Bài tổng quan
Bệnh Tật Trong Lục Hào: Dụng Thần Định Sống Chết, Lục Xung Định Lành Dữ
Một cụ ông tuổi bát tuần xem bệnh, được quẻ Vị Tế biến Khuê. Người thân tên Bành Sinh thấy hào Thế lâm Nhật thần, đương quyền đắc lệnh, lại được Dần mộc tương sinh, liền hết lời khen quẻ đẹp, quả quyết không cần thuốc thang cũng khỏi. Dã Hạc lão nhân chỉ trầm ngâm, rồi buông một câu: qua được ngày Nhâm Tuất thì không còn gì đáng lo. Cụ ông mất đúng giờ Dần ngày Nhâm Tuất. Trăm bệnh sinh từ thất tình, mà các sách bốc dịch lại sai sót quá nhiều, kẻ thì xem thân quẻ, kẻ thì đoán chết theo tên quẻ. Tăng San Bốc Dịch gạt hết, chỉ giữ lại một chỗ dựa duy nhất. Vì sao quẻ vượng đến thế mà mạng người vẫn không giữ nổi?
Mục lục · 5 phần
Bệnh Tật: Sống Chết Hoàn Toàn Trông Vào Dụng Thần
Dã Hạc bàn rằng: Con người ta có thất tình, khiến sinh ra trăm bệnh, nên gieo quẻ suy đoán, để vơi bớt nỗi lo lắng trong tâm. Nhưng khổ nỗi các sách bốc dịch sai sót quá nhiều, khiến người ta không biết đằng nào mà đoán. Đã chọn Dụng thần, lại xem thân quẻ, thân Thế, kiêm dùng bản mệnh; lại có sách không xem thân mệnh, Dụng thần, mà chỉ xem tượng quẻ, nếu được các quẻ Minh Di, Quan, Bí, Cổ, Quải, Phong, Đồng Nhân, Đại Súc, Nhu, thì đoán là chắc chắn sẽ chết.
Lại có sách nói rằng: "Tử khí Tang môn đến bản mệnh, mau chuẩn bị quan tài"; lại có chỗ viết: "Đằng Xà động chủ chết chóc, Bạch Hổ động chủ có tang", dùng tinh sát, Lục thần để đoán chuyện sống chết, vậy nếu như hung thần ác sát lâm thân, chiếu mệnh, nhưng lại được Dụng thần, hai thân vượng tướng, thì nên đoán là sống hay chết?
Ta chiêm nghiệm nhiều năm, thấy rằng sống hay chết đều hoàn toàn trông vào Dụng thần, những thứ khác đều không ứng nghiệm. Còn trường hợp không cần xem Dụng thần mà đoán được sống chết, chỉ có quẻ biến và quẻ Lục xung mà thôi.
Tân bình thích: Phán đoán cát hung cũng phải xem bệnh nhân bị bệnh thế nào, bệnh nặng Dụng thần bị khắc là hung, nếu là bệnh không nguy hiểm đến tính mạng, Dụng thần hưu tù bị khắc, thì chỉ là bệnh khó khỏi mà thôi, không thể suy ra là hung.
Lục xung biến xung, cửu bệnh nan ư điều trị.
Lục xung biến xung, bệnh lâu khó mà điều trị.
Nếu xem về bệnh lâu ngày mà gặp quẻ Lục xung, hoặc quẻ biến là Lục xung, thì bất kể Dụng thần suy hay vượng, đều chủ về bệnh không chữa được. Nếu xem về bệnh gần, thì không cần thuốc thang cũng khỏi.
Quái biến tuyệt khắc, tân bệnh diệc chủ nguy vong.
Quẻ biến tuyệt khắc, bệnh mới cũng gặp hiểm nguy.
Cũng là quẻ Lục xung biến Lục xung, nhưng biến hồi đầu khắc, thì bệnh gần cũng nguy hiểm. Ví dụ Tốn mộc biến Càn kim, Cấn Khôn thổ biến Chấn Tốn mộc, đều là biến hồi đầu khắc. Tuy không gặp Mộ Tuyệt, cũng chủ về nguy hiểm đến tính mạng. Nếu biến tỷ hòa, quẻ gốc khắc quẻ biến (khắc khứ), hóa hồi đầu sinh, xem về bệnh gần sẽ tốt lành, nhưng xem về bệnh lâu lại là điềm hung, vì là quẻ Lục xung.
Ngoài những trường hợp trên, còn lại đều phải xem Dụng thần.
Dụng ngộ Tuần Không, cận bệnh hà tu ưu lự, Dụng phùng Nguyệt phá, cửu bệnh nan hứa an ninh.
Dụng gặp Tuần Không, bệnh gần không cần lo lắng; Dụng gặp Nguyệt phá, bệnh lâu khó được bình yên.
Tự xem về bệnh của mình, lấy hào Thế làm Dụng thần. Nếu xem về bệnh của cha mẹ anh em, thì căn cứ vào phép chọn Dụng thần mà định. Nếu Dụng thần động, tĩnh mà gặp Tuần Không, hoặc hóa Không, nếu không bị Nhật, Nguyệt, hào động xung khắc, thì đến ngày xung Không, thực Không sẽ khỏi bệnh. Nếu bị xung khắc, tuy bệnh nặng cũng không đến nỗi chết. Nếu gặp Nguyệt phá, cần phải xem Dụng thần vượng hay suy. Nếu vượng, sẽ khỏi bệnh vào ngày thực Phá hoặc ra khỏi tháng. Nếu suy, lại bị khắc, ắt nguy đến tính mạng.
Nếu xem về bệnh lâu ngày mà Dụng thần gặp Tuần Không, Nguyệt phá, thì cho dù Dụng thần vượng tướng, bệnh cũng không thể chữa khỏi.
Dã Hạc bàn rằng: "Hải để nhãn”, "Hoàng kim sách" đều viết rằng, Dụng thần Không, bệnh không chữa được, mà không phân biệt bệnh gần hay bệnh lâu, nên không phải là đúc rút từ kinh nghiệm.
Giác Tử bàn rằng: Theo chiêm nghiệm của ta, xem về bệnh gần mà Dụng thần gặp Tuần Không, nếu lại gặp Tam hợp, Lục hợp, ắt sẽ thành bệnh lâu ngày mà chết.
Dụng hóa Quỷ, Quỷ hóa Dụng, thận phòng bất trắc; Kỵ hóa Dụng, Dụng hóa Kỵ, tối nan điều y.
Dụng hóa Quỷ, Quỷ hóa Dụng thần, phòng bất trắc; Kỵ hóa Dụng, Dụng hóa Ky thần, rất nguy nan.
Nếu tự xem về bệnh của mình, kỵ gặp hào Thế biến Quỷ, hoặc hóa hồi đầu khắc. Nếu xem cho anh em, vợ con, cũng không nên gặp Quỷ biến Huynh Đệ, Thê Tài, hoặc Huynh Đệ, Thê Tài biến Quỷ. Cũng kỵ gặp Huynh biến Tài, Tài biến Huynh, hoặc Phụ hóa Tử, Tử hóa Phụ.
Dã Hạc bàn rằng: Quan Quỷ là Nguyên thần của Phụ Mẫu, Phụ động hóa Quỷ, tức là hóa sinh, nếu là bệnh nhẹ sẽ khỏi. Nếu bệnh lâu ngày, gặp Quỷ hóa Phụ, Phụ hóa Quỷ, đều chủ về mất mạng. Có người hỏi rằng: "Dụng thần hóa Quỷ, là điềm hung. Giả sử lại gặp Tuần Không, thì bệnh gần biết đoán ra sao?" Ta bèn đáp: Đã có quẻ chiêm nghiệm để lại, hãy xem cho kỹ.
Ví dụ: Ngày Canh Dần tháng Thân, xem về bệnh gần của con, được quẻ Hằng biến Giải:


Đoán rằng: Quỷ biến Tử Tôn, nên là điềm chết yểu. May nhờ hào Tử Tôn gặp Tuần Không, nên bệnh gần sẽ khỏi, chỉ e rằng khó qua khỏi năm Ngọ. Quả nhiên đến ngày xuất Không thì khỏi bệnh. Năm Thìn xem, sau đến năm Ngọ, xuất Không mà chết.
Dụng Thần Gặp Mộ Tuyệt, Tán Phá Và Lúc Kỵ Thần Nổi Dậy
Chỗ hiểm của bệnh nằm ở lúc Dụng thần mất sạch chỗ nương tựa.
Động Mộ Tuyệt, hóa Mộ Tuyệt, tu bằng sinh vượng; Nhật Nguyệt khắc, động hào khắc, tối phạ hưu tù.
Động Mộ Tuyệt, hóa Mộ Tuyệt, cần nhờ sinh vượng; Nhật nguyệt khắc, hào động khắc, sợ nhất hưu tù.
Nếu Dụng thần gặp Mộ, Tuyệt, hoặc động hóa Mộ hóa Tuyệt, cần phải xem Dụng thần có được sinh vượng hay không. Nếu Dụng thần vượng thì không đáng lo; nếu Dụng thần suy thì bệnh tình nguy hiểm. Nếu Dụng thần bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động khắc, cũng phải xem Dụng thần vượng hay suy. Nếu vượng, đợi đến ngày xung mất khắc thần sẽ khỏi. Nếu suy, đến ngày sinh trợ khắc thần sẽ gặp nguy hiểm.
Tán Phá vô viện thoát khí, Kỵ dao Nguyên động cừu hưng.
Dụng thần gặp Tán, gặp Phá, hoặc hoàn toàn không được sinh trợ, hoặc thoát khí, bốn trường hợp đó đều là Dụng thần vô căn, là tượng lành ít dữ nhiều.
Kỵ thần động khắc Dụng thần, nếu Nguyên thần phát động, bệnh sẽ được cứu. Nếu không, sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Xem thêm trong chương "Nguyên thần".
Thế trì Quỷ, bệnh tuy khinh nhi nan liệu.
Thế tại hào Quỷ, bệnh tuy nhẹ mà khó chữa.
Câu này có hai cách giải thích. Nếu là tự xem về bệnh của mình, gặp Quan Quỷ trì Thế, thì bệnh sẽ khó chữa khỏi. Dẫu được hào Tử Tôn động khắc đi Quỷ bên mình, trước mắt bệnh có đỡ, nhưng vẫn không thể chữa tận gốc. Nếu không, thì cũng sinh bệnh khác. Nên đây là tượng bệnh tật triền miên, uống thuốc thay cơm. Nếu hào Thế lâm Quan Quỷ, lại gặp Đế Vượng, Trường Sinh, chủ về tàn tật vĩnh viễn.
Còn nếu xem thay cho bệnh tật của người thân, mà gặp Quan Quỷ trì Thế, cũng là điềm lo lắng. Nhưng nếu gặp Tử Tôn phát động, khắc đi Quỷ bên mình, cho dù Dụng thần suy nhược, vẫn được bình yên.
Ví dụ: Ngày Nhâm Tý tháng Thân, xem về bệnh của con, được quẻ Độn:

Đoán rằng: Con trai anh hôm nay sẽ đỡ, bởi vì Quan Quỷ trì Thế, chủ về bản thân đang lo lắng. Nhưng đến giờ Tý trong ngày, sẽ khắc đi nỗi phiền muộn, nên đoán là sẽ khỏi. Quả nhiên đứa bé khỏi bệnh trong ngày.
Giác Tử bàn rằng: Nếu tự xem cho bản thân, hoặc xem cho anh em, vợ con, thì phương pháp này là đúng. Nhưng nếu như xem về bệnh của cha mẹ, thì Quan Quỷ là Nguyên thần của hào Phụ Mẫu, lại không nên động mà tổn thương. Nếu vợ xem về bệnh của chồng, lấy hào Quan Quỷ làm Dụng thần, cũng không nên có hào Tử động mà tổn thương Quan. Như vậy, không những không hết lo phiền, mà lại càng thêm nguy hiểm.
Thân lâm Phúc đức, thế tuy hiểm dĩ kham y.
Thế lâm Phúc đức, bệnh hiểm nghèo cũng chữa lành.
Cũng có hai cách giải thích. Nếu tự xem về bệnh của mình, gặp Tử Tôn trì Thế, thì không cần thuốc cũng khỏi bệnh. Nếu gặp Không, Phá, đợi đến ngày thực Không, thực Phá, sẽ khỏi bệnh.
Nếu xem hộ cho bệnh tình của người thân, không cần xem hào Dụng suy hay vượng, cũng biết là sẽ được bình an. Bởi vì Tử Tôn là thần hoan hỷ, chỉ cần Tử Tôn vượng tướng, như phát động trong quẻ, cũng sẽ được yên lành.
Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Dần, xem về bệnh của vợ, được quẻ Truân biến Tiết:


Đoán rằng: "Vợ anh đến ngày Mùi sẽ khỏi bệnh." Người xem bèn hỏi: "Hào Thê Tài không hiện trong quẻ, làm sao lại khỏi bệnh được?" Ta đáp: "Hào Tử Tôn hóa Tử Tôn, là thần tốt lành. Nhưng hiềm vì quá vượng, nên đợi đến ngày Mùi là ngày mộc nhập Mộ, sẽ được tin mừng, tức vợ khỏi bệnh." Sau quả đến ngày Ngọ thuyên giảm, ngày Mùi khỏi bệnh.
Giác Tử bàn rằng: Xem về bệnh của cha mẹ, nếu hào Tử Tôn trì Thế mà phát động, sẽ khắc mất Nguyên thần của Phụ Mẫu. Vợ xem cho chồng, Tử Tôn động sẽ tổn thương đến Quan Quỷ, nên đều không phải là thần tốt lành. Bởi vậy, xem quẻ cần phải thông biến.
Tân bình thích: Ở đây đem tượng lý nói nhập làm một, cần phải xem hỷ kỵ của Dụng thần và ý nghĩ của người được cử đến ra sao. Như đoán bệnh cho chồng, Tử Tôn tuy là y dược, nhưng nếu Quan Quỷ vô khí, Tử Tôn trì Thế hoặc phát động thì trái lại là hung.
Quỷ Hóa Trường Sinh, Phúc Thần Hóa Khắc: Bệnh Nặng Thêm Hay Tái Phát
Có những quẻ tưởng đã yên rồi mà bệnh lại trở mình.
Quỷ hóa Trường Sinh, kỵ hóa Tiến, tu lự thiêm tai.
Quỷ hóa Trường Sinh, kỵ hóa Tiến thần, đề phòng thêm nặng.
Nếu hào Quỷ phát động, chủ về bệnh tình trầm trọng. Nếu Quỷ gặp Trường Sinh tại Nhật thần, hoặc động hóa Trường Sinh, bệnh tình sẽ càng thêm nặng. Nếu hào Quỷ khắc Dụng thần, sẽ trở thành Kỵ thần. Nếu Quỷ động hóa Tiến thần, cũng chủ về bệnh thêm nặng. Nếu Kỵ thần hóa Thoái thần, bệnh tình sẽ thuyên giảm.
Giác Tử bàn rằng: Quan Quỷ là Nguyên thần của Phụ Mẫu, nếu là xem về bệnh của cha mẹ, gặp trường hợp trên, bệnh sẽ khỏi. Vợ xem cho chồng, Quan Quỷ là Dụng thần, nên cũng chủ về khỏi bệnh.
Phúc dao hóa Khắc quái phản ngâm, bệnh tất phản phục.
Tử động hóa Khắc gặp quẻ phản ngâm, bệnh thường tái phát.
Nếu tự xem về bệnh của mình, hoặc xem về bệnh của anh em, được hào Tử Tôn phát động, khắc chế Quan Quỷ, bệnh tình sẽ thuyên giảm. Nếu Tử Tôn động mà hóa Khắc, cho dù khỏi bệnh, rồi cũng sẽ tái phát, nên đây là tượng tráo trở. Nếu gặp quẻ Phản ngâm, cũng tương tự như vậy.
Dụng tuyệt phùng sinh, nguy nhi hữu cứu. Chủ suy đắc trợ, trọng diệc hà phương?
Dụng tuyệt gặp sinh, nguy cũng được cứu. Dụng suy được giúp, nặng cũng hề gì.
Dụng thần bị hình xung khắc chế, nhưng nếu được một hào sinh phù, sẽ được cứu thoát khỏi nguy hiểm.
Dụng thần không nên quá suy nhược, Dụng thần suy nhược tượng trưng cho thể trạng hư nhược, rất khó lành bệnh. Nhưng nếu như được sinh phù củng hợp, tuy mắc bệnh nặng, cũng không đến nỗi phải chết.
Giác Tử bàn rằng: Dụng thần cũng không nên quá vượng. Dịch lý coi trọng trạng thái trung dung, cân bằng. Thái quá và bất cập đều không tốt.
Ví dụ: Vào ngày Mậu Ngọ (ngày 14) tháng Tị, tự xem về bệnh của mình, được quẻ Vị Tế biến Khuê:


Người xem tuổi đã bát tuần, nay xem được quẻ này, ta không dám nói. Người thân của ông ta là Bành Sinh thấy quẻ thì hết lời khen ngợi, Thế lâm Nhật thần, đương quyền đắc lệnh, lại được hào động Dần mộc tương sinh, ắt không cần thuốc thang cũng khỏi bệnh. Mọi người thấy ta trầm ngâm, bèn gặng hỏi, ta đáp rằng: "Nếu qua được ngày Nhâm Tuất (ngày 18) thì không còn gì đáng lo." Sau quả nhiên mất vào giờ Dần ngày Nhâm Tuất. Bành Sinh bèn hỏi ta rằng: "Quẻ vượng như vậy, tại sao lại đoán là mất vào ngày Tuất?" Ta đáp: "Chính vì vượng quá cũng là không nên. Đầy thì tràn, đó chính là nguyên lý. Người già đã suy cực, mà được quẻ toàn thịnh, thì khác gì ráng chiều khi mặt trời sắp lặn, ánh đèn lóe lên lần cuối trước khi tắt, liệu có lâu dài được chăng?" Đoán gặp nguy hiểm vào ngày Mậu Tuất, vì là ngày hỏa vượng nhập Mộ. Mất vào giờ Dần, vì gặp Tam hợp cục.
Dụng Thần Không Hiện Trong Quẻ: Tìm Phục Thần Hay Xem Lại
Khó nhất là khi cái hào cần tìm lại chẳng chịu lộ mặt.
Dụng lâm Nhật Nguyệt hưu tầm phục.
Dụng lâm Nhật Nguyệt không cần tìm Phục thần.
Nếu trong quẻ không có Dụng thần, mà được Nhật thần, Nguyệt kiến làm Dụng thần, thì không cần phải tìm Phục thần, cũng đoán là bệnh sẽ khỏi.
Phục thần suy nhược tái nghi chiêm.
Phục thần suy nhược cần xem lại.
Nếu Dụng thần không hiện trong quẻ, đều cần phải xem lại. Phép Phi thần Phục thần đã trình bày rất tường tận, cần nghiên cứu kỹ.
Giác Tử bàn rằng: Dã Hạc và ta chiêm nghiệm rất nhiều, không thể kể hết, nên tạm để lại vài quẻ, để làm khuôn phép cho người học đời sau.
Những Quẻ Dã Hạc Lão Nhân Để Lại Làm Khuôn Phép Cho Đời Sau
Lý lẽ bàn đã kỹ, chỉ còn cách đem từng quẻ thật ra mà đối chiếu.
Ví dụ: Ngày Quý Hợi tháng Thân, xem cho bệnh của bạn, được quẻ Vị Tế:

Lấy hào Ứng làm Dụng thần, bị Nguyệt kiến Thân tương hình, bị Nhật thần Hợi tương xung, nên biết rằng sẽ bất lợi vào tháng Hợi. Ta không dám đoán ngay, mà bảo người thân của bệnh nhân đến xem. Cùng trong ngày, con xem về bệnh của cha, được quẻ Quải:

Trong quẻ trước, hào Ứng lâm Tị hỏa, bị Nguyệt hình Nhật khắc. Trong quẻ này, vẫn là Phụ Mẫu lâm Tị hỏa, lại phục dưới hào Dần mộc, Dần mộc gặp Nguyệt phá không sinh được hỏa vô căn, nên đoán là đến tháng 10 sẽ nguy hiểm. Sau quả nhiên mất vào tháng 10, do tháng Hợi thủy xung phá Tị hỏa vô căn.
Ví dụ: Ngày Bính Tý tháng Thân, tự xem về bệnh của mình, xem thuốc đang dùng có trị được bệnh không, được quẻ Thăng biến Tiệm:


Đoán rằng: Hào Tị hỏa, Ngọ hỏa là Tử Tôn, đều là hào biến, hào biến không thể tương sinh hào Thế trong quẻ chính, nên bệnh tình không còn thuốc chữa. Huống chi quẻ ngoại lại phản ngâm, chủ về bệnh tái phát nhiều lần.
Lại bảo người nhà xem lại. Cùng ngày, con xem về bệnh của cha, được quẻ Ích biến Tiệm:


Tại quẻ trước, Nhật thần hợp Thế. Tại quẻ này, Phụ lâm Nhật thần, nên trước mắt không có gì đáng ngại. Nhưng hiềm vì trong quẻ thổ động tổn thương thủy, lại là quẻ Phong Lôi Ích, Chấn là quan, Tốn là quách, quan quách đã đủ, chỉ là chưa xác định được vào ngày tháng nào. Nên bảo người nhà xem thêm quẻ nữa.
Cũng trong ngày, con gái xem về bệnh của cha, được quẻ Đại Tráng:

Đoán rằng: Cần đề phòng mùa đông. Quẻ đầu tiên xem về thuốc, thì hào Tử Tôn Tị, Ngọ tượng trưng cho thuốc, đến mùa đông thủy vượng, thì không thuốc nào trị được. Quẻ thứ hai, Phụ Mẫu Tý thủy hóa Thìn thổ hồi đầu khắc, nên gặp tháng Tý, sẽ không cứu được. Quẻ sau cùng Phụ Mẫu Ngọ hỏa bị tháng Tý xung khắc. Sau quả nhiên mất vào tháng Tý mùa đông.
Ví dụ: Ngày Tân Mão tháng Sửu, xem về con bị bệnh đậu mùa, được quẻ Đại Tráng biến Càn:


Đoán rằng: Đây là quẻ Lục xung biến Lục xung, là điềm hoa chưa nở đã tàn. Lại là quẻ Phục ngâm, đều không phải là điềm tốt. Tử Tôn tuy được sinh phù, nhưng cũng khó bảo toàn được sự cát lợi. Bèn bảo người này xem lại, được quẻ Cấn biến Thăng:


Hào Phụ Ngọ hỏa phát động khắc Tử Tôn, tuy được chế phục, nhưng hiềm vì Quỷ động khắc Tử Tôn, nên cần phải đề phòng ngày Dần. Sau quả nhiên chết vào ngày Dần. Sở dĩ ứng vào ngày Dần, vì hào Phụ Ngọ hỏa gặp Trường Sinh tại Dần. Lại ứng với quẻ trước Tử Tôn Thân kim hóa Phục ngâm, đến ngày Dần sẽ xung Thân.
Lại vào ngày Canh Thìn tháng Tuất, xem về bệnh gần của cha, được quẻ Ly:

Ta đoán rằng: Bệnh gần gặp xung sẽ khỏi. Người xem bèn hỏi: "Bao giờ sẽ khỏi?" Ta bảo anh ta xem tiếp, được quẻ Đại Quá biến Khốn:


Đoán rằng: Đến ngày Ất Dậu bệnh sẽ thuyên giảm. Hào Quan Dậu kim gặp Tuần Không, đến ngày xuất Không sẽ sinh Hợi thủy. Quả nhiên đến ngày Giáp Thân thì ngồi dậy được, đến ngày Ất Dậu thì khỏi hẳn.
Dã Hạc bàn rằng: Những quẻ trên đây, đều dạy người ta nên xem nhiều lần, dùng nhiều quẻ hợp lại để đoán sẽ rõ ràng, ngày tháng cát hung cũng sẽ hiện rõ.
Ví dụ: Ngày Bính Tuất tháng Sửu, tự xem về bệnh gần, được quẻ Tỷ biến Cách:


Hào Quan Quỷ trì Thế, Thân kim phát động, khắc mất Quỷ bên mình, lại thêm Thế hóa Hợi thủy hồi đầu sinh, nên lẽ ra là khỏi bệnh. Nhưng hiềm vì hào Thế theo Quỷ nhập Mộ Không, lại gặp Tam hợp, nên e rằng thành bệnh lâu dài.
Bèn bảo người nhà xem lại. Cùng ngày, vợ xem cho chồng, được quẻ Trung Phu biến Đoài:


Hào Quan Mão mộc là Dụng thần, hóa Mùi thổ Không Vong, bệnh gần gặp Không sẽ khỏi. Nhưng hiềm vì cả hai quẻ đều gặp Tam hợp, e rằng sẽ thành bệnh lâu dài mà chết. Người xem bèn hỏi: "Cần đề phòng thời điểm nào?" Ta đáp: "Mùi nhập Mộ, gặp Tuần Không, lại gặp Nguyệt phá, nếu là xem về đề phòng lo âu, thì phá là tượng lưới rách dễ thoát. Nhưng nay xem về bệnh tật, gặp Tam hợp là khó khỏi. Tháng Mùi năm sau có lẽ chính là thời điểm điền thực huyệt mộ." Sau quả nhiên chết vào tháng Mùi năm sau.
Để lại quẻ này làm quy tắc cho người học đời sau, để biết rằng xem về bệnh gần, gặp Không, hóa Không sẽ khỏi; nhưng nếu gặp Tam hợp, sẽ biến thành bệnh lâu dài mà chết.
Ví dụ: Ngày Ất Dậu tháng Dần, xem về bệnh lâu ngày của cháu ngoại, được quẻ Khôn biến Càn:


Bệnh lâu ngày gặp xung sẽ chết, huống nữa lại là quẻ Lục xung biến Lục xung, đến tháng ba ắt sẽ nguy hiểm. Sau quả nhiên chết vào tháng ba. Sở dĩ ứng vào tháng ba, là vì hào Tử Tôn Dậu kim là Dụng thần, động mà gặp tháng hợp sẽ ứng nghiệm. Tháng ba là Mão mộc sẽ xung mất Tuất thổ, khiến Dậu kim không còn được sinh.
Nên để lại quẻ này làm quy tắc: Bệnh lâu ngày gặp xung, tuy Dụng thần lâm Nguyệt kiến, lại được hào động Tuất thổ tương sinh, nhưng cũng không sống nổi.
Ví dụ: Ngày Bính Dần tháng Tý, tự xem về bệnh dịch của bản thân, được quẻ Tiết biến Trung Phu:


Đoán rằng: Tý thủy khắc Thế, Nguyệt kiến cũng khắc Thế, nên là điềm đại hung. May nhờ được Nhật thần Dậu tương sinh, nên nếu về phương nam tránh dịch, lại nằm ngủ ở giường phía nam, khiến cho hỏa vượng mà thủy khô, vẫn có thể được vô sự. Người này bèn y theo lời, đến ngày Hợi bệnh tình nguy cấp, gặp được thầy thuốc giỏi, đến ngày Dần thì khỏi bệnh. Lúc này dịch bệnh hoành hành, nhà nhà đều có người mắc dịch. Cùng ngày, cũng có người đến xem, gieo được quẻ này, ta cũng khuyên anh ta cách thức tương tự. Nhưng vì người này bệnh nặng, lại nghe lời người khác nói rằng người bệnh không thể chuyển giường, nên không theo lời ta, sau chết vào ngày Hợi.
Dã Hạc nói rằng: Để lại quẻ này làm chuẩn tắc, cho người đời sau biết được cách rước lành tránh dữ.
Ví dụ: Ngày Ất Mùi tháng Sửu, xem con trai đang phát sốt, liệu có phải mắc đậu mùa không, được quẻ Đoài:

Ta nói: Phép xưa cho rằng Quan Quỷ vượng tức là nổi đậu mùa, nhưng ta thử nhiều lần không thấy ứng nghiệm, nên chỉ là ước đoán mà thôi. Chỉ cần xem hào Tử Tôn vượng hay suy, nếu vượng, có gặp đậu mùa cũng không đáng ngại. Quẻ này Nhật, Nguyệt và hào Thế đều khắc Tử Tôn, lại là quẻ Lục xung, là tượng hoa chưa nở đã tàn, rất xấu. Đợi đến hôm sau hãy thành tâm xem thêm một quẻ.
Hôm sau ngày Bính Thân xem lại, được quẻ Đại Quá biến Hoán:


Đoán rằng: Hào Phụ phát động, tuy gặp chế phục, nhưng lại hiềm vì hào Quỷ biến Tử Tôn, nên cần phải mời thầy giỏi về chữa trị. Người xem bèn hỏi: "Mời thầy ở đâu là tốt nhất?" Ta đáp: "Phép xưa lấy hào Tử Tôn để xem thầy thuốc, nay lại là xem về bệnh của con, làm sao lại lấy hào Tử Tôn làm thầy thuốc được."
Bèn xem thêm một quẻ, được quẻ Địa Trạch Lâm biến Địa Thủy Sư:


Đoán rằng: Hào Phụ Tị hỏa động khắc Tử, nên mời thầy thuốc phương bắc. Sau quả nhiên mời thầy thuốc tại cổng bắc đến điều trị, đến ngày Canh Tý thì nổi đậu. Lại xem, được quẻ Giải biến Quy Muội:


Đoán rằng: Nhật thần Tý xung động hào Tử Tôn Ngọ hỏa, được hào động Dần mộc tương sinh, quẻ này khác với quẻ trước, đã có dấu hiệu sống. Người xem bèn hỏi: Hôm nay nổi đậu, ở cửa bắc còn có một thầy thuốc họ Dương, tôi đang muốn mời đến, định xem thêm một quẻ xem có được không. Ta bèn đáp rằng: Chữ Dương ( 杨) có bộ mộc (木), trong quẻ Dần mộc sinh Ngọ hỏa, nên chính là người này, không cần xem thêm nữa. Người này bèn đi mời thầy họ Dương về chữa, đậu nổi đỏ rực, sau vẫn chữa lành. Đây chính là phương pháp để hướng dẫn người ta cách tìm thầy thuốc.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
