hào năm, chỉ khác một chữ. Lời hào năm là xét bản thân hành động của ta, chữ ta để nói với hào bốn, người thân cận cấp dưới kề sát mình. Lời hào này là xét bản thân hành động của nó, nó đây là hào sáu, là lời Chu Công nói về hào sáu như đã nói về các hào một, hai, ba, bốn. Hào trên cùng này cũng là hào dương như hào năm, cũng là quân tử, tuy không ở ngôi chí tôn nhưng ở trên cao hơn hết, cũng phải làm gương cho các hào âm trông vào. Vì có tư cách quân tử nên không lỗi.
Người mệnh hợp cách là bậc thượng lưu làm gương cho dân. Người mệnh không hợp cách có điều u uất, không phát triển được tài năng, nên đi vào đường thanh tu, tức tu tỉnh cho trong sáng.
Về vận hạn: quan chức lui về tu tĩnh, có sở đắc; học trò tiến thủ gian nan, chưa toại ý; người thường kinh doanh trở trệ, có bệnh thì khỏi, sinh nở nuôi được.
Tới lui chậm chạp bất thường, cạnh tranh thôi cũng chán chường thì thôi.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
