Bài tổng quan
Công Danh Và Thọ Nguyên: Hào Thế Định Đường Quan Và Tuổi Trời
Người xem quẻ được báo trước: tháng sáu năm nay khó tránh tai họa sông nước hoặc cây cối. Đến ngày 29, anh ta còn cười, ăn bảy bát cơm, bảo mình sao mà chết được. Rồi anh trèo lên thuyền độc mộc ra hồ giặt quần áo, thuyền tự nhiên trôi khỏi bờ, người trên bờ hét lên nhắc lại lời đoán, anh hoảng sợ nhảy xuống nước, thuyền lật úp, chết đúng như quẻ báo: vừa chết vì nước vừa chết vì cây. Tăng San Bốc Dịch xem công danh và tuổi thọ bằng cùng một khung: hào Thế vượng suy định nghiệp làm quan lên hay xuống, Nguyên thần nên tĩnh hay động định số trời dài hay ngắn, Kỵ thần hễ động dậy là điềm gở. Nhưng có tai họa nào định trước rồi mà vẫn tránh được không?
Quan, Phụ, Tài phối hợp trì Thế: con đường lập công danh
Quan Phụ hưng long, văn chương kiến dụng;
Quan, Phụ hưng vượng, văn chương hữu dụng;
Nếu được hào Phụ vượng trì Thế, lại có hào Quan động tương sinh; Hoặc hào Quan trì Thế, hào Phụ vượng động; hoặc hào Quan hào Phụ vượng động sinh hợp hào Thế; hoặc Nhật thần, Nguyệt kiến làm hào Quan, hào Phụ Mẫu, để sinh hợp hào Thế, đều là tượng thành danh, theo học văn võ đều thành tựu, phò tá bậc đế vương.
Quỷ Tài dao phát, nạp túc thành danh.
Quỷ, Tài phát động, nạp lương thành danh.
Quan tinh trì Thế, Tài động tương sinh, hoặc Thế lâm Quan động hóa Tài, Thế lâm Tài động hóa quan, hoặc Quan tinh Tài tinh động mà sinh hợp hào Thế, hoặc Nhật Nguyệt làm Quan tinh Tài tinh mà sinh hợp hào Thế, đều chủ nạp túc lấy được danh.
Như ngày Ất Mùi tháng Thìn, xem chung thân công danh, được quẻ Minh Di biến Phong.


Người này vốn xuất thân từ gia đình võ quan, đã nhận chức quan trong quân đội, nhưng vì đau ốm nên cáo quan về nhà, không còn chức tước. Nên nay đến hỏi xem trong tương lai còn có công danh nữa không?
Quẻ này hào Quan Sửu thổ trì Thế, động hóa hào Tài Ngọ hỏa, Tài vượng mà sinh Quan. Năm Mão xem quẻ, đến năm Tị được theo lệ mà làm quan, nạp túc thăng quan đến chức phụ tá cho Tri phủ. Đến năm Mùi được nhiệm chức, năm Tuất thăng chức Thái thú. Sách xưa cho rằng động mà gặp xung là tán, ở đây Nhật thần Mùi xung hào Thế Sửu thổ, nhưng sao có thể cho là tán được?
Lại ví dụ: Vào ngày Nhâm Tý tháng Tuất, xem về công danh cả đời, được quẻ Khốn biến Đoài:


Đoán rằng: Hào Tài Dần mộc trì Thế, động hóa thành Quan tinh, chỉ công danh một đời đều nhờ tiền mà có được. Người xem hỏi: "Hiện đang muốn nạp túc". Ta đáp: "Viện lệ cũng được, nhưng e rằng không được làm quan. Quẻ Lục hợp biến Lục xung, là tượng có khởi đầu nhưng không có kết quả."
Sau quả nhiên thi được chức quan, nhưng bất ngờ sinh bệnh mà mù cả hai mắt.
Tân bình thích: Cũng có ứng lấy hối lộ mà cầu quan. Ví dụ thứ hai cầu công danh không được bởi vì Thế Không, động mà hóa Quan là tượng sinh bệnh, Quan Quỷ tại hỏa, hỏa chủ mắt, lâm Huyền Vũ, Huyền Vũ là tối tăm, cho nên đôi mắt bị mù.
Độc vương ư Quan, lập công kiến nghiệp.
Chỉ có Quan vượng, lập công dựng nghiệp.
Nếu Tài, Phụ đều không đắc địa, chỉ có mình Quan tinh vượng tướng, hoặc Nhật thần, Nguyệt kiến làm Quan tinh mà sinh Thế, hoặc Hổ tại hào Thế động, hoặc Hổ tại hào kim Quỷ động mà sinh hợp hào Thế, đều chủ về lập công mà thành danh.
Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Tuất, xem về công danh cả đời, được quẻ Cổ:

