Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Thoán truyện, Tượng truyện và cách Nho gia mượn xác Kinh Dịch

Bói Dịch26/09/202610 phút đọc3 lượt đọc
Thoán truyện, Tượng truyện và cách Nho gia mượn xác Kinh Dịch

Từ bốn chữ ngắn ngủi "Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh" của Văn Vương, người viết Thoán truyện đã giảng ra cả một đoạn triết lý về đức trời đất. Nhưng khi nhà Tần đốt sách, cấm hết Kinh, Sử, chỉ riêng Chu Dịch được tha vì nó là sách bói, một số nhà Nho đã lặng lẽ mượn đúng chỗ hở ấy để nhét cả Đại Học, Trung Dung vào một bộ kinh vốn chẳng liên quan gì tới bói toán. Đối chiếu từng câu, Nguyễn Hiến Lê chỉ ra dấu vết của cuộc "tá thi hoàn hồn" đó...


Thập Dực thực ra chỉ có bảy truyện

Sự thực chỉ có Thất Dực (bảy truyện), nhưng gồm 10 thiên nên gọi là Thập Dực: I. Thoán truyện – 2 thiên; II. Tượng truyện – 2 thiên; III. Hệ từ truyện, cũng gọi là Đại truyện – 2 thiên; IV. Văn ngôn truyện – 1 thiên; V. Thuyết quái truyện – 1 thiên; VI. Tự quái truyện – 1 thiên; VII. Tạp quái truyện – 1 thiên.

Ngay cái điều gọi mỗi thiên là một truyện cũng vô lí rồi; mà sự chia ba truyện đầu, mỗi truyện thành hai thiên, cũng không theo một quy tắc chung nào cả.

Vì vậy mà sự chia thiên như trên không được mọi sách theo. Chẳng hạn bản cụ Phan Bội Châu cho Thoán truyện chỉ có một thiên, một truyện; mà lại cho Tự quái truyện gồm hai thiên, thành hai truyện. Một bản khác, James Legge dùng để dịch, lại cho Văn ngôn truyện có hai thiên (một cho quẻ Càn, một cho quẻ Khôn); Tự quái truyện cũng có hai thiên (một cho 30 quẻ đầu, một cho 34 quẻ sau); như vậy là ngoài Thuyết quái truyện và Tạp quái truyện, mỗi truyện chỉ có một thiên kể là một truyện, còn năm truyện kia mỗi truyện có hai thiên kể làm hai truyện, cộng lại là 12 truyện chứ không phải 10.

Cách chia thiên và gọi thiên là truyện như vậy vừa vô lí vừa lộn xộn, cho nên Nguyễn Hiến Lê nghĩ phần truyện trong Kinh Dịch chỉ nên coi là có bảy truyện thôi. Có một thuyết của học giả Nhật Bản Đông Điều Nhất Đường cho rằng Dịch truyện có lẽ viết vào lúc Tần đang cấm Thi, Thư, vì trong Dịch truyện không thấy dẫn một câu Thi, Thư nào; và dù theo thuyết nào thì cũng không ai dám chắc chính Khổng Tử đã viết Thập Dực – có thể Khổng Tử chỉ phát huy những giáo lí cốt yếu, rồi trong mấy trăm năm sau, mỗi nhà thêm một chút; Vũ Đồng gọi chung những người đó là Dịch phái.

Thoán truyện: khi lời đoán ngắn được giảng thành triết lí

Văn Vương viết Thoán từ, tức lời đoán cho mỗi quẻ: ông chỉ cho biết vắn tắt mỗi quẻ tốt xấu ra sao, đôi khi cũng cho biết ý nghĩa ra sao, chứ không giảng tại sao. Người viết Thoán truyện (theo Vũ Đồng, sống sau Khổng Tử, trước hoặc sau Mạnh Tử) giảng giải thêm.

Thí dụ quẻ Càn, Thoán từ chỉ có bốn chữ: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Thoán truyện giải thích:

"Đại tai Càn nguyên, vạn vật tư thủy, nãi thống thiên; vân hành vũ thí, phẩm vật lưu hình. Đại minh chung thủy, lục vị thời thành, thời thừa lục long dĩ ngự thiên. Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh, bảo hợp thái hòa, nãi lợi trinh, thủ xuất thứ vật, vạn quốc hàm ninh."

