Bài tổng quan
Sinh Vượng Mộ Tuyệt: Mười Hai Cung Trường Sinh Trong Phép Đoán Lục Hào
Một cô gái uống thuốc độc vì cha mẹ ngăn cấm chuyện yêu đương. Người cha gieo được quẻ Tổn biến Bí, hào Tử Tôn Thân kim phục dưới hào Sửu thổ, vừa nhập Mộ vừa được Sửu thổ sinh. Mộ khố là tượng nằm viện, mà sinh kim lại là bàn tay kéo người trở về. Tháng Mùi xung khai khố, cô xuất viện, tháng Thân thì hồi phục. Mười hai trạng thái từ Trường Sinh đến Dưỡng, Dã Hạc lão nhân chỉ dùng bốn: Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt. Vương Hồng Ứng lại thấy cả mười hai cung đều ứng nghiệm, có điều chúng thuộc về tượng chứ không định cát hung, như Mộc Dục hiện thành phòng tắm trong quẻ xem nhà của một người Nhật. Riêng hành thổ gửi Trường Sinh tại Thân hay tại Dần, phép xem mưa tạnh đã trả lời ra sao?
Mười hai trạng thái và bốn cung Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt
Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng, tổng cộng có mười hai trạng thái.
Ta xem thấy ứng nghiệm chỉ có Sinh (Trường Sinh), Vượng (Đế Vượng), Mộ, Tuyệt; còn lại đều không ứng nghiệm, nên không cần dùng đến.
Kim khởi Trường Sinh từ Tị, Vượng tại Dậu, Mộ tại Sửu, Tuyệt tại Dần;
Mộc khởi Trường Sinh từ Hợi, Vượng tại Mão, Mộ tại Mùi, Tuyệt tại Thân;
Hỏa khởi Trường Sinh từ Dần, Vượng tại Ngọ, Mộ tại Tuất, Tuyệt tại Hợi;
Thủy thổ khởi Trường Sinh từ Thân, vượng tại Tý, Mộ tại Thìn, Tuyệt tại Tị.
Nếu như hào chủ sự (Dụng thần) thuộc mộc, ngày xem là ngày Hợi, thì Hợi chính là Trường Sinh của hào mộc chủ sự; nếu xem vào ngày Mão, thì mộc Vượng tại Nhật thần Mão; nếu xem vào ngày Mùi, thì mộc gặp Mộ ở Mùi; nếu xem vào ngày Thân, thì mộc gặp Tuyệt tại Thân. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đó.
Nếu như hào chủ sự thuộc mộc, trong quẻ có hào Hợi động, như thế cũng là hào chủ sự gặp Trường Sinh tại hào động; nếu trong quẻ có hào Mùi động, tức hào chủ sự nhập Mộ tại hào động; nếu trong quẻ có hào Thân kim động, tức hào chủ sự gặp Tuyệt tại hào động. Những trường hợp khác cũng cũng loại suy từ đó.
Nếu như hào chủ sự thuộc mộc, động mà biến ra hào Hợi thủy, gọi là hóa Trường Sinh; nếu động mà biến ra hào Mão mộc, tức là hóa Vượng; nếu động mà biến ra hào Mùi thổ, tức hóa Mộ; nếu động mà biến ra ra hào Thân kim, gọi là hóa Tuyệt. Những trường hợp khác cũng cũng loại suy từ đó.
Tân bình thích: Đây là luận về 12 cung trường sinh, cách gọi chính xác phải là 12 trạng thái sinh tử của ngũ hành. Người xưa đã coi 12 cung trường sinh là căn cứ để phán đoán cát hung, trên thực tế đó là một nhận thức sai lầm. Vai trò của 12 cung trường sinh là dùng để thể hiện "tượng", việc sử dụng để xem cát hung chỉ chiếm một phần rất nhỏ, chỉ có một hai phần trăm mà thôi. Thực ra 12 cung trường sinh đều có ứng nghiệm, trong cuốn "Lục hào quái lệ thuyết chân" tôi đã trình bày chi tiết về vấn đề này. Nay tôi dẫn lại ví dụ đã từng đưa ra trước đây, để giúp chúng ta có thể hiểu được chỗ diệu dụng của 12 cung trường sinh.
Mộ khố và Mộc Dục hiện thành tượng: quẻ Trạch Lôi Tùy
Tượng của mười hai cung chỉ lộ rõ khi đặt vào một quẻ cụ thể, nơi Mộ khố và Mộc Dục hóa thành vật có thật trong căn nhà.
Ví dụ: Ngày Đinh Dậu tháng Mão, một người Nhật Bản nhờ tôi đoán phong thủy nhà ở, được quẻ Trạch Lôi Tùy.

Tôi đoán người này đã tốn không ít tiền để sửa chữa đường ống dẫn nước và phòng tắm, ngôi nhà nằm bên đường kề khu phố sầm uất, đường đi bất tiện, đã từng tu bổ nhiều lần. Kết quả phán đoán rất chính xác.
Quẻ này Thê Tài trì Thế, chính là tiền nằm trong tay, Không mà bị Nguyệt kiến khắc thương, là cầm tiền trong tay tiêu mất đi. Huynh Đệ lâm Câu Trần tại hào 2 vượng mà khắc hào Tài, hào 2 là hào trạch, Câu Trần là tu tạo, nhất định là bởi vì tu tạo hoặc cải tạo nhà cửa mà tốn tiền. Thê Tài Thìn thổ là thủy khố, có thể hiểu là vật đựng nước. Lâm Đằng Xà, Đằng Xà chủ vật nhỏ dài, uốn khúc, Thìn thổ có thể hiểu là đường ống dẫn nước. Lại Thìn thổ gặp Nhật là đất Mộc Dục, Mộc Dục có thể hiểu là tắm rửa, thủy khố của nơi tắm rửa, có thể hiểu là phòng tắm, cho nên đoán như vậy.
Quẻ tại cung Chấn, Chấn là khu phố sầm uất, náo nhiệt, lại Phụ Mẫu lâm Chu Tước, một Phụ Mẫu lâm Bạch Hổ, Chu Tước chủ ồn ào, Bạch Hổ chủ đường đi, vì vậy đoán nhà của người đó nằm bên đường tại khu phố sầm uất. Hào 5 là đường đi, Nguyệt phá, chính là tượng đường đi bị tổn hại, nhưng Nhật thần thực Phá, lại là tượng tu bổ.
Trong ví dụ này đã sử dụng ý nghĩa của Mộ khố và Mộc Dục, sao lại nói Mộc Dục không ứng nghiệm? Những phương pháp khác, có thể tham khảo "Lục hào quái lệ thuyết chân".
Khi nào mới tính là Sinh, là Mộ, là Tuyệt: quẻ Tổn biến Bí
Sinh hay khắc, Mộ hay sinh, ranh giới ấy nằm ở chỗ hào đang vượng hay đang suy.
Giác Tử bàn rằng: Kim tuy Trường Sinh tại Tị, nhưng hào kim phải là vượng tướng hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh phò, trong trường hợp đó, lại được thêm ngày xem quẻ là ngày Tị hoặc trong quẻ có hào Tị động, hoặc là hào kim động mà sinh ra Tị hỏa, mới được coi là gặp Trường Sinh. Nếu như hào kim hưu tù vô khí, mà gặp nhiều Tị Ngọ hỏa, hỏa vượng thiêu đốt kim, thì coi là khắc chứ không coi là sinh.
Hào kim tuy gặp Mộ tại Sửu, nhưng nếu được Mùi thổ xung động, hoặc trong quẻ có nhiều thổ để sinh kim, thì vẫn coi là sinh chứ không coi là Mộ.
Hào thổ tuy Tuyệt ở Tị, nhưng phải hưu tù vô khí, lại gặp Tị, thì mới gọi là Tuyệt. Nếu hào thổ vượng tướng, hoặc được Nhật Nguyệt hào động sinh phù, lại gặp hào Tị, Tị hỏa trái lại có thể sinh thổ, thì luận là sinh chứ không luận Tuyệt.
Hào Tị hỏa tuy Trường Sinh tại Dần, nếu như Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động cùng hào biến đều gặp Thân kim, thì gọi là Tam hình, trường hợp đó phải coi là hình chứ không coi là sinh.
Tân bình thích: Lý luận của Giác Tử cũng xem 12 cung trường sinh là một thước đo tình trạng cát hung của Dụng thần, đây là đem ngũ hành sinh khắc và 12 cung trường sinh nói nhập làm một. Khi mới học lục hào, tôi cũng không phân biệt giữa hai cái này, sau đó từ trong thực tiễn trường kỳ mới hiểu rõ những áo diệu trong đó. Ngũ hành sinh khắc là thuộc về phạm trù lý, mà 12 cung trường sinh thì thuộc về phạm trù tượng, cả hai cách dùng cùng tồn tại ở trong quẻ. Tức là Tị hỏa vừa sinh hào thổ vừa Tuyệt hào thổ, Sửu thổ vừa sinh hào kim vừa Mộ hào kim, ngũ hành sinh khắc và 12 cung trường sinh đều có vai trò riêng của nó, cát hung lấy ngũ hành sinh khắc làm chủ, phân biệt ý nghĩa lấy 12 cung trường sinh để lựa chọn.
Ví dụ: Ngày Đinh Hợi tháng Ngọ, cha xem bệnh con gái, được quẻ Sơn Trạch Tổn biến Sơn Hỏa Bí.


Đoán: Lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần, Tử Tôn Thân kim không hiện trên quẻ, phục dưới hào 3 Huynh Đệ Sửu thổ, Dụng thần phục tàng nhập Mộ, chính là tượng nhập viện nằm giường, trong quẻ hào sơ Phụ Mẫu Tị hỏa lâm Chu Tước ám động khắc Dụng thần Thân kim, Chu Tước chủ khẩu thiệt, nhất định là phát sinh tranh chấp với cha mẹ mà mắc bệnh. Nhưng trong quẻ mộc động sinh hỏa, hỏa động sinh thổ, thổ động sinh kim, hào sơ ám động liên tục tương sinh, có thể nói "thành dã Tiêu Hà bại dã Tiêu Hà", hào sơ chủ bàn chân, Phụ Mẫu lại chủ bôn ba, cô gái này nhất định được cha mẹ hết lòng bôn tẩu tương cứu mà được sống. Tử Tôn Thân kim nhập Mộ ở Sửu, tháng Mùi xung khai khố lại được sinh phù sẽ xuất viện, tháng Thân phục tàng Thân kim xuất hiện mà khỏi bệnh.
Chú thích: Thành dã Tiêu Hà bại dã Tiêu Hà: Thành sự tại Tiêu Hà, bại sự cũng tại Tiêu Hà.
Quả nhiên cô gái này bởi vì có người yêu, cha mẹ phản đối mà uống thuốc độc tự tử, may mà cha mẹ phát hiện kịp thời đưa vào bệnh viện cấp cứu mà giữ được mạng sống, tháng Mùi xuất viện, tháng Thân hồi phục.
Trong ví dụ này Sửu thổ vừa là là Mộ khố, vừa sinh hào kim, Mộ khố là tượng nhập viện, sinh kim là được bệnh viện cứu, cả hai đều có tác dụng của riêng nó. Tị hỏa vừa khắc kim vừa Trường Sinh kim, khắc kim là cha mẹ chửi mắng cô ấy, quở trách cô ấy, Trường Sinh là cha mẹ yêu thương cô ấy, cứu cô ấy, tất cả áo diệu của quẻ nằm ở chỗ đó.
Thổ gửi Trường Sinh tại Thân: quẻ Chấn biến Phong
Bốn hành đã yên chỗ khởi Trường Sinh, riêng hành thổ còn để ngỏ một nghi vấn.
Sách xưa cho rằng, thổ khởi Trường Sinh tại Thân, nhưng cũng có sách cho rằng khởi Trường Sinh tại Dần, khó mà truy nguyên ra được giả thuyết nào là đúng. Ta dùng phép xem thiên thời (thời tiết) để chiêm nghiệm, thường thấy rằng nếu thổ rơi vào hào Phụ Mẫu, có khi mưa vào ngày Thân, có lúc lại mưa vào ngày Tý. Lại thấy nếu thổ rơi vào hào Tử Tôn, có khi tạnh vào ngày Thân, cũng có khi tạnh vào ngày Tý, nên kết luận rằng thổ gặp Trường Sinh tại Thân, Vượng tại Tý. Như vậy mới chứng thực được rằng, thổ gửi Trường Sinh tại Thân là điều không phải nghi ngờ.
Từng vào ngày Ất Mão tháng Ngọ xem bệnh của vợ, được quẻ Chấn biến Phong:


Lấy hào Thê Tài Thìn thổ làm Dụng thần, bệnh gần gặp xung sẽ khỏi, nên đoán rằng vợ sẽ khỏi bệnh vào ngày Thìn, nếu không thì là ngày Dậu. Về sau, vợ hôn mê nhiều ngày, nhưng đến ngày Tý lại tỉnh dậy được. Ta đoán đến ngày Thìn sẽ khỏi, vì đó là ngày trực của Thìn thổ; lại đoán ngày Dậu sẽ khỏi, vì Thìn hợp với Dậu, khiến Thìn thổ động mà gặp được ngày hợp. Nhưng rốt cục lại khỏi vào ngày Tý, là vì hào Tài Thìn thổ gặp Vượng tại Tý.
Lý Ngã Bình bàn rằng: Về thuyết Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt, kim gặp Trường Sinh tại Tị, mộc gặp Trường Sinh tại Hợi, thủy gặp Trường Sinh tại Thân, hỏa gặp Trường Sinh tại Dần. Bốn chỗ Trường Sinh đó là quy tắc chính xác. Chỉ có thổ gửi Trường Sinh tại đâu, là chưa thể khảo cứu được. Sách xưa có viết: hỏa thổ khởi Trường Sinh từ Dần. Sinh ra thổ là bào thai, nên thổ gửi Trường Sinh tại Dần. Các ngũ hành gia đời nay cho rằng Mậu thổ sinh ở Dần, Kỷ thổ sinh ở Dậu. Sách "Dịch mạo" viết: Chỉ có thổ khởi Trường Sinh từ đâu là không thống nhất. Trong Thân có Khôn, nên Thổ sinh ở Thân. Nếu chia làm âm dương, Mậu thổ sinh ở Dần, Kỷ thổ sinh ở Dậu, cũng không có chứng cứ xác thực. Nếu căn cứ vào việc xem thiên thời để khảo chứng, thì thổ gửi Trường Sinh tại Thân là nguyên lý bất di bất dịch từ xưa đến nay.
Tân bình thích: Trong dự đoán lục hào, những ví dụ tôi được nghiệm cũng là thổ Trường Sinh ở thân, như ví dụ trước, Thìn thổ gặp ngày Dậu là Mộc Dục chính là lấy thổ Trường Sinh tại Thân mà luận, ứng nghiệm ở phòng tắm. Sở dĩ người xưa có hai thuyết, là bởi vì Thân đóng ở Khôn thổ, Dần đóng ở Cấn thổ, nên mới xuất hiện hai thuyết Trường Sinh.
Chú thích chung về các thuật ngữ trong đề mục các chương
Lý đã tỏ, còn phải thống nhất tên gọi để lời đoán về sau không lẫn nghĩa.
Các chương sau đây, mỗi chương bàn về một vấn đề riêng rẽ, sử dụng khá nhiều thuật ngữ, e rằng gây rườm rà, nên không viết toàn bộ ra ở đây, mà chỉ chú giải đơn cử về các đề mục. Ví dụ như sau đây có viết Dụng thần nên vượng, tuy không thể vượng trong suốt bốn mùa, nhưng nếu Dụng thần gặp Nhật thần, Nguyệt kiến, hoặc gặp Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động, hào biến sinh phò, hoặc hào Dụng gặp Trường Sinh, gặp Đế Vượng, đều coi là vượng.
Dụng thần hóa cát: Nếu Dụng thần, Nguyên thần động hóa thành hồi đầu sinh, hóa Trường Sinh, hóa Đế Vượng, hóa tỷ trợ (biến thành hào đồng chất để tương trợ), hóa Nhật thần, Nguyệt kiến, đều gọi là hóa cát.
Dụng thần hóa hung: Nếu Dụng thần, Nguyên thần hóa hồi đầu khắc, hóa Tuyệt, hóa Mộ, hóa Không, hóa Phá, hóa Quỷ, hóa Thoái thần, đều gọi là hóa hung.
Tuế quân: Tức Thái Tuế trong năm.
Tuế ngũ: Tuế tức Thái Tuế, ngũ tức hào 5 trong quẻ.
Ngũ vị: Hào thứ năm (hào 5) trong mỗi quẻ là ngôi vị của vua. "Kinh Dịch" gọi đó là "cửu ngũ chi tôn" (hào 5 dương là ngôi vị của vua).
Thân: Tức hào Thế. Phép bói thời cổ có dùng thân quẻ (quái thân), thân Thế (Thế thân), ta thử xem nhiều lần đều không ứng nghiệm. Nên trong phần sau đây, chữ "thân" là để chỉ hào Thế, chứ không chỉ thân quẻ, thân Thế
Tam Mộ: Ba loại Mộ, tức Dụng thần nhập Mộ tại Nhật thần (Nhật Mộ), nhập Mộ tại hào động (động Mộ), động mà hóa Mộ, chứ không phải là Thế Mộ, Thân Mộ, Mệnh Mộ như trong sách cổ.
Chủ tượng (tượng chính): Tức hào chủ sự (Dụng thần). Nếu tự xem cho mình, thì hào Thế là chủ tượng, còn gọi là hào chủ sự; nếu xem cho cha mẹ, anh em, thì hào Phụ Mẫu, hào Huynh Đệ là hào chủ sự. Những trường hợp khác loại suy từ đây.
Lão âm (âm già) mà thành Thiếu dương (dương trẻ), gọi là biến.
Lão dương (dương già) mà thành Thiếu âm (âm trẻ), gọi là hóa.
Sách xưa cho rằng, gặp biến thì sự vật tiêu giảm sẽ lại phát triển, lui rồi lại tiến; gặp hóa thì sự vật thành mà ra bại, tiến mà hóa lùi. Ta thử nhiều lần không thấy ứng nghiệm. Hóa Tiến thần, hóa sinh vượng, tuy hóa vẫn là tốt; biến Quỷ, biến hồi đầu khắc, tuy biến mà vẫn hung. Trong các chương sau đây, biến cũng là chỉ hào hóa, hóa cũng là chỉ hào biến, khái niệm biến và hóa tương đương nhau.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