Nguyệt kiến làm hào Tài sinh Thế, Bạch Hổ tại Quan kim trì Thế, người này nếu theo nghiệp văn cần phải theo lệ nạp túc; nếu theo nghiệp võ sẽ lập được công danh.
Người này bèn hỏi: "Có công danh không?" Ta đáp rằng: "Quan tinh trì Thế, được Nguyệt kiến sinh, nên chắc chắn sẽ được làm quan." Về sau người này ra làm quan, chưa được hưởng lương đã theo quân đi đánh trại, luôn dũng cảm đi đầu, được chủ soái khen ngợi, ban chức tước cho. Trong vòng năm năm, lập được nhiều kỳ công, làm đến chức nguyên soái.
Ví dụ: Ngày Kỷ Tị tháng Thìn, xem về công danh cả đời, được quẻ Dự biến Tụy:


Người này đã thi tuyển làm quan, nhưng vì chỗ điền khuyết thì ít, mà người dự thi lại đông, nên muốn hỏi xem có được điền khuyết hay không?
Ta thấy quẻ này hào 5 Thân Quan hóa Tiến thần, lại gặp Trường Sinh tại Nhật thần Tị, được Nguyệt kiến tương sinh, nhưng chỉ hiềm không sinh hợp hào Thế, ngờ rằng quẻ này ứng vào hào độc phát, nên bảo người này xem lại. Anh ta bèn nói: "Ngày khác sẽ thành tâm xem lại." Ta đồng ý.
Ngày Đinh Mùi tháng Thìn, xem được quẻ Tấn biến Cấu.


Quẻ trước Quan ở hào 5 động hóa Tiến thần nhưng không trì Thế, hợp Thế, nên không có phận làm quan. Quẻ sau quẻ nội Phản ngâm, hào Quan Tị hỏa bị Hợi thủy xung, tức phần làm quan đã bị xung mất, công danh về sau không phải ở đợt thi này, mà sẽ có cơ hội khác. Người xem hỏi: "Có được từ đâu?" Ta đáp: "Quẻ trước Quan động ở hào 5, là tượng quan ra đặc ân. Quẻ này Nhật thần Mùi thổ động ở hào 5 hóa Thân Trường Sinh mà sinh hào Thế, ắt sẽ nhận được sắc chỉ mà lập được quân công."
Người xem vốn cũng hiểu về Dịch lý, hỏi: "Hào Huynh trì Thế, làm sao có thể làm quan được?" Ta bèn đáp: "Lý luận như vậy là không biết biến thông, nếu Thế không ở hào Huynh, làm sao có thể được hào 5 tương sinh. Mà Quan tinh sinh thế lại vượng mà hóa Tiến thần, nên quẻ trước đã là điềm thành tựu."
Người này lại hỏi: "Bây giờ là lúc nhiễu nhương, bản thân tôi đang có ý này, nhưng không biết đi về hướng nào thì tốt?" Ta đáp: "Quẻ trước Thân kim hóa Dậu, quẻ này Thế tại Dậu kim, nên đi về hướng tây sẽ tốt." Người này liền đi về hướng tây, chẳng bao lâu lập được kỳ công, làm đến Phó sứ, thêm hàm Phương bá, đến năm Ngọ thăng nhiệm tại Sơn Đông.
Tuế ngũ sinh Thế, bình độ đăng vân.
Thái Tuế, hào 5 sinh Thế, bình ổn thăng quan.
Nếu được Thái Tuế hoặc hào 5 sinh Thế, hoặc Nhật thần, Nguyệt kiến nhập hào động sinh Thế, đều chủ về thường dân ăn lộc, bình ổn thăng tiến. Nếu Thái Tuế nhập quẻ, nên nhập vào hào động. Nếu hào 5 sinh Thế, cũng phải là hào động, mà hào Thế và Quan tinh đều vượng, mới có thể đoán như vậy.
Xưa có quẻ để lại để chiêm nghiệm: Ngày Ất Mão, tháng Tuất năm Bính Tuất, nghe tin vua ngự giá, không biết lành dữ ra sao, xem được quẻ Tỷ biến Khôn:


Thái Tuế và Nguyệt kiến tại hào 5 động mà hợp Thế. Thế ở hào Quan Mão mộc, lại gặp Nhật thần. Người này tuy là thứ dân, nhưng là thủ lĩnh của một phương, nghe tin vua ngự giá đến, ra đón mà được phong tước Tướng quân. Nên quẻ này rất ứng nghiệm, thực là thần cơ.
Phúc Đức động dao, khởi thị miếu đường chi khách;
Phúc Đức phát động, chẳng phải khách nơi quyền quý;
Nếu hào Tử Tôn trì Thế, trong quẻ có hào Tử Tôn phát động, không phải là tượng quyền quý.
Ví dụ: Ngày Đinh Mão tháng Tuất, xem công danh cả đời, được quẻ Nhu:

Đoán rằng: "Hào Tử Tôn trì Thế, đừng hỏi chuyện công danh!" Người xem bèn hỏi: "Vậy làm việc gì có thể thành danh?" Ta đáp rằng: "Anh dù có tài cưỡi ngựa bắn tên, có sức nhấc vạc, cả đời cũng không thể thành danh." Nhưng người này khát vọng công danh rất mạnh, vẫn chăm chỉ dùi mài đọc sách, tài văn nổi tiếng đương thời, nhưng không qua nổi kỳ thi hương. Sau theo việc quân hơn hai mươi năm, khi lập quân công, lúc theo lệ nạp túc, mãi lận đận trong chốn công danh, đến bạc đầu cũng chẳng thành. Đó chính là do hào Tử Tôn khắc Quan.
Khi Tử Tôn, Không Vong choán mất đường quan: công danh không thành và giới hạn của phép đoán chung
Quan lộ đã mở ra nhiều lối, nhưng cùng những hào ấy cũng đủ sức đóng sập cánh cửa công danh lại.
Phá Không lâm Thế, chung thân bạch ốc chi nhân.
Thế gặp Không Phá, suốt đời là kẻ thường dân.
Hào Thế tĩnh mà gặp Tuần Không, Nguyệt phá, hay hào Quan gặp Tuần Không, Nguyệt phá đều chủ về không được thành danh. Chỉ khi hào Thế, hào Quan gặp Không, Phá nhưng động, thì không đoán theo cách này.
Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Tị, xem về công danh cả đời, được quẻ Lữ:

Ta đoán rằng: "Tuy là quẻ Lục hợp, nhưng hiềm vì Tử Tôn trì Thế, hào Quan phục mà gặp Nguyệt phá, nên đừng nghĩ đến chuyện thành danh." Người xem nói: Đã nạp tiền rồi. Ta đáp: "Có tiêu phí ngàn vàng cũng không thể làm quan được." Sau đến năm Tý mắc bệnh, đến năm Sửu chết.
Lại vào ngày Đinh Mão tháng Dần xem cho một người đã thi đỗ chức quan, hỏi xem hậu vận thăng tiến ra sao, cũng được quẻ này. Đến năm Tuất nhiều chuyện rối ren, bị người tố cáo, cách chức bắt hỏi tội.
Xem về công danh cả đời, chỉ biết được công danh có hay không, nếu trong quẻ hiện công danh, thì tiếp tục hỏi xem là nghiệp văn, nghiệp võ, hay vào nha môn, căn cứ vào ý niệm của người xem mà suy đoán, rất ứng nghiệm. Nếu dùng quẻ trên để đoán về nghiệp văn hay nghiệp võ, như vậy là lừa người ta.
Có lần một võ ấm muốn xem về công danh cả đời, xem sẽ theo nghiệp này suốt đời, hay có công danh khác.
Chú thích: Võ ấm là tập ấm về ngành võ. Tập ấm tức được nhờ công lao cha ông mà có chức vụ.
Ngày Mậu Tý tháng Mão xem, được quẻ Đại Quá biến Tỉnh:


Đoán rằng: Sẽ có công danh khác. Trong quẻ hào Quan Dậu kim gặp Nguyệt phá, là chỉ quan chức hiện tại bị phá mà thành vô dụng. May nhờ hào Thế động hóa thành hào Quan Thân kim, hồi đầu sinh Thế. Thân lại là Thái Tuế của năm này, nên về sau nhờ đặc ân mà có chức tước vẻ vang khác.
Người xem hỏi: "Vậy từ đâu mà có được?" Ta đáp: "Huyền Vũ tại Hợi thủy, hào Phụ phát động, ắt là nhờ kế sách trừ giặc giúp dân mà có được." Người này bèn nói: "Tôi đâu có tài cán như thế! Lại hỏi ứng nghiệm vào lúc nào." Ta đáp: "Đến năm Dần được chức cao, đến năm Thân nhiệm chức."
Sau quả nhiên nhờ công diệt giặc, trừ bỏ được đầu sỏ giặc cướp, năm Dần được luận công, trước ban tước võ, sau chuyển sang quan văn. Đến năm Thân thuyên chuyển đi làm Phó sứ ở Thiểm Tây, sau thăng nhiệm đến Việt Đông, sang năm Hợi được thăng chức Bố chính sứ. Đến năm Tý, ta đến công đường của Bố chính sứ, lại xem quẻ.
Ngày Tân Sửu tháng Mão năm Tý, xem công danh hậu vận ra sao, được quẻ Quy Muội biến Chấn:


Ta nói rằng: "Tôi từ xa đến, chỉ mong xem được quẻ tốt, báo cho ông được thăng quan, ngờ đâu gặp quẻ không hợp ý, không những không được thăng quan, mà lại là điềm về hưu." Người đó hỏi: "Tại sao lại như vậy?" Ta giải thích: "Nguyệt kiến làm hào Tài, khắc hào Thế Phụ Mẫu, tuy Bạch Hổ không động, nhưng gia trưởng khó tránh được tai họa. Hào Thế cũng bị thương khắc, bản thân cũng gặp nguy hiểm." Quả nhiên đến năm Dần cha mất, đến năm Mão về quê, đến nửa đường bị bệnh mà chết. Là do hào Sửu thổ Phụ Mẫu trì Thế, bị nhiều Mão mộc tương khắc.
Tân bình thích: Ngày xưa bởi vì cha mẹ chết mà phải từ quan chịu tang ba năm, vì vậy lấy Tài lâm Hổ động làm điềm về hưu, nay thì chưa hẳn ứng về hưu. Nhưng có thể đoán cha mẹ có hung.
Thọ Nguyên: hào Thế và Nguyên thần định tuổi trời dài ngắn
Công danh là chuyện một quãng đời, thọ nguyên mới là giới hạn cuối cùng mà mọi phép đoán khác phải dừng lại trước.
Thế hào vượng tướng, vĩnh hưởng trường niên; Thân vị hưu tù, tu phòng yểu chiết.
Hào Thế vượng tướng, hưởng thọ dài lâu; Thân phải hưu tù, đề phòng chết yểu.
Thường xem tuổi thọ chỉ căn cứ vào hào Thế. Nếu hào Thế vượng hoặc tướng, hoặc lâm Nhật Nguyệt, hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh phò, hoặc hào Thế động mà hóa Trường Sinh, hóa Vượng, hóa hồi đầu sinh, đều là tượng đại thọ. Nếu hào Thế hưu tù, cần đề phòng năm xung khắc; nếu lại bị hình thương khắc hại, là hào động thì ứng vào năm hợp, năm trực; là tĩnh thì ứng vào năm trực năm xung, điều này đã được trình bày rõ trong chương "Ứng kỳ". Hào Thế hưu tù, theo Quỷ nhập Mộ, suy mà bị Quỷ khắc thương, đều là điềm hung. Nếu hào Thế động hóa Thoái thần, hóa Quỷ, hóa hồi đầu khắc, hóa Mộ hóa Tuyệt, hóa Phá, hóa Không, đều là tượng tuổi trời không còn dài. Về thời điểm ứng nghiệm, xin xem trong chương "Ứng kỳ".
Ví dụ: Ngày Ất Tị tháng Thìn, xem về tuổi thọ, được quẻ Trung Phu:

Hào Thế lâm Mùi thổ, được Nhật thần tương sinh, Nguyệt kiến trợ giúp, là tượng trường thọ. Người xem bèn hỏi: "Vậy bao giờ tôi sẽ chết?" Ta đáp rằng: "Phép xem xưa cho rằng hào sơ quản 5 năm, hào 2 quản 5 năm tiếp, sáu hào tổng cộng quản 30 năm. Xem thêm một quẻ nữa, lại là 30 năm tiếp. Ta đã thử phép này trong hơn bốn mươi năm, thấy không ứng nghiệm, nên không coi đó là chuẩn tắc, mà chỉ xem hào Thế vượng hay suy để suy đoán về tuổi thọ. Những phương pháp dối trá lừa người, ta không sử dụng. Theo như tượng quẻ này, thì hai mươi năm sau, ông hãy xem lại." Lúc này, người xem 53 tuổi.
Hai mươi năm sau, người này lại đến gặp ta, nói: "Năm xưa tôi từng đến xem về tuổi thọ, ông còn nhớ không?" Ta đáp: "Xem được quẻ Trung Phu, tôi có hẹn ông hai mươi năm sau trở lại xem." Người ấy cười mà gieo quẻ, lúc đó là ngày Kỷ Mão tháng Thân, được quẻ Sơn Trạch Tổn biến Phục:


Ta đoán rằng: "Nếu có một hào Quỷ động, thì tuổi thọ không được lâu dài. Nay trong quẻ có nhiều hào Quỷ động, lại là không đáng ngại. Năm nay Thái Tuế ở Tý, nên ông còn hưởng phúc được tám năm nữa. Đến năm Mùi, là hết hạn tuổi trời." Người xem bèn hỏi: "Tại sao lại như vậy?" Ta đáp: "Vì đó là năm Quỷ mộc nhập Mộ, hào Thế gặp Tuế phá." Về sau quả nhiên chết vào tháng bảy năm Mùi.
Ví dụ: Ngày Kỷ Dậu tháng Tị, xem về tuổi thọ, được quẻ Đại Súc biến Thái:


Đoán rằng: Hào Thế ở Dần mộc Quan Quỷ, là tượng cuối đời nhiều tai họa. Hào Thế hưu tù, bị Nhật thần tương khắc, nhờ năm nay Thái Tuế tại Thìn, nên vẫn chưa đáng ngại. Nên đề phòng năm Thân vì Dần mộc gặp Tuyệt tại Thân.
Sau đến năm Mùi bị bệnh cổ trướng, chết vào tiết Lập xuân, quẻ này thực linh nghiệm thay.
Tân bình thích: Lý luận này rất đúng, không thể lấy hào vị định năm mà đoán, phải lấy ngũ hành sinh khắc, vượng suy của hào Thế mà định.
Ví dụ: Ngày Nhâm Dần tháng Dần, một người đàn ông từng có xơ gan hơn 20 năm đã đỡ, hỏi tuổi thọ bản thân ra sao? Được Cổ biến Di.


Tôi đoán: "Hào Thế Tuyệt ở Nhật Nguyệt, Nhật Nguyệt là mộc là gan mật, bệnh gan hoàn toàn chưa khỏi hẳn, Thế động hóa Không, đề phòng năm Thìn xuất Không." Người này cũng biết chiêm bốc, nói rằng: "Thế động hóa hồi đầu sinh, tại sao là hung? Năm Thìn xuất Không, hào Thế được sinh, bệnh của tôi phải khỏi hẳn mới đúng." Tôi nói: "Chúng ta nói rằng bệnh lâu sợ Không, huống hồ hào Thế hưu tù đến cực điểm, chính là giống như cây không gốc rễ, sinh có ích gì?" Người này nghe xong rất không vui.
Năm Mậu Dần gieo quẻ, năm Canh Thìn qua đời.
Nguyên thần nghi ư an tĩnh.
Nguyên thần nên là an tĩnh.
Xem về tuổi thọ, cần dựa vào hào Thế, Nguyên thần là nhân tố sinh dưỡng cho thân, nên vượng mà tĩnh, không nên động. Tại sao lại như vậy? Nếu xem về việc khác, thì Nguyên thần nên động, vì động sẽ có lực. Xem về tuổi thọ, Nguyên thần không nên động, động thì tuổi thọ sẽ có hạn, không kết thúc vào năm Nguyên thần gặp Tuyệt gặp Mộ, cũng chấm dứt vào năm Nguyên thần bị xung khắc.
Ví dụ: Ngày Đinh Mão tháng Hợi, xem về tuổi thọ, được quẻ Cấu biến Tiểu Súc:


Đoán rằng: Hào Thế lâm Sửu thổ, động hóa Tý thủy tương hợp, được hào Ứng Ngọ hỏa động tương sinh, hào Thế đắc địa, là tượng trường thọ. Nhưng hiềm vì Nguyên thần hỏa động sinh thổ, sợ rằng đến năm Tý xung mất Ngọ hỏa, là số trời đã tận. Sau quả nhiên mất vào năm Tý. Sở dĩ ứng vào năm Tý, vì hào Thế động gặp hợp tại năm Tý, Tý lại xung mất Ngọ hỏa, nên không thể sinh Thế được.
Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Thìn, xem về tuổi thọ, được quẻ Trung Phu biến Khuê:


Đoán rằng: Hào Thế Mùi thổ được Nguyệt kiến Thìn thổ trợ giúp, bị Nhật thần tương khắc, hai nhân tố đó có thể cân bằng lẫn nhau. Nhưng lại hiềm vì Nguyên thần Tị hỏa động mà sinh Thế. Năm nay Thái Tuế ở Thân, sợ rằng đến năm Hợi sẽ gặp bất lợi. Sau chết vào năm Tuất, ứng với năm Nguyên thần Tị hỏa nhập Mộ.
Kỵ thần động dao và những cái chết đã được báo trước
Hào Thế yên hay động đã có chỗ đứng, nhưng một hào Kỵ thần khẽ động cũng đủ báo trước ngày tận số.
Kỵ thần tối phạ động dao.
Ky thần tối kỵ dao động.
Kỵ thần không động thì bình an, nếu động, là tượng tuổi trời sắp hết, vào năm hợp hoặc năm trực sẽ qua đời.
Ví dụ: Ngày Kỷ Dậu tháng Dần, xem về tuổi thọ, được quẻ Bác biến Vô Vọng:


Hào Thế hóa Thân kim hồi đầu sinh, nhưng hiềm vì Thân kim bị Nguyệt kiến Dần xung phá. Lại thêm hai hào Mùi, Tuất thổ đều động mà khắc Thế thủy, bị khắc nên không được sinh, nên cần đề phòng năm Mão. Sau quả nhiên chết vào năm Mão, vì ứng với năm Kỵ thần Tuất thổ gặp hợp mà khắc Thế.
Tân bình thích: Không chỉ là năm Tuất thổ gặp hợp, Mão mộc cũng là Tử địa của hào Thế.
Lại như ngày Quý Hợi tháng Dậu, xem thọ, được Thái biến Minh Di.


Dần mộc Quỷ động mà khắc Thế, nên sẽ ứng năm Dần, năm Hợi bất trắc. Sau lại chết ở năm Thìn, ứng năm hào Thế gặp trị, hào Thế Thìn thổ gặp năm Thìn mà bị Quỷ khắc.
Tân bình thích: Cũng là năm Thế nhập Mộ.
Ví dụ: Ngày Ất Hợi tháng Tý, xem về tài phúc trong một đời, được quẻ Tiết biến Trung Phu:


Ta đoán rằng: Với quẻ này không nên hỏi về tài phúc, mà nên hỏi về tuổi thọ. Hào Thế Tị hỏa bị Nhật thần, Nguyệt kiến xung khắc, lại bị hào động Tý thủy khắc thêm. Năm 36 tuổi là năm Sửu, cần đề phòng tai họa do sông nước. Người xem hỏi nguyên do, ta đáp rằng: "Cung Khảm thuộc thủy, Nhật thần Nguyệt kiến đều thuộc thủy, lại thêm hào động Tý thủy, nên phải đề phòng tai nạn liên quan đến thủy."
Vào ngày Tân Mão tháng Mão năm Đinh Sửu, một người bạn họ Dương dẫn thêm một người nữa đột ngột tìm đến xem lưu niên, được quẻ Đoài biến Tùy:


Ta đoán rằng: "Tháng sáu năm nay, nếu không gặp tai họa về sông nước cũng gặp tai họa về cây cối. Trong quẻ Nhật thần, Nguyệt kiến khắc Thế, lại thêm hào 2 Dần và Mão tương khắc, nhưng hiện hào Thế lâm Không, nên chưa đáng ngại. Đến tháng sáu (tháng Mùi), hào Thế xuất Không, bị nhiều mộc khắc thương, khó mà tránh được tai họa." Bạn họ Dương nói: "Người này họ Quách, năm trước đã đến xem về thân mệnh, anh đoán năm nay sẽ có chuyện bất lợi. Nay lại được quẻ này, thật là trùng hợp." Ta đáp: "Số hợp với số, không chỉ là trùng hợp."
Về sau đến tháng 6, người này theo chủ vào rừng nghỉ mát. Đến ngày 29, bảo với mọi người rằng: "Người ta bảo tôi tháng 6 sẽ chết, nay đã là ngày 29, cơm vẫn ăn bảy bát, làm sao mà chết được." Lát sau mang quần leo lên thuyền độc mộc trong hồ để giặt, bỗng nhiên thuyền rời khỏi bờ. Trên bờ có một người la lên: "Lạ thật! Người ta bảo anh chết vì sông nước, nay thuyền rời bờ, chẳng phải sắp chết là gì? Người này nghe vậy thì hoảng sợ, vội dùng tay chèo thuyền, nhưng thuyền không nhúc nhích, bèn nhảy xuống nước, ý muốn một tay vịn thuyền, một tay bơi vào, ngờ đâu thuyền nhẹ, cả thuyền và người lật úp, khiến vừa chết trong nước, vừa chết vì cây. Chủ nhân vội sai người tát nước, lật thuyền lên, nhưng không lật được, chẳng phải là số trời ư?
Phép xưa khi xem về lưu niên, nếu hào Tài khắc Thế, thì căn cứ vào hào Tài để suy đoán, nhưng ta lại đoán rằng quẻ này mộc nhiều khắc Thế, nên phòng tai họa về cây cối.
"Hoàng kim sách" nói: "Quẻ gặp hung tinh, tránh đi tất cát". Quẻ này Kỵ thần động dao, hào Thế Không Vong, sao có thể tránh được?
Tân bình thích: Sao lại không thể tránh? Rời xa thủy mộc là có thể tránh được. Hoặc dùng phương pháp ngũ hành tiến hành hóa giải cũng có thể tránh được. Trong chương xu cát tị hung có ví dụ một người qua sông đòi nợ, cũng là hào Thế Không Vong, Kỵ thần động lâm Nhật Nguyệt mà động, so với ví dụ ở trên thì Kỵ thần này càng vượng tướng hơn. Ví dụ ở trên Kỵ thần động mà hóa thoái, Kỵ thần trong chương xu cát tị hung động mà hóa tiến, nhưng lại thoát khỏi tai họa, giữ được tính mạng, chứng tỏ có thể tránh được. Trong thực tiễn cũng là như vậy.
Ví dụ: Ngày Kỷ Mão tháng Ngọ, xem về tuổi thọ, được quẻ Bĩ biến Độn:


Ta đoán rằng: Với quẻ này chưa dám đoán định về tuổi thọ, hào Thế và hào Thê Tài đều hóa hồi đầu khắc, nên cũng có thể ứng với thương khắc vợ. Nên xem thêm một quẻ!
Xem được quẻ Tỷ biến Truân:


Hào Thế theo Quỷ nhập Mộ, bởi vậy biết rằng quẻ trước là ứng với tuổi thọ của bản thân, nhưng không dám đoán về năm tháng ứng nghiệm. Người xem nói: "Xin cứ nói thẳng." Ta đáp: "Không phải tôi không muốn nói, nhưng quẻ này rất khó đoán định năm tháng. Hào Thế hào Mão mộc có khi ứng vào năm trực, có khi ứng với năm xung, có khi ứng với Thân là Tuyệt của Mão mộc, có khi ứng với Mùi là Mộ của Mão mộc, nên vẫn phải xem thêm môt quẻ nữa để quyết đoán."
Xem lại, được quẻ Mông biến Lâm:


Ta nói: "Với quẻ này có thể biết được năm ứng nghiệm. Hào sơ và hào thượng Dần mộc đều động mà khắc Thế, nên sẽ ứng vào năm mộc nhập Mộ là năm Mùi." Người xem hỏi: "Có việc dữ chăng?" Ta đáp: "Quẻ trước mộc bị kim khắc, gặp Huyền Vũ mà động, nên đề phòng giặc cướp."
Về sau đến năm Thân, thành bị phá mà chết, sở dĩ ứng với năm Thân là năm mộc gặp Tuyệt.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
