Bài tổng quan
Ứng Kỳ Trong Thiên Thời: Định Đúng Giờ Mưa Tạnh Qua Phép Lục Hào
Một viên quan gặp nạn, tính mệnh nguy trong sớm tối, quyết tìm đường tự vẫn dù quẻ hiện hào Tử Tôn trì Thế, vốn là điềm không đáng lo. Ông không tin lời đoán mệnh, Dã Hạc lão nhân bèn chuyển sang xem thời tiết cho ông thấy tận mắt: giờ Mùi hôm ấy sẽ mưa, giờ Thân trời quang. Trời quả đúng như lời, viên quan mới chịu an tâm, nửa tháng sau được đặc xá thật. Thiên thời trở thành phép thử cho mọi phép đoán khác: ứng vào ngày hợp hay ngày trực, hào động hay ám động, gặp Không, gặp phản ngâm, phục ngâm, mỗi trường hợp một quy tắc tính ra đúng giờ, đúng khắc, không thể trả lời chung chung nửa mưa nửa tạnh. Điều gì khiến một lời đoán thời tiết đáng tin đến mức cứu được một mạng người?
Gió, sấm chớp và những nguyên tắc tổng quát khi phối hợp các hào
Mộc động sinh phong, Phong Bá tứ ngược.
Mộc động sinh gió, thần gió lộng hành.
Sách xưa cho rằng, hào Huynh Đệ tại mộc, nếu động là tượng quẻ Tốn Phong, chủ về gió lớn lộng hành.
Giác Tử bàn rằng: Mộc động sinh gió, không phải là ở quẻ Chấn hay quẻ Tốn. mộc ở hào Tử, hào Phụ, hào Tài, hào Quan đều chủ về có gió, chứ không phải chỉ ở hào Huynh Đệ. Chỉ khi hào mộc hóa Tiến thần, mới có gió lớn, nếu không thì chỉ là gió nhẹ, chứ không phải do hóa thủy hay hóa hỏa.
Kim Không tắc hưởng, Điện mẫu thi uy.
Kim không thì vang, thần sấm ra uy.
Hào kim Quỷ động mà lâm Không, nếu gặp Nhật thần tương xung, hoặc về sau gặp ngày xung Không, thực Không, sẽ nổi sấm. Đấy là "kim Không (rỗng) thì vang".
Kim hóa kim giả, tấn lôi phích lịch; hỏa Quỷ động giả, điện xế kim xà.
Kim hóa thành kim, sét vang sấm dậy; hỏa Quỷ mà động, chớp loé ngang trời.
Câu trên tuy xem thử lần nào cũng ứng nghiệm, nhưng nên đoán lúc sấm bắt đầu nổi, không nên đoán khi sấm chớp đã dứt.
Tân bình thích: Ở đây phải xem mùa và vùng miền, cũng không nhất định ứng ở ngày xung Không thực Không.
Ví dụ: Ngày Ất Hợi tháng Thìn, đoán thời tiết ngày hôm sau, được quẻ Lôi Phong Hằng biến Chấn Vi Lôi.


Trong quẻ Tài động sinh Quan, Quan động sinh Phụ, tạo thành thế liên tục tương sinh. Hào sơ Thê Tài chủ tạnh, nhưng động hóa Phụ Mẫu, là trời trong chuyển nhiều mây có mưa, Phụ Mẫu Hợi thủy và Nhật thần tương đồng, lại được Quan Quỷ phát động tương sinh là vượng tướng, có mưa tất lớn. Quan Quỷ là kim, rơi vào Không Vong, phù hợp với nguyên tắc "kim Không tắc minh", có sấm sét. Tổng hợp tình hình trên đây đoán là hôm sau trời quang chuyển âm u, có mưa rào sấm sét.
Tình hình ứng nghiệm: Buổi sáng trời quang, buổi chiều giờ Thân chuyển âm u, sấm vang chớp giật, sau nổi mưa lớn, mưa càng lúc càng lớn, kéo dài đến sáng sớm ngày Sửu.
Động nhi hợp, tĩnh nhi xung, vật lâm Nguyệt phá.
Động ứng vào hợp, tĩnh ứng vào xung, đừng lâm Nguyệt phá.
Hào Phụ Mẫu chủ mưa, hào Quan Quỷ chủ mây dày, sấm chớp; hào Tử Tôn, hào Thê Tài chủ tạnh ráo. Nếu động sẽ ứng nghiệm vào ngày trực, ngày hợp; nếu tĩnh sẽ ứng vào ngày trực, ngày xung. Nếu tĩnh mà gặp Nguyệt phá thì không ứng nghiệm; nếu động mà gặp Nguyệt phá, sẽ ứng vào ngày thực Phá.
Ví dụ: Ngày Quý Mão tháng Thìn, đang lúc nắng ráo, xem ngày nào có mưa, được quẻ Kiển:

Có người cho rằng, trong quẻ Thìn, Tuất đều là hào Phụ, mà Nguyệt kiến cũng là hào Phụ. Ngày mai là ngày Thìn, lại xung động hào Tuất Phụ, nên chắc chắn sẽ có mưa. Ta đáp: Hào Tuất lâm Nguyệt phá, làm sao có mưa được, chỉ có mây đen mà thôi. Quả nhiên đến hôm sau, chỉ thấy nhiều mây âm u.
Xung tắc ứng điền tắc thực, tối hỷ động Không,
Xung sẽ ứng, điền sẽ thực, có lợi cho hào động lâm Không.
Thời xưa thường cho rằng lâm Không là vô ích, mà không biết rằng, hào động mà lâm Không, nếu xem về mưa nắng, không ứng vào ngày xung không, sẽ ứng vào ngày điền thực.
Ví dụ: Ngày Bính Ngọ tháng Mùi, xem ngày nào mưa, được quẻ Ly biến Lữ:


Đoán rằng: Hào Phụ Mão mộc động mà gặp Tuần Không, nên không mưa ngày Kỷ Dậu, thì sẽ mưa vào ngày Mão.
Người này hỏi: "Làm sao định được sẽ mưa vào ngày nào?" Ta đáp: "Việc này không khó, ông hãy xem thêm một quẻ nữa". Người này lại gieo được quẻ Ly không động. Ta nói: "Quẻ này giống quẻ trước, ông xem thêm một quẻ nữa xem sao!" Người này lại gieo được quẻ Cấn biến Khiêm:


Ta đoán rằng: "Ngày Giáp Dần trời nhiều mây âm u, ngày Ất Mão sẽ có mưa, đến ngày Thìn lại tạnh". Người xem hỏi: "Làm sao biết được?" Ta bèn giải đáp: "Quẻ này hào Quỷ Dần mộc động gặp Tuần Không, nên đến ngày xuất Không sẽ trở trời. Quẻ trước hào Phụ Mão mộc động biến Thìn Tử Tôn, nên biết rằng ngày Mão sẽ có mưa, đến ngày Thìn sẽ tạnh."
Quả nhiên đến ngày Dần mây đen dày đặc, ngày Mão mưa to, ngày Thìn tạnh ráo. Cho nên động sẽ không bị Không.
Xác định đúng ngày, đúng giờ ứng nghiệm qua Mộ, Tuyệt, Trường Sinh và phản phục ngâm
Gió sấm đã có chỗ đứng, nhưng câu hỏi day dứt nhất của người xem vẫn là đúng ngày nào, đúng giờ nào.
Vũ ngộ Tài hưng, dục vũ tu đắc Tài Mộ Tuyệt;
Xem mưa gặp Tài hưng, muốn mưa Tài phải lâm Mộ, Tuyệt;
Khi xem về mưa, cần có hào Phụ động, hào Quỷ động. Nếu như hào Phụ, hào Quỷ không động, mà lại gặp hào Tài, hào Tử động, cần phải chờ đến ngày hào Tài nhập Mộ, hoặc gặp Tuyệt, mới có mưa.
Ví dụ: Ngày Bính Ngọ tháng Tuất, xem ngày nào có mưa, được quẻ Khảm biến Tỉnh:


Người xem hỏi: "Hôm nay xem về mưa, làm sao hào Tài lại động? Chắc là điềm đại hạn, không có mưa chăng?" Ta đáp: "Không phải thế! Hào Tài động hóa ra hào Dậu Phụ Mẫu, nên ngày Dậu đáng ra phải có mưa. Nhưng vì Nhật thần lại là Ngọ hỏa, cần phải đợi đến ngày Tuất, Ngọ hỏa nhập Mộ mới có mưa."
Sau quả nhiên đến ngày Dậu trở trời, đến ngày Tuất trời mưa. Đó là do hào Tài Ngọ hỏa nhập Mộ ở Tuất.
Tân bình thích: Lý luận này có lý.
Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Ngọ, tôi vừa mới lưu lại Lhasa thì có bạn từ Bắc Kinh gọi điện thoại tới, hỏi hôm nay sắp tổ chức buổi hòa nhạc ngoài trời cho thiếu nhi, nhưng hiện tại Bắc Kinh đang có mưa, có tổ chức được hay không? Tôi gieo quẻ đoán thời tiết Bắc Kinh, được Lữ biến Cấu.


Trong quẻ Tử Tôn Huynh Đệ phát động, Phụ Mẫu phục mà hưu tù, nhập Mộ ở Tử Tôn, có mưa tất ngừng. Buổi hòa nhạc có thể được tổ chức đúng giờ. Quả như dự đoán.
Chiêm tình, phùng Tử động, vọng tình chỉ đãi Tử phùng sinh.
Xem tạnh gặp Tử động, mong tạnh đợi Tử gặp Trường Sinh.
Nếu xem về nắng tạnh mà hào Tử, hào Tài động; xem về mưa mà được hào Phụ động, đợi đến ngày hào động gặp Trường Sinh sẽ ứng nghiệm.
Ví dụ: Ngày Đinh Tị tháng Mão, xem ngày nào mưa, được quẻ Hoán biến Khảm:


Ta đoán rằng: Hào Phụ Mão mộc động, đáng ra đến ngày Mão ngày Tuất sẽ có mưa, nhưng sau lại ứng vào ngày Hợi, tức ngày Mão mộc gặp Trường Sinh.
Cạnh phát Phụ Quan, liên triêu mãnh vũ;
Phụ, Quan tranh động, mưa lớn triền miên;
Trong quẻ, nếu có nhiều hào Phụ và hào Quỷ; hoặc hào Quỷ biến hào Phụ, hào Phụ biến hào Quỷ; hoặc hào Phụ hóa hào Huynh, hào Huynh hóa hào Phụ; Hoặc xem nhiều lần mà thấy trong quẻ không có hào Tử Tôn, mà hào Thê Tài động thì nhất định sẽ mưa to gió lớn kéo dài nhiều ngày.
Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Ngọ, xem ngày nào mưa tạnh, được quẻ Tấn biến Quy Muội:


Đoán rằng: Hào Phụ Mẫu và Quan Quỷ hiện nhiều trong quẻ, là tượng mưa gió triền miên trong nhiều ngày. Ngày hôm sau lại xem, lại được quẻ Phụ, Quan tranh động, sau quả nhiên mưa suốt trong bốn tuần.
Đa phùng Tài Tử, lũy nhật tình minh.
Tài, Tử hiện nhiều, trời tạnh lâu ngày.
Ví dụ: Ngày Giáp Ngọ tháng Mùi, do trời đại hạn, nên xem ngày nào trời mưa, được quẻ Truân biến Trung Phu:


Đoán rằng: Trong quẻ hào Phụ không động, hào Tử Tôn hiện nhiều, lại hóa Tiến thần, nên ngờ rằng đến ngày hào mộc nhập Mộ sẽ có mưa. Lại bảo anh ta xem thêm quẻ nữa, vẫn là hào Tài và hào Tử động. Ngày hôm sau lại xem, thì không thấy hào Phụ, hào Quỷ động, nên biết rằng trời hạn. Sau quả nhiên hai tháng liền trời không có mưa.
Hào đắc phản ngâm, tình vũ chung tu phản phục.
Quẻ được phản ngâm, mưa, tạnh thay đổi bất thường.
Ví dụ: Vào ngày Canh Dần tháng Thìn, xem bao giờ trời tạnh, được quẻ Quan biến Thăng:


Ta đoán rằng: Hào Tài Mão mộc xuất hiện, đến ngày mai sẽ tạnh. Nhưng vì quẻ này nội ngoại phản ngâm, nên tạnh rồi lại mưa. Sau quả nhiên đến hôm sau trời tạnh, nhưng rồi lại mưa.
Hào phùng phục tượng, hạn lạo tất đãi xung khai.
Hào gặp phục ngâm, hạn lụt chờ lúc xung khai.
Quẻ Phục ngâm thì có động cũng như bất động, nếu hào Tử hào Tài động, thì đợi đến ngày xung khai sẽ tạnh; nếu hào Phụ động, đợi đến ngày xung khai sẽ mưa.
Ví dụ: Ngày Giáp Tuất tháng Thìn, xem mưa, được quẻ Đại Tráng biến Chấn:


Đoán rằng: Xem về mưa mà hào Phụ bất động, hào Huynh hào Quỷ đều động, mộc động sinh gió, nên là tượng có gió mà không mưa. Đến giờ Thân hôm nay sẽ xung khai Dần mộc, nên xuất hiện gió lốc lớn.
Hợp Phụ, Quỷ xung khai, hữu lôi tắc vũ. Hợp Tài, Huynh khắc phá, vô phong bất tình.
Phụ hợp bị Quỷ xung khai, có sấm ắt mưa. Tài hợp bị Huynh khắc phá, không gió không tạnh.
Hào Phụ Mẫu bị hợp, vốn chủ không có mưa, nhưng nếu gặp hào Quỷ động xung khai, đợi đến khi sấm sét nổi lên sẽ có mưa. Trong quẻ nếu không có hào Quỷ động, mà bị các hào khác xung động cũng có mưa; hào khác không xung động, thì đợi đến ngày xung khai sẽ có mưa. Trường hợp hai hào Tài, Tử bị hợp cũng tương tự như vậy.
Giác Tử bàn rằng: Hào Phụ hào Quỷ bị hợp, đợi đến ngày xung khai sẽ có mưa. Hào Tài, hào Tử bị hợp, đợi đến ngày xung khai sẽ tạnh. Còn sấm chớp và gió có chăng cũng chỉ là ngẫu nhiên, không nên câu nệ.
Tân bình thích: Câu này sai rồi, hào Quan Quỷ và Phụ Mẫu vĩnh viễn không thể tương xung. Ứng là hào Quan Quỷ Phụ Mẫu động mà tương hợp, có hào khác phát động đến xung hoặc Nhật thần đến xung, nếu xung Phụ Mẫu thì trước mưa sau sấm, nếu xung Quan Quỷ thì trước sấm sau mưa. Hoặc Phụ Mẫu động mà hóa Quan Quỷ thì trước mưa sau sấm, Quan Quỷ động mà hóa Phụ Mẫu thì trước sấm sau mưa.
Bán tình bán vũ, quái trung Tài Phụ đồng hưng.
Nửa mưa nửa nắng, trong quẻ Phụ, Tài cùng hưng.
Trong sách xưa chú: Hào Thê Tài và Phụ Mẫu cùng động, hoặc hào Tử Tôn và Quan Quỷ cùng động, là tượng nửa mưa nửa nắng. Ta cho rằng nói như vậy là sai, vì không biết rằng mưa hay tạnh sẽ ứng vào giờ.
Ví dụ: Ngày Quý Mùi tháng Dậu, xem ngày nào nắng, được quẻ Tụng biến Tùy:


Trong quẻ này, hào Tử Tôn và hào Phụ Mẫu cùng động, hào Phụ Mẫu Dần mộc hóa Huynh Đệ Tị hỏa, nên vẫn là ngày mưa âm u, phải chờ đến giờ Tuất, mới thấy trời trong sao hiện, sở dĩ ứng vào giờ Tuất mưa tạnh, vì là giờ trực của Tuất thổ Tử Tôn.
Tân bình thích: Nắng mưa tuy có thời giờ của nó, nhưng cũng thường xuyên có thời tiết bên mặt trời xuất hiện bên mưa, nắng mưa chỉ cách có vài bước. Tiếc là không lưu lại quẻ ví dụ.
Hựu vũ hựu tình, hào thượng Mẫu Tử giai động.
Chợt mưa chợt nắng, vì hào Mẫu, Tử đều động.
Ví dụ: Vào ngày Bính Thân tháng Tị, xem ngày nào có mưa, được quẻ Lâm biến Mông:


Trong quẻ này, hào Phụ Mẫu, hào Tử Tôn đều động, vì hào Phụ Tị hỏa lâm Không, đến ngày Hợi xung Không sẽ mưa, đến giờ Dậu ngày Hợi thì tạnh. Sở dĩ ứng với giờ Dậu, là vì hào 6 Tử Tôn Dậu kim động.
Trong quẻ trước, hào Phụ hào Tử đều động, hào Tuất thổ Tử Tôn ứng với giờ Tuất trong ngày sẽ tạnh.
Quẻ này hào Phụ và hào Tử cùng động, lại ứng với giờ mưa của ngày khác.
Giác Tử bàn rằng: Căn cứ vào hai quẻ này, thì mưa hay tạnh đều có giờ ứng nghiệm, sao lại nói chung chung là nửa mưa nửa tạnh được?
Xem xa ứng gần: nhiều quẻ liên tiếp và câu chuyện viên quan chờ đặc xá
Một khi giờ khắc đã gọi tên được, phép ấy còn phải đứng vững qua nhiều quẻ liên tiếp và một tình huống sinh tử có thật.
Nhược tri chiêm viễn ứng cận, khả xưng vi thần;
Biết xem xa ứng gần, mới đáng gọi là thần;
Ví dụ: Ngày Mậu Tý mồng 5 tháng Dậu, xem Trung thu có mưa hay không, được quẻ Tiểu Quá biến Phong:


Trong quẻ, hào Thìn Phụ động, đáng ra là Trung thu có mưa, nhưng không ngờ lại ứng vào ngày Nhâm Thìn mồng 9 trời mưa.
Ví dụ: Ngày Nhâm Thìn lại xem Trung thu có tạnh không, được quẻ Tiểu Súc biến Trung Phu:


Đến ngày Quý Tị, lại xem, được quẻ Truân biến Trung Phu:


Một quẻ hào Tài động, một quẻ hào Tử động, mà đều không thấy hào Phụ và hào Quỷ động, nên đoán rằng trời sẽ tạnh. Quả nhiên đêm Trung thu, trăng sao vằng vặc.
Thức đắc bốc dịch ứng thời, phương đắc kỳ áo.
Biết thời gian ứng nghiệm, mới hiểu điều áo diệu.
Ví dụ: Ngày Ất Tị tháng Thìn, xem ngày Giáp Ngọ xây cất, có mưa hay không. Được quẻ Độn biến Hàm:


Người này cho rằng Phụ động là có mưa. Ta bèn nói: "Thường thấy xem ngày lại ứng vào giờ. Hôm nay nếu vào giờ Thân, Tuất không mưa, thì đến ngày mai sẽ có mưa." Quả nhiên mưa vào giờ Thân hôm ấy.
Người xem hỏi: "Vì sao giờ Thân lại có mưa?" Ta bèn đáp: "Vì Tuất thổ gặp Trường Sinh tại Thân." Người này lại hỏi: "Mưa có lâu không?" Ta trả lời: "Hào Phụ hóa Thoái thần, nên mưa không lâu, đến ngày mai sẽ tạnh."
Quả nhiên đến hôm sau thì tạnh hẳn.
Dã Hạc nói: Có người hỏi ta rằng: "Động thì sẽ ứng vào ngày hợp hoặc ngày trực, có thể biết chắc ngày nào không?" Ta bèn đáp: Người xưa không biết cách xem nhiều lần, cũng không hiểu được nguyên lý, nên có nhiều lúc đoán nhầm. Khi cơ trời chưa chịu tiết lộ hoàn toàn, phải nhờ vào sự biến thông của người. Thánh nhân lập nên giáo pháp, đặt ra phép xem thời tiết dạy người để chiêm nghiệm vào việc của người. Ví như hào Tử Tôn trì Thế phát động, nếu xem về thời tiết, là tượng trời trong nắng lớn, không một gợn mây; đến ngày Mộ ngày Tuyệt thì u ám mờ mịt. Nếu xem về số mệnh, là tượng hiển hách lẫy lừng, dương dương đắc chí, sau đến năm gặp Mộ, gặp suy, thì tai ách triền miên. Cho nên ta mới nói, dạy người biết cách xem thời tiết để chiêm nghiệm vào nhân sự, hiệu quả sẽ nhanh chóng. Nay muốn biết rơi vào ngày nào thì cũng không khó. Từng có viên quan gặp nạn, tính mệnh nguy trong sớm tối, vì xem được quẻ Tử Tôn trì thế, lại phát động mà thành tượng không lo phiền, sẽ được ân xá, nhưng ông ta không tin, vẫn quyết ý tìm đường tự vẫn. Ta bèn nghĩ ra cách xem thời tiết cho ông ta xem:
Ngày Bính Tý tháng Dậu, xem ngày nào mưa, được quẻ Mông biến Lâm:


Hai hào Phụ Mẫu Dần mộc đều động, chứng tỏ ngày Dần sẽ mưa. Lại bảo người khác xem thêm quẻ nữa xem ngày nào mưa, được quẻ Đại Tráng biến Thái:


Quẻ trước hào Phụ Dần mộc động, nên ứng vào ngày Dần; quẻ này hào Phụ Ngọ hỏa gặp Trường Sinh ở Dần, cũng ứng vào ngày Dần. Lại gọi người khác xem thêm một quẻ nữa, được quẻ Tùy biến Truân:


Lại thấy hào Phụ Hợi thủy động, nên biết ngày Dần chắc chắn sẽ mưa. Bởi vì hào Phụ Hợi thủy động, nên sẽ ứng nghiệm vào ngày hợp, cũng là ngày Dần.
Đến canh năm ngày Dần, lại xem mưa vào giờ nào, được quẻ Khuê biến Lý:


Ba quẻ trước đều ứng vào ngày Dần có mưa. Trong quẻ này Mùi thổ động biến thành Thân kim Tử Tôn, quẻ này sẽ ứng vào hào độc phát là Mùi thổ, nên biết rằng giờ Mùi sẽ mưa, đến giờ Thân thì tạnh. Đến sáng hôm sau đến an ủi viên quan đó rằng: "Ông xem được quẻ Tử Tôn trì Thế, là điềm không có điều gì đáng ngại, ông lại không chịu tin. Nay tôi xem thử, giờ Mùi hôm nay sẽ có mưa, đến giờ Thân thì tạnh, để ông biết rằng quẻ của tôi là linh nghiệm, mà không phải lo phiền nữa!" Vị quan liền ở nhà đợi, đến cuối giờ Ngọ đầu giờ Mùi, có cơn mưa từ phía tây nam đến, đúng giờ Mùi mưa to, sang giờ Thân thì mây tạnh trời quang. Cả nhà đều vui mừng mà nói: "Thật là quẻ thần". Ta bèn nói rằng: "Thiên thời còn đoán được, thì nhân sự có gì là khó. Ông cứ an tâm!" Quả nhiên nửa tháng sau thì được đặc xá.
Có người hỏi: "Hào Huynh Đệ Mùi thổ động, làm sao xác định được là giờ Mùi sẽ mưa?" Ta đáp: "Thần đã báo ngày Dần trời mưa. Hôm nay xem lại báo cho biết giờ tạnh. Nếu không, trước mắt vẫn là trời quang mây tạnh, sao trong quẻ lại hóa ra Thân kim Tử Tôn là tượng giờ Thân mưa tạnh? Ấy là phải nhờ vào sự biến thông của linh cơ."
Tân bình thích: Lý luận của Dã Hạc có lý, tôi cũng còn quẻ nghiệm được.
Ví dụ: Ví dụ: Hơn năm giờ chiều ngày Ất Mùi tháng Mùi, giữa lúc sắp hết giờ làm, bầu trời bỗng nhiên mây đen dày đặc, sấm vang chớp giật, xung quanh trở nên giống như nửa đêm, mưa to như trút nước. Bèn đoán khi nào ngừng mưa, được Phệ Hạp biến Ly.


Thê Tài Thìn thổ vượng mà độc phát, Phụ Mẫu nhập Mộ, mưa nhất định sẽ ngừng, nhưng bởi vì Thìn thổ Tuần Không, giờ Tuất xung thực, tôi đoán bảy giờ tạnh mưa. Lại nghi ngờ Tài động hóa Phụ, ngày Thìn Thìn thổ xuất Không cũng mưa.
Quả nhiên vừa mới đến bảy giờ, mưa lớn liền dừng lại. Đến ngày Nhâm Dần tháng Mùi, bầu trời mây đen, xem hôm nay có mưa không? Được Ích biến Ký Tế.


Quẻ này và quẻ trước tương tự, Phụ Mẫu không động, Thê Tài Thìn thổ động mà hóa Phụ Mẫu, liền đoán hôm nay không mưa, ngày mai Thìn thổ xuất Không tất mưa. Hôm nay quả nhiên không có mưa. Đến ngày Giáp Thìn, xem thời tiết hôm đó, được Giải biến Đại Tráng.


Hai quẻ trước đều ứng ngày Thìn có mưa, quẻ này Tử Tôn và Huynh Đệ phát động, với hào ám động Tuất thổ tam hợp thành Tử Tôn cục, mà Phụ Mẫu an tĩnh, chẳng lẽ hôm nay không mưa? Tôi nhớ lại ví dụ của Dã Hạc trong "Tăng San Bốc Dịch", liền đoán: Giờ Ngọ sẽ mưa. Quả nhiên đến giờ Ngọ đã nổi mưa.
Lại vào ngày Bính Tý tháng Thìn, do mưa lâu, xem khi nào tạnh, được quẻ Tốn biến Cấu:


Lại bảo người khác gieo quẻ, được quẻ Cấu biến Càn:


Lại gọi thêm một người nữa xem được quẻ Vô Vọng:

Lúc này, khắp thành đang chuẩn bị làm lễ rước thần, nhưng vì liên tục nhiều ngày chợt mưa chợt nắng, nên không dám trang hoàng. Ta dùng ba quẻ trên kết hợp lại để xét đoán, biết rằng đến ngày Quý Mùi trời nắng ráo. Trong quẻ đầu tiên, hào Tài Mùi thổ động hóa thành Ngọ hỏa Tử Tôn, nếu theo phép xem cũ, cho rằng hào Tài bị hợp là điềm không tạnh, ta cho là ứng nghiệm, nhưng gặp ngày xung khai sẽ tạnh. Lại thêm xem quẻ vào ngày Tý, Nhật thần Tý thủy đã xung khai Ngọ hỏa, Mùi thổ không còn hợp được, nên biết rằng ngày Mùi sẽ tạnh. Tại quẻ thứ hai, hào Phụ Mẫu Sửu thổ chủ về mưa, động hóa hào Tử Tôn Tý thủy là chủ về tạnh, cũng ứng vào ngày Mùi xung khai Sửu thổ, mà hào Tử Tôn Tý thủy không thể hợp với Sửu, nên cũng chủ về ngày Mùi sẽ tạnh. Tại quẻ thứ ba, hào Tử Tôn Ngọ hỏa bị Nhật thần xung nên ám động, động mà gặp ngày hợp, nên cũng ứng với ngày Mùi sẽ tạnh. Sau quả nhiên đến ngày Quý Mùi, muôn dặm trời quang.
Lại vào ngày Quý Dậu tháng Dần, do mưa kéo dài, nên xem ngày nào sẽ tạnh, được quẻ Khảm biến Tiết:


Hào Tử Tôn Dần mộc độc phát, nên không tạnh vào ngày Hợi thì tạnh vào ngày Dần. Ứng vào ngày Hợi, là vì ngày hào động Dần mộc gặp hợp; ứng vào ngày Dần, vì là ngày trực của Dần mộc. Nhưng lại không chỉ rõ là ngày nào, nên bảo người khác xem, được quẻ Quải biến Nhu:


Trong quẻ trước, hào Dần mộc Tử Tôn động nên chủ về trời tạnh, có thể ứng vào ngày Hợi hào động gặp hợp, hoặc ứng vào ngày Dần. Trong quẻ này, hào Tài Hợi thủy động, nên biết chắc rằng đến ngày Hợi sẽ tạnh. Lại thêm Hợi gặp Tuần Không, nên sẽ ứng vào ngày thực Không. Sau quả nhiên đến ngày Hợi, trời quang mây tạnh.
Lại ví dụ: Ngày Kỷ Mão tháng Thân, sáng ra trời âm u, nên xem trong ngày có mưa không, được quẻ Quải biến Đại Tráng:


Hỏi về mưa, nhưng thần không báo mưa, mà lại báo giờ Dậu nắng lớn. Ta ngờ rằng ý của thần muốn nói, mưa đã đến rồi, nhưng mưa không lâu, đến giờ Dậu nắng tạnh. Quả nhiên đến giờ Ngọ mưa nhỏ, đến giờ Thân mây tan, đến giờ Dậu tạnh ráo. Dạng quẻ như thế này khá thường gặp, người học đời sau nên chú ý. Nên nhớ rằng, khi mưa đã đến, thì thần sẽ không báo mưa, mà chỉ báo tạnh. Có người hỏi: "Hào Dậu kim động, động mà gặp xung là tán, lại hóa Thoái thần, làm sao mà vẫn tạnh?" Ta bèn giải đáp rằng: "Kim vượng tướng làm sao có thể tán được. Thân kim gặp Nguyệt kiến, làm sao có thể cho là Thoái thần?"
Lại ví dụ: Vào ngày Giáp Thìn tháng Mão, trời âm u, nên xem khi nào mưa, được quẻ Cấn biến Càn:


Ta đoán rằng: "Ngày hôm nay trời âm u, bốn ngày tiếp theo đều không tạnh ráo." Có người hỏi rằng: "Hôm nay trời mưa hay tạnh?" Ta đáp: "Hào Huynh Thìn thổ hóa hào Tài Tý thủy, Tý thủy gặp Trường Sinh tại Thân, nên giờ Thân, giờ Dậu sẽ có mưa. Mai là ngày Tị, lúc mưa lúc tạnh. Đến ngày Ngọ, ngày Mùi sẽ mưa to, sang ngày Thân lại tạnh ráo."
Người này lại hỏi: "Làm sao mà biết được?" Ta đáp: "Từ hào sơ Thìn thổ động, động liền hai hào, hào Phụ hóa hào Quỷ, hào Huynh hóa hào Phụ, là tượng nhiều ngày không tạnh. Hào 5 Tài Tý thủy, hóa Thân kim Tử Tôn, nên biết rằng ngày Thân sẽ tạnh."
Sau quả nhiên mấy ngày liền trời âm u, lúc mưa lúc tạnh, đến tận ngày Thân mới tạnh ráo, trời trong không một gợn mây.
Lại ví dụ: Vào ngày rằm Canh Thìn tháng Tị, xem về chuyện mưa nắng trong một tháng, được quẻ Khôn biến Sư:


Có người bảo rằng: "Hào Phụ Tị hỏa động, lại gặp Nguyệt kiến, nên chủ về mưa dầm nhiều ngày. Trong quẻ này hào Phụ Tị hỏa động, lại là hào Phụ hóa hào Huynh, là tượng mưa gió bất thường, trong tháng này ắt có lụt." Ta bèn nói: "Trong sách tuy có thuyết này, nhưng ta thử thấy không ứng nghiệm. Hôm sau là ngày Tị, ắt sẽ có mưa, những ngày khác thì chưa chắc." Quả nhiên đến hôm sau có mưa nhỏ. Bởi vậy ở phần trước, ta đã xóa bỏ chỗ sai trong luận đoán về "mưa dầm liền tuần", nên người học đời sau nên xem xét cho kỹ.
Lại ví dụ: Vào ngày Tân Mão tháng Tị, xem hôm sau mưa hay tạnh, được quẻ Độn biến Hàm:


Có người nói rằng: Hào Tuất Phụ hóa Mùi Phụ, nên ngày mai sẽ có mưa to. Ta bèn nói rằng: Thường thấy thần linh báo gần chứ không báo xa, nếu giờ Mùi giờ Tuất hôm nay không mưa, thì ngày mai ắt sẽ có mưa. Quả nhiên đến giờ Mùi hôm đó mưa nhỏ, đến giờ Tuất mưa lớn, sang ngày Hợi thì tạnh ráo.
Lại ví dụ vào ngày Bính Tuất tháng Dậu, do mưa dầm liên tục nhiều ngày, nên xem bao giờ tạnh, được quẻ Tiểu Quá biến Bí:


Ta đoán rằng: Trong quẻ hào Phụ và hào Quỷ cùng động, nên hôm nay chắc chắn sẽ có mưa lớn. May nhờ hào sơ Phụ Thìn thổ hóa hào Tài Mão mộc, hào 6 Tuất thổ hóa hào Tài Dần mộc, nên vào giờ Dần, giờ Mão hôm sau sẽ tạnh. Quả nhiên đến giờ Dần ngày hôm sau trời rạng.
Lại ví dụ: Vào ngày Quý Tị tháng Mão, do mưa liên tục nhiều ngày, xem ngày nào tạnh, được quẻ Tỷ biến Cách:


Trong quẻ Phụ Quỷ loạn động, là tượng còn mưa lớn nhiều ngày. May có hào Tử Tôn Thân kim hóa hào Tài Hợi thủy, nên đến ngày Thân sẽ tạnh. Quả nhiên đến ngày Thân trời nắng tạnh.
Ví dụ: Vào ngày Quý Mão tháng Mão, xem ngày nào mưa, được quẻ Tiểu Quá biến Độn:


Hàọ Tuất Phụ động hóa Tuất thổ, là quẻ Phục ngâm, nên đến giờ Thìn hôm sau sẽ có mưa, vì gặp quẻ Phục ngâm cần đợi xung khai. Quả nhiên đến giờ Thìn, giờ Tị hôm sau có mưa.
Lại ví dụ: Ngày Giáp Thân tháng Sửu, do tuyết xuống liên tục nhiều ngày, nên xem ngày nào tạnh, được quẻ Tổn biến Lâm:


Hào Quỷ Dần mộc động, mộc động sẽ sinh gió. Lại biến ra hào Tử Tôn Dậu kim, nên đến giờ Hợi trong ngày sẽ có gió lớn, đến giờ Dậu hôm sau sẽ tạnh. Sau quả nhiên đến giờ Hợi thì gió nổi, đến hôm sau trời quang đãng.
Lại ví dụ: Ngày Đinh Hợi tháng Tị, do mưa liên tục nhiều ngày, nên xem ngày nào tạnh, được quẻ Truân biến Phệ Hạp:


Quẻ ngoại hào Phụ động biến thành hào Phụ, hào Quỷ động biến thành hào Quỷ, nên là tượng mưa gió kéo dài. Hào thượng Tý thủy động biến thành hào Tài Tị hỏa, nên đến ngày Tị mới tạnh. Có người hỏi rằng, hào Quỷ vượng mà hóa Thoái thần, hào Phụ suy mà hóa Thoái thần, nên mới đoán được như vậy. Ta đáp: Phụ hóa Phụ, Quỷ hóa Quỷ, tức thần mách bảo cho ta là mưa gió còn kéo dài nhiều ngày. Rồi lại báo với ta rằng, đến ngày Tị sẽ tạnh, nếu không phải là tượng hào như thế, thì làm sao mà biết được hết ý của thần. Nay nếu lại dùng vượng suy, tiến thoái để bàn luận, thì là người không biết biến thông.
Ví dụ: Ngày Đinh Mùi tháng Thân, do mưa kéo dài, nên xem bao giờ tạnh, được quẻ Phục biến Ký Tế:


Ta đoán rằng: Hào Huynh Thìn thổ hóa hào Tài Hợi thủy, nên đến ngày Hợi trời sẽ tạnh, nhưng tạnh không được lâu. Vậy dựa vào đâu để đoán như vậy? Vì hào 5 Tài Hợi thủy lại biến thành hào Huynh Tuất thổ. Sau quả nhiên, đến ngày Hợi trời rạng, đến giờ Thân, giờ Dậu, giờ Tuất lại có mưa.
Lại ví dụ: Vào ngày Nhâm Dần tháng Mão, xem ngày nào mưa, được quẻ Thiên Địa Bĩ biến Quan:


Có người đoán rằng: Hào Quỷ Ngọ hỏa động hóa Phụ Mùi thổ, đáng lẽ là điềm có mưa. Chỉ vì Ngọ hợp với Mùi, nên phải đợi đến ngày Tý, ngày Sửu xung khai hợp, mới mưa được. Ta nói: Giờ Tý, giờ Sửu hôm nay cũng có thể xung khai. Quả nhiên đến nửa đêm hôm đó mưa to.
Lại ví dụ: Vào ngày Canh Tý tháng Mùi, do mong mưa nên xem bao giờ có mưa, được quẻ Khốn biến Phệ Hạp:


Ta đoán rằng: Quẻ nội hào Phụ Thìn thổ động, hóa thành hào Tài Dần mộc nên đến ngày Thìn sẽ có mưa, nhưng mưa không lớn. Hào Huynh Dậu hóa thành Phụ Mùi thổ, hào Phụ Mùi thổ lại hóa thành hào Quỷ Tị hỏa, nên đến ngày Mùi sẽ có mưa lớn. Quả nhiên đến ngày Thìn mưa nhỏ, ngày Mùi mưa to.
Lại ví dụ: Vào ngày Giáp Thân tháng Dần, bạn hẹn ta đến ngày Hợi đi du xuân. Ta bèn nói: Mưa tuyết đã vài ngày, đi du xuân không được tận hứng.
Bạn ta nói: Sáng nay tôi xem được quẻ có hào Hợi thủy Tử Tôn động, nên ngày Hợi sẽ tạnh ráo. Ta bèn xem thử, được quẻ Dự biến Chấn:


Ta đoán rằng: Ngày Tý mới tạnh, ngày Hợi thì chưa chắc. Bạn ta bèn nói: Tôi xem thấy hào Hợi thủy Tử Tôn, anh xem được hào Tý thủy Tử Tôn, đều là chỉ ngày Tý ngày Hợi tạnh ráo. Ta đáp: Không đúng! Anh xem được hào Hợi thủy Tử Tôn, vượng vào ngày Tý, nên ứng vào ngày Tý tạnh ráo, chứ không phải ứng vào ngày Hợi. Sau quả nhiên ngày Hợi vẫn có tuyết, đến ngày Tý mới quang đãng.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