Nghĩa là: đức "nguyên" của Càn lớn thay, vạn vật đều nhờ nó mà bắt đầu nảy nở, nó thông quát đạo trời (đó là giảng về đức nguyên). Càn làm ra mây, khiến cho mây biến hóa, làm ra mưa, khiến cho mưa thấm nhuần khắp, mà vạn vật thành hình thành sắc, sinh trưởng đến vô cùng (đó là giảng về đức hanh). Bậc thánh nhân, cực sáng suốt, thấy được cả trước sau, cả sáu hào của quẻ Càn, mỗi hào có một ngôi, nên thuận thời mà hành đạo, như cưỡi sáu con rồng mà thống ngự cả vùng trời – khuyên chúng ta nên tùy thời mà hành động, lúc nào nên ẩn thì ẩn, nên hiện thì hiện, nên tĩnh thì tĩnh, nên động thì động. Tóm lại là đạo Càn biến hóa, khiến cho vật gì cũng giữ được tính mệnh trời phú, giữ được cái nguyên khí cho thái hòa. Bậc thánh nhân đứng đầu muôn vật theo đạo Càn thì vận nước đều bình an vô sự (đó là giảng về hai đức lợi, trinh).

Tác giả Thoán truyện, sống ở đời Chiến Quốc, sau Văn Vương có thể bảy tám trăm năm, đã cho Kinh Dịch có một ý nghĩa triết lí, chứ không phải chỉ để bói nữa. Thoán truyện chia làm hai thiên: thiên thượng giải thích Thoán từ của 30 quẻ đầu, thiên hạ giải thích Thoán từ của 34 quẻ sau, đúng theo sự chia thiên trong phần kinh.

Theo Nghiêm Linh Phong, tác giả Dịch học tân luận (Chính Trung thư cục, Hương Cảng, 1971), Thoán truyện có nhiều chỗ thoát văn, chưa giải thích, và tư tưởng có nhiều chỗ giống Nho gia – như đoạn Thoán truyện quẻ Càn dẫn trên, ý nghĩa rất giống câu này trong Luận ngữ, thiên Dương Hóa: "Thiên hà ngôn tai: tứ thời hành yên, vạn vật sinh yên, thiên hà ngôn tai" (trời nói gì đâu! Bốn mùa vận hành mà vạn vật sinh ra, trời nói gì đâu!); và câu này trong Trung Dung: "Trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên" (đạt tới chỗ trung hòa thì trời đất đều ở đúng vị trí mà vạn vật mới sinh sôi).

Tượng truyện: khi Nho gia mượn xác Kinh Dịch để sống lại

Tượng truyện giải thích cái "tượng" của mỗi quẻ, cũng chia làm hai thiên: thiên thượng cho 30 quẻ đầu, thiên hạ cho 34 quẻ sau. Mỗi quẻ đều được thích nghĩa cái tượng của cả quẻ (gọi là Đại Tượng), rồi lại thích nghĩa cái tượng của mỗi hào (gọi là Tiểu Tượng).

Vũ Đồng cho là Tượng truyện viết sau Thoán truyện; có học giả lại cho là viết trong khi nhà Tần đốt sách, cấm Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu và các học thuyết khác thời Tiên Tần – trừ Chu Dịch, vì nó là sách bói – cho nên các học giả phái Nho gia mới nhân chỗ hở đó, đem tư tưởng trong Đại Học, Trung Dung, Luận ngữ vào Chu Dịch, để "tá thi hoàn hồn" (mượn xác chết cho hồn nhập vào mà sống lại), làm công việc tuyên truyền. Cho nên trong Tượng truyện có nhiều chỗ lời rất giống ba bộ sách đó.

Có thể kể mấy chục thí dụ, chỉ xin dẫn ba: Luận ngữ nói "quá tắc vật đạn cải" (có lỗi thì đừng sợ sửa) – quẻ Ích, Đại Tượng truyện cũng nói "hữu quá tắc cải" (có lỗi thì sửa). Trung Dung nói "ẩn ác nhi dương thiện" (giấu cái ác mà nêu cái thiện của người) – quẻ Đại Hữu, Tượng truyện cũng nói "át ác dương thiện" (che cái xấu mà nêu cái thiện của người). Đại Học nói "cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ" (người xưa muốn làm sáng cái đức sáng trong thiên hạ) – quẻ Tấn, Đại Tượng truyện cũng nói "quân tử dĩ tự chiêu minh đức" (người quân tử coi đó mà tự làm sáng cái đức sáng của mình).

Rồi những danh từ quân tử, tiên vương, đại nhân... trong Đại Tượng truyện có thể nói là mượn trong Luận ngữ, Đại Học, Trung Dung để đưa tư tưởng chính giáo của nhà Nho vào, chứ rất ít liên quan tới môn bói.

Chữ "tượng" có hai nghĩa: hình thái, như trong câu "tại thiên thành tượng, tại địa thành hình" (trên trời thành tượng, dưới đất thành hình – Hệ từ thượng truyện); và biểu tượng, như trong câu "thiên thùy tượng, kiến cát hung, thánh nhân tượng chi" (trời rủ tượng, hiện điềm lành điềm dữ, thánh nhân phỏng theo đó mà lập nên biểu tượng). Biểu tượng lại chia hai thứ: vật tượng, biểu tượng một vật (như quẻ Li biểu tượng lò lửa), và ý tượng, biểu tượng một ý (như quẻ Càn biểu tượng sự cương cường, quẻ Khôn biểu tượng sự nhu thuận). Trong Tượng truyện, ý tượng được dùng nhiều hơn cả, nhất là trong Tiểu Tượng – vì một hào khó có thể có một hình thái, khó là một vật tượng, nên thường chỉ diễn được một ý tượng. Richard Wilhelm, trong bản dịch tiếng Anh I Ching (Routledge và Kegan Paul, London, 1951), cũng nhận thấy vậy nên bảo những lời giải thích mỗi hào trong Tiểu Tượng truyện "không liên quan gì tới hình tượng cả", và ngỡ rằng vì lầm lẫn mà người xưa sắp những lời đó vào Tượng truyện.

Đại Tượng truyện giải thích thêm về ý tượng của mỗi quẻ. Như quẻ Càn, Đại Tượng truyện chép: "Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức" – sự vận chuyển của trời rất mạnh, không lúc nào nghỉ, người quân tử cũng theo trời mà tự cường không nghỉ.

Về riêng mỗi hào, Chu Công đã đặt Hào từ để giải thích, đời sau lại viết thêm Tiểu Tượng truyện để giảng thêm lời Chu Công, nhưng lời Tiểu Tượng truyện lại ngắn, nhiều khi chỉ lặp lại. Chẳng hạn quẻ Càn, hào Sơ, Hào từ của Chu Công bảo "tiềm long vật dụng" (rồng còn ẩn náu, không dùng được), Tiểu Tượng truyện lặp lại, chỉ thêm bốn chữ "dương tại hạ dã" (vì hào dương ở dưới cùng). Hào 2, Hào từ là "hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân", Tiểu Tượng giảng là "hiện long tại điền, đức thi phổ dã" – rồng đã hiện lên cánh đồng, đức đã ban bố khắp nơi. Hào 3, Hào từ là "quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu", Tiểu Tượng giảng "chung nhật càn càn, phản phục đạo dã" – suốt ngày hăng hái tự cường, trở đi trở lại, cốt cho đúng đạo lí.

Cả Đại Tượng lẫn Tiểu Tượng truyện đều có tính cách gượng ép, vì quá thiên về luân lí, về đạo trị nước, xử thế của người quân tử, nên nhiều khi bỏ mất ý nghĩa gốc của Thoán từ, Hào từ. Ví dụ quẻ Lữ, Thoán từ nói về cách xử thế của người tha hương ở đậu, phải vừa mềm mỏng vừa tự trọng, giữ được phẩm cách của mình; vậy mà Đại Tượng truyện lại đem áp dụng vào việc hình pháp, khuyên nhà chức trách phải xử đoán sáng suốt, thận trọng, đừng giam tội nhân quá lâu trong ngục. Hào 2 quẻ Tiệm nói về hoàn cảnh một người bắt đầu tiến được một cách dễ dàng, như con chim hồng đã rời bờ nước mà tiến lên một phiến đá lớn, vui vẻ, ung dung, ăn uống thanh thơi; Tiểu Tượng truyện lại khuyên: được người ta giúp đỡ thì phải làm gì đáp lại, chứ đừng ăn không.

Thoán truyện và Đại Tượng truyện đều giải thích cả quẻ, nhưng theo hai nguyên tắc khác nhau: Thoán truyện theo sát lời đoán (Thoán từ) của Văn Vương, còn Đại Tượng truyện giải thích "ý tượng" của mỗi quẻ; sự phân biệt đó nhiều khi rất tế nhị, chung quy đều là giải thích ý nghĩa của quẻ, chỉ khác là Đại Tượng truyện thường bàn ra ngoài, đưa thêm tư tưởng đạo lí vào. Còn Tiểu Tượng truyện tuy để giải thích "ý tượng" của mỗi hào, nhưng đa số chỉ lặp lại lời Hào từ của Chu Công, rồi giảng thêm về đạo lí, có khi lạc đề, gượng ép.

Tóm lại, Tượng truyện tuy cũng giúp ta hiểu thêm được Thoán từ và Hào từ, nhưng ít thôi; và như vậy, Tượng truyện đã lái Kinh Dịch xa bói toán mà xích lại gần đạo lí.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương II.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch