Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thiên Phong Cấu: gió đi dưới trời, một hào âm mới nhú và chiếc dây hãm kim khí

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202616 phút đọc1 lượt đọc
Thiên Phong Cấu: gió đi dưới trời, một hào âm mới nhú và chiếc dây hãm kim khí

Con heo gầy trông yếu ớt đến nỗi ai cũng muốn thả lỏng, thế mà lời quẻ lại bảo phải buộc nó bằng dây hãm sắt ngay từ ngày đầu. Cây kỷ che chở cho dây dưa, cái bọc có cá, cặp sừng đụng nhau... mỗi hình ảnh là một cách đối đãi với kẻ mới ló ra.


Cấu là gặp gỡ bất ngờ: dưới trời có gió

Quẻ số bốn mươi bốn là Thiên Phong Cấu, thuộc hàng quẻ xấu, ứng với tháng năm. Cấu nghĩa là gặp, là ngẫu nhiên gặp gỡ. Trên là Càn, là trời; dưới là Tốn, là gió. Gió đi dưới trời, chỗ nào cũng chạm vào vạn vật, nên gọi là Cấu.

Thiên hạ hữu phong, Cấu. Hậu dĩ thí mệnh cáo tứ phương.

Lời Tượng nói dưới trời có gió là quẻ Cấu, nơi nào cũng gặp. Bậc nguyên thủ nhìn đó mà thi hành mệnh lệnh, ban bố cho thông suốt khắp bốn phương.

Người sinh vào tháng năm gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng gái nhỏ đã động thì chẳng đủ lo, chiếc thuyền lui tới sóng dềnh to; từ đầu ngựa chạy không mang lỗi, chỉ sợ lệnh truyền sau chưa khắp.

Một hào âm vừa nhú dưới năm hào dương

Nguyễn Hiến Lê giảng: trời là Càn ở trên, gió là Tốn ở dưới; gió đi dưới trời tất chạm vào vạn vật, nên gọi là Cấu, nghĩa là gặp gỡ. Quẻ này có một hào âm mới sinh ở dưới, thuộc về tháng năm, đụng với năm hào dương ở trên, cũng như một người con gái rất cường tráng gặp, tức là chung chạ với, năm người con trai. Hào ấy lại bất trung bất chính, ở vị dương, giống như kẻ tiểu nhân đang lúc mạnh; đừng thân với nó.

Lời Thoán đưa thêm một nghĩa khác hẳn, tương truyền là của Khổng Tử: một hào âm xuất hiện dưới năm hào dương là lúc âm dương bắt đầu hội ngộ, vạn vật nhờ đó sinh trưởng, các phẩm vật đều rực rỡ tốt tươi. Lại thêm hào năm dương cương, trung chính, nên đạo quân tử được thi hành khắp thiên hạ. Vì vậy ý nghĩa chữ Cấu thật lớn lao.

Phan Bội Châu bàn thêm: phải thêm chữ nghĩa vào mới thấy hết ý nghĩa lớn lao của quẻ Cấu. Cấu là gặp gỡ, quan hệ với việc người rất nhiều. Nhỏ thì vợ chồng gặp nhau, bạn bè gặp nhau, thầy trò gặp nhau; lớn thì thánh hiền hào kiệt gặp nhau, mới làm nên sự nghiệp quốc gia xã hội, chăm lo được hạnh phúc cho dân tộc. Như thế là nghĩa chữ Cấu to lớn lắm, nên mới nói đó là thời của việc nghĩa. Lời Tượng chỉ xét hình tượng quẻ, không để ý đến ý nghĩa gặp gỡ, mà đưa ra lời khuyên người quân tử thi hành mệnh lệnh, báo cáo, hiệu dụ khắp bốn phương như gió thổi tới khắp vạn vật dưới trời.

Ông phụ chú thêm lời thầy Thiệu Khang Tiết: quẻ Phục tiếp theo quẻ Bác, thì biết trị sinh ra từ loạn. Quẻ Cấu tiếp theo quẻ Quải, thì biết loạn sinh ra từ trị. Vì vậy thánh nhân phòng bị từ khi việc chưa thấy. Quẻ Bác là năm âm bác một dương, dương bác chưa hết, đạo quân tử chưa tiêu hết, thì đã sang quẻ Phục, một dương lại sinh, đạo quân tử đã toan lớn lên. Quẻ Quải là năm dương quyết một âm, âm quyết chưa hết, tiểu nhân chưa trừ sạch, vừa liền sang quẻ Cấu thì một âm đã ló ra, tiểu nhân đã nảy ra rồi. Thế mới biết cơ trời vận nước, quan hệ ở chỗ quân tử và tiểu nhân đắp đổi thịnh suy; nhưng quân tử thì khó vun trồng, còn tiểu nhân thì dễ nảy nở.

Hào sơ lục: buộc con heo gầy bằng dây hãm kim khí

Hào âm, hào xấu. Buộc nó vào cái dây hãm bằng kim khí thì đạo chính của quân tử mới được tốt lành; nếu để nó tiến lên, thấy xấu ngay, như con heo gầy yếu mà tin chắc rằng nó sẽ nhảy nhót, tức tiểu nhân mà thả lỏng thì sẽ làm càn.

Hệ vu kim nễ, trinh cát; hữu du vãng, kiến hung; luy thỉ phu trịch trục.

Hà Lạc nói tiểu nhân nên tự giữ mình.

Chớ thấy cái xấu mới còn yếu như con lợn gầy mà coi thường. Muốn chặn nó phải kiên quyết, phải dùng chiếc hãm xe bằng sắt. Về ứng nghiệm, quan chức dễ bị tiểu nhân cản trở; sĩ tử bị gièm pha; nữ mệnh thì ăn chơi, giao tiếp bừa bãi, bị nhiều tai tiếng; người thường có thể có cơ may được lợi.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào âm tiểu nhân mới xuất hiện thì phải chặn ngay, đừng cho nó tiến lên thì đạo chính của người quân tử mới tốt; để nó tiến lên thì xấu. Bây giờ nó tuy còn non yếu, nhưng một ngày kia nó sẽ mạnh, nhảy nhót lung tung, nên đừng coi thường. Đó là cách trừ kẻ tiểu nhân mà cũng là cách trừ những tật mới sinh.

Phan Bội Châu phụ chú: thâm ý của thánh nhân không chỉ kiêng sợ quân tử, tiểu nhân ở hình thức, mà kiêng sợ nhất là quân tử, tiểu nhân ở tinh thần. Quân tử ở tinh thần là gì? Tức là thiên lý, lẽ trời. Tiểu nhân ở tinh thần là gì? Tức là nhân dục. Há phải quốc gia xã hội mới có tiểu nhân, quân tử, mà ngay giữa thân ta cũng có quân tử và tiểu nhân rất đáng sợ. Hễ có một tư tưởng gì đúng với thiên lý là quân tử; hễ có một tư tưởng gì thiên về nhân dục, tức dục vọng thấp hèn của con người trái với thiên lý, ấy là tiểu nhân. Muốn ngăn ngừa tiểu nhân trong thân ta, tất phải hết sức ngăn ngừa nhân dục. Cái hại của nhân dục còn nặng hơn con heo gầy nhảy nhót lung tung, chỉ có loại dây hãm bằng kim khí mới ngăn nổi. Ai đọc kinh văn phải nghĩ đến lời ít mà ý sâu như thế.

Người mệnh hợp cách học cổ, hành đạo, tuy không lập được sự nghiệp nhưng cũng khéo tu thân, bảo vệ nghiệp nhà. Người mệnh không hợp cách thì tài nhỏ sức ngắn, làm liều, gánh họa.

Về vận hạn: quan chức và giới sĩ bị biếm phạt, khó tiến; người thường gặp quý nhân, bạn tín hữu, hoặc được vàng lụa; đàn bà có sinh nở, không thanh khiết; số xấu thì phòng bệnh tật, kiện tụng lo phiền. Câu thơ của hào nói tiểu nhân gặp dịp sắp lớn, phải phòng từ nhỏ chớ nên lo làm quá lên.

Hào cửu nhị: bọc có cá thì không lỗi, nhưng đừng đem tiếp khách

Hào dương, hào tốt. Cái bọc có cá, hào hai là bọc, hào một là cá, thì không lỗi gì, vì hào một là kẻ tiểu nhân không nhảy ra được; nhưng không lợi khi đem ra tiếp khách, vì hào bốn ứng với hào một sẽ giúp tiểu nhân làm bậy. Không nên giao thiệp rộng.

Bao hữu ngư, vô cữu, bất lợi tân.

Hà Lạc nói quân tử gặp tiểu nhân thì giữ cho nó làm điều chính.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này tuy ở sát hào một nhưng có đức dương cương, lại đắc trung, nên chế ngự được hào một, như nhốt nó trong cái bao; hào một ví với con cá vì cá thuộc âm. Như vậy không có tội lỗi. Nhưng hào một chính ứng với hào bốn, hào bốn muốn thân với hào một lắm, mà hào bốn bất trung bất chính, không có đức như hào hai, sẽ bị hào một mê hoặc mất. Cho nên lời hào khuyên hào hai phải ngăn không cho hào một gặp khách, chữ khách trỏ hào bốn. Phan Bội Châu nói ở vào thời Cấu là chú trọng về cách gặp nhau, nên lời giảng mới như trên.

Người mệnh hợp cách có tài lớn, rộng lượng, bao dung mọi vật, sống đời thường với dân. Người mệnh không hợp cách thì thô bỉ, dối trá, không thích hàng xóm thân cận, ích mình hại người, cố chấp.

Về vận hạn: quan chức được thăng trật, được hưởng của vàng bạc; giới sĩ chẳng có mống gia nhân nào; người thường được nhiều vàng lụa, thủy lợi hoặc nô tỳ, phụ nữ có nghén. Câu thơ của hào nhắc rằng nên chăng ta cấy lấy ta, nhiều người dựa ý nhau thì hóa ra lỗi lầm.

Hào cửu tam: mông không da, đi chập chững

Hào dương, hào xấu. Mông đít không da nên đi chập choạng, nguy nhưng không có lỗi to. Hào dương mà không đắc chính, lại không có hào đối ứng, nên như người quân tử không giữ được chính, ngồi đứng không yên. Chỉ thời khó khăn, khó tiến thủ, quan chức bị kỷ luật quở phạt; người thường cần đề phòng tai nạn ốm đau, bệnh xương khớp. Cương mà không gặp được ai cũng nguy.

Đồn vô phu, kỳ hành tư thư, lệ, vô đại cữu.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này quá cương, dương ở vị dương, bất trung. Muốn có bạn là hào một, nhưng hào hai đã là bạn của hào một rồi; nhìn lên trên có hào trên cùng ứng với hào ba, nhưng cũng là dương như hào ba, thành thử cứ ngồi không yên, mà đi thì chập chững, có thể nguy. Tuy nhiên nó đắc chính, dương ở vị dương, nên biết giữ đạo, không mắc lỗi lớn.

Phan Bội Châu giảng: theo lẽ thường âm với dương vẫn ưa nhau, mà cả quẻ chỉ có hào sơ là âm, nên hào nào cũng thích hào sơ; nhưng vì hào hai đã gặp hào sơ rồi. Hào ba dương, tính cương, không chịu ngồi yên, bèn ứng với hào sáu trên, nhưng hào sáu cũng là dương, nên loạng choạng là như thế.

Người mệnh hợp cách muốn có công danh thì không đủ tài, nhưng sống đời hoa lá thì thừa sức, hoặc nhờ tổ nghiệp mà giữ được điền sản. Người mệnh không hợp cách thì cô lập, gian truân, hoặc đau lưng, đau chân; phúc nhỏ.

Về vận hạn: quan chức nên lùi bước, bị biếm phạt; giới sĩ tiến thủ được; người thường dễ bị đòn. Câu thơ của hào nói đi tập tễnh, ở không an, gặp nguy, lỗi nhẹ, làm càn thì tai ương.

Hào cửu tứ: bọc không có cá, bắt đầu sa sút

Hào dương, hào xấu. Cái bọc không có cá, vì hào một đã ở trong bọc của hào hai rồi, bắt đầu xấu, hào bốn cô lập. Cơ nghiệp bắt đầu sa sút, bị truất giáng, thải hồi, về hưu; kiện tụng làm hao tổn sản nghiệp.

Bao vô ngư, khởi hung.

Hà Lạc nói mất dân nên xấu.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ứng với hào một nhưng bị hào hai ngăn không cho gặp; hào một đã như ở trong cái bọc của hào hai rồi, nên cái bọc của hào bốn không có gì cả. Sở dĩ vậy cũng do lỗi của hào bốn bất trung bất chính, làm mất lòng hào một.

Phan Bội Châu nói: hào bốn là người ở vị trên, hào một là người ở vị dưới; người trên không thu phục được người dưới, chẳng phải là quan mất dân, thầy mất trò, chồng mất vợ hay sao. Làm người trên mà để đến nỗi người dưới bỏ mình, e chẳng bao lâu tai nạn phát sinh.

Người mệnh hợp cách quý mà không có địa vị, ở cao mà không có dân; biết thời cơ, cố giữ mình thì đỡ tai hại. Người mệnh không hợp cách cầu danh, muốn có lợi lộc mà mất cơ hội, cô lập, thiếu người giúp việc.

Về vận hạn: quan chức bị về vườn; giới sĩ bị đình giáng; người thường tranh tụng thị phi, người già tổn thọ. Câu thơ của hào nói thân ở dưới là khôn, sự cơ để mất thì ai còn mến thương.

Hào cửu ngũ: lấy cây kỷ che dưa, ngậm giữ nét đẹp như có trời ban

Hào dương, hào tốt. Lấy cây kỷ che chùm cho cây dưa, tức hào năm che cho hào một, ngậm chứa vẻ tốt đẹp, như có trời sa xuống. Người có tài đức lớn, phúc lộc cao dày; mệnh phú quý, đầm ấm; người già thì giảm thọ.

Dĩ kỷ bao qua, hàm chương, hữu vẫn tự thiên.

Hà Lạc nói lấy dương khắc chế âm chính là đạo trời.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở địa vị tối cao, dương cương, trung chính, có đức tốt mà không khoe khoang, ngậm chứa đức tốt, bao bọc cho kẻ tiểu nhân ở dưới là hào một, như cây kỷ cao cành lá xum xuê che cây dưa thuộc loài âm. Như vậy là hợp đạo trời, sẽ được trời ban phúc cho.

Phan Bội Châu phụ chú: quẻ này nguyên là quẻ Càn, vì hào sơ dương biến động mà hóa ra hào âm, thành quẻ Cấu. Bản thân hào sơ trước ở quẻ Càn vốn là rồng ẩn, nay sang quẻ Cấu thành con heo gầy. Một người vì hoàn cảnh thay đổi mà thiện hay ác nhiều khi như thế. Chúng ta lo cải thiện nhân cách mà không lo cải thiện hoàn cảnh xấu, thì thế đạo làm sao khỏi có tiểu nhân. May thay ở thời Cấu này còn có năm dương, cương, trung chính, nguyên trước ở vị thế rồng của quẻ Càn. Bốn hào dương nhờ hào năm dìu dắt, một hào sơ âm bị hào năm chế ngự, mà cơ họa chuyển thành phúc, xem ra trời phải chiều người, như từ trời ban xuống.

Người mệnh hợp cách khoan hồng, đại lượng, dung nạp được đám đông trong cuộc sống, hưởng phú quý. Người mệnh không hợp cách cũng có học vấn, có độ lượng, tuy không vinh hiển nhưng giàu có.

Về vận hạn: quan chức có tài lượng đóng góp quốc gia; giới sĩ được người tôn quý dắt dẫn và thu hoạch bất ngờ; đàn bà có sinh nở; người già giảm thọ. Câu thơ của hào ý nói trung chính ngồi cao thì dễ làm nên việc, đất sinh cây kỷ vào buổi đương thì, giữ chính thì rồi sẽ gặp được nhau, và ơn trời lại càng phát huy.

Hào thượng cửu: chạm nhau bằng cặp sừng, đáng tiếc mà không trách ai được

Hào dương, hào bình, không tốt không xấu. Chỉ thời vận quá cương: quan chức duy lý cứng nhắc, ít tình, chỉ có cơ thăng tiến nhưng không được lòng người. Kinh doanh khó hợp tác, khó phát triển; người thường cô độc, khó hợp tác. Chỉ gặp cái sừng của mình, vì hào sáu cương mà ở trên cùng, xấu thẹn, không trách lỗi ai được, vì tự mình cô lập.

Cấu kỳ giác, lận, vô cữu.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở trên cùng, thời Cấu là gặp gỡ, nên ví với cặp sừng. Gặp nhau bằng cặp sừng, tức đụng nhau bằng sừng, có ý nói quá cương, đáng hối tiếc. Mọi bản đều dịch chữ vô cữu là không có lỗi mà không giảng tại sao quá cương mà không có lỗi.

Phan Bội Châu giảng: không đổ lỗi cho ai được. Quẻ Cấu khuyên ta phải chế ngự tiểu nhân và tật của ta từ khi nó mới xuất hiện, tức hào một. Muốn chế ngự tiểu nhân thì nên có độ lượng bao dung, có đức trung chính như hào hai, hào năm; nếu quá cương như hào ba, bất trung bất chính như hào bốn thì tiểu nhân sẽ không phục mình.

Ông phụ chú thêm: theo lý Dịch, âm dương vốn tương đối, dương chẳng phải tuyệt đối tốt, âm chẳng phải tuyệt đối xấu, chỉ khác nhau ở thời và vị, trung hay bất trung, chính hay bất chính mà tốt xấu khác nhau. Hào sơ quẻ này là một âm gặp cả năm dương, chẳng khác nào một gái gánh nhiều trai, một tớ theo nhiều chủ, tiểu nhân ở cực điểm. Nên đánh giá năm dương tốt xấu căn cứ vào thái độ đối với hào sơ âm. Ai hạn chế được hào sơ thì tốt. Nhưng trong phép hạn chế hào sơ, thì phải có lượng bao dung, có đức trung chính, nên lời hào năm dương, hào hai dương đều dùng chữ bao.

Vì hai hào ấy có đức cương, trung, nên hào sơ không dám khinh nhờn oán hận gì. Bao có cá thuộc về hào hai dương; bao che cây dưa thuộc về hào năm dương. Kiềm chế tiểu nhân mà khôn khéo như thế thì còn sợ gì tiểu nhân. Còn hào ba dương vì quá cương, bất trung, hào bốn dương bất trung bất chính nên tiểu nhân bất phục. Tiểu nhân bất phục thì không thể tốt lành, nên hào ba mới loạng choạng như mông không da ở chỗ để ngồi, hào bốn thì bọc không có cá. Vậy mới biết trong đời không thể không có tiểu nhân, nhưng phải biết thủ đoạn kiềm chế tiểu nhân, thì tuy có đụng gặp tiểu nhân cũng không hại gì.

Có một nghĩa cần chú ý: chế trị tiểu nhân phải đề phòng từ lúc mới manh nha, nên toàn quẻ Cấu chỉ có một chữ tốt mà chữ tốt đó lại phải ở dưới dây hãm bằng kim khí; ý thánh nhân sâu xa biết dường nào. Nếu thời hào sơ mà không biết hạn chế, chờ đến lúc cuối cùng mới toan lo đối phó, thì chỉ như hào sáu trên cùng, sừng gặp sừng, xấu thẹn mà thôi. Cho nên ở hào sơ quẻ Khôn đã báo rằng đi trên sương mỏng phải phòng lúc băng giá; ở hào sơ quẻ Cấu thì vội bảo chặn bằng dây kim khí. Thời tuy khác nhau nhưng ý thận trọng ban đầu, phòng bị về sau, giống hệt như nhau.

Người mệnh hợp cách danh cao, tiếng sạch, xuất chúng, bao bọc đời, nói năng ngay thẳng nhưng bị xuyên tạc, điều tiếng nhiều, nên lộc vị chẳng ổn. Người mệnh không hợp cách thì chí khí cứng nhắc, không thuận tình người, kết thù mua oán, luôn vất vả.

Về vận hạn: quan chức ngôi cao, đứng đầu, phòng bị chê trách; giới sĩ tiến thủ, lên cao; người thường không kẻ giúp, kinh doanh khó. Câu thơ của hào nói chí mưu chẳng gặp thì buồn tênh, có đi mà hẹn thì chênh vênh lỡ làng.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc