Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Hoàng Kim Sách Tăng San: Linh Cơ Người Đoán Và Lòng Thành Khi Xem Quẻ

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch18/09/202641 phút đọc5 lượt đọc
Hoàng Kim Sách Tăng San: Linh Cơ Người Đoán Và Lòng Thành Khi Xem Quẻ

Đêm đã khuya mà vợ chưa về, điện thoại không liên lạc được, người chồng gieo quẻ hỏi mấy giờ vợ về, được quẻ Hàm biến Tỷ. Theo khẩu quyết, Thế khắc Dụng thần thì người không về. Vương Hồng Ứng nhìn khác: hào Thế lâm Không nên không khắc, lại động hóa ra Thê Tài. Hào ba là cửa, thuộc kim mà Không thì kêu, lại lâm Chu Tước chủ âm thanh, đúng tượng chuông cửa reo. Ông đoán chuông sắp vang. Một phút sau chuông reo, vợ về. Không sách bốc phệ nào nói đến chuông cửa, đó là phần của linh cơ. Những câu cuối của Hoàng Kim Sách bàn về cái tâm của người xem: thành tâm, chuyên tâm, nói thẳng điều mình hỏi. Vì sao Dã Hạc lão nhân nhường người khác xem trước mà quẻ của họ lại ứng vào việc của ông?


Trừ ác chưa tận phòng tro tàn cháy lại, khắc hại không nặng cây khô gặp xuân

Trừ ác vị tận, tử hôi tu phòng phục nhiên;

Trừ ác chưa tận, nên phòng tro tàn cháy lại;

Các thần khắc, hại, hình, xung, nếu được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động khắc chế, cần diệt tận gốc. Nếu diệt trừ không triệt để, về sau nếu gặp năm, tháng sinh phò, vẫn lại gây tai họa.

Ví dụ: Ngày Giáp Thân tháng Mão, xem về bệnh tật, được quẻ Địa Sơn Khiêm biến Thủy Sơn Kiển:

Quẻ Địa Sơn Khiêm
Quẻ biến Thủy Sơn Kiển

Đoán rằng: Hào Hợi thủy Tử Tôn gặp Trường Sinh tại Nhật thần Thân. Hào Thế được Nhật thần tương sinh, tuy hóa thành Tuất thổ hồi đầu khắc, nhưng thời gian xem đang vào mùa xuân, thổ suy, bị Nguyệt kiến Mão mộc khắc chế, nên được giải cứu, không gặp thương hại. Quả nhiên đến ngày Đinh Hợi thì khỏi bệnh. Nhưng không dè Mão mộc tuy khắc Tuất thổ, nhưng trong khắc lại có ý tương hợp; Hợi thủy tuy gặp Trường Sinh ở Thân, nhưng Tuất thổ cũng gặp Trường Sinh ở Thân. Về sau đến tháng Tị, hào Thế Hợi gặp Nguyệt phá, Tị hỏa sinh trợ Tuất thổ. Như ngạn ngữ có câu "Nhổ cỏ không nhổ tận gốc, sẽ lại nảy mầm", người này lại trở bệnh mà chết.

Tân bình thích: Lời này rất đúng, Kỵ thần phải có Nhật Nguyệt chế phục là đại cát, nếu không thì sau này vẫn có tai họa rắc rối. Đối với ví dụ ở trên, hào được Nguyệt hợp là hợp vượng, lại thổ được Trường Sinh, vì vậy cát chỉ là tạm thời.

Ví dụ: Ngày Tân Tị tháng Tị, nam đoán lưu niên, được Lữ biến Ly.

Quẻ Hỏa Sơn Lữ
Quẻ biến Ly Vi Hỏa

Tôi đoán rằng: "Anh đang công tác trong ngành công kiểm pháp (công an, kiểm sát, tư pháp), hơi tham của, anh đã lấy tiền của nhà nước và có người đã tố cáo anh, chuyện này xảy ra ở tháng Mão, người tố cáo anh là một tài xế dưới quyền, ở trên có người bảo vệ anh nên hiện tại không có vấn đề, nhưng nhất định phải trả lại toàn số tiền, nếu không thì đến tháng Hợi anh sẽ bị cách chức."

Quả nhiên là người này đang làm trong ngành công an, anh ta đã tham ô hơn 10 vạn nguyên của nhà nước. Tài xế của anh ta có nhờ lo liệu công việc nhưng không được đáp ứng, thế là tại tháng Mão người đó đã tố cáo anh ta tham ô. Do trong tòa án có người nói giúp nên trước mắt việc này đã chìm xuống.

Ly là giáp trụ, Tử Tôn là binh lính, công an, lâm Bạch Hổ, Bạch Hổ là đao thương, chính là thông tin phục vụ trong quân đội hoặc công tác trong ngành chính trị pháp luật. Hào sơ là người dưới quyền, động hóa hồi đầu khắc, khắc thần là Phụ Mẫu, Phụ Mẫu là cáo trạng, xe, lâm Bạch Hổ, Bạch Hổ là đường đi, hào sơ lại là cước lực, xưa là phu xe, nay là tài xế, vì vậy có tài xế dưới quyền tố cáo anh ta. Hào Thế động hợp Ứng Tài, Ứng là người khác, Tài là tiền, là đã lấy tiền không thuộc về mình.

Khi đó người dẫn anh ta đến đoán cũng biết chút ít Dịch Lý, người này phản bác tôi rằng: "Ông đang dọa người ta, Phụ Mẫu Mão mộc Nhật Nguyệt không sinh, mà hào Thế được Nhật Nguyệt đến sinh, Dụng thần vượng mà Kỵ thần nhược, chuyện này đã dừng lại, sau này sẽ không có gì."

Tôi trả lời: "Kỵ thần tuy nhược, nhưng không được Nhật Nguyệt chế phục, sách cổ nói "nhổ cỏ không nhổ tận gốc, sẽ lại nảy mầm", đến tháng Hợi Mão mộc được sinh, hào Thế bị khắc càng nặng, huống hồ Quan Quỷ Hợi thủy Nhật phá Nguyệt phá, Tử Tôn trì Thế phát động, chính là tượng tháng Hợi mất quan bãi chức.

Đến tháng Hợi, quả nhiên bộ hạ lại tố cáo, ngành chấp pháp phải tiếp nhận thẩm tra anh ta, anh ta vứt bỏ chức vụ mà trốn đi, đến nay vẫn chưa quay về.

Thương hại bất trọng, khô mộc do hữu phùng xuân.

Khắc hại không nặng, cây khô lại gặp mùa xuân.

Hào Thế và hào Dụng hữu khí, nếu bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động xung khắc, trước mắt tuy gặp thương khắc, nhưng ngày sau nếu gặp sinh sẽ lại được sinh khởi.

Ví dụ: Vào ngày Đinh Hợi tháng Tý, xem về tự biện tội, được quẻ Lôi Trạch Quy Muội biến Giải:

Quẻ Lôi Trạch Quy Muội
Quẻ biến Lôi Thủy Giải

Đoán rằng: Tị hỏa Quan tinh, do xem vào mùa đông, nên là hưu tù; lại bị Nguyệt kiến Tý thủy, Nhật thần Hợi thủy trùng trùng xung khắc, nên công danh khó bảo toàn. Người này hỏi: "Sẽ bị cách chức, hay điều nhiệm đi nơi khác?" Ta đáp: "Nếu là cách chức, thì hào Quan Tị hỏa sẽ không động. Nhưng ở trong quẻ này, Tị hỏa động hóa Dần mộc hồi đầu sinh, nên khắc chưa tận, công danh vẫn còn gốc. Lại thêm Nguyệt kiến hợp với hào Thế, hào Quan bị thương mà hào Thế bất động, có thể chỉ là giáng cấp lưu nhiệm."

Quả nhiên đến tháng Dần bị cách chức lưu nhiệm. Trong quẻ này Nhật thần, Nguyệt kiến xung khắc Quan tinh mà bị hại không nặng, nên vẫn còn có cơ hội hồi sinh. Xem năm Mão, đến năm Tị lại được phục hồi chức cũ.

Như nước như cây cần tìm nguồn gốc: Nguyên thần của việc lâu dài

Nặng nhẹ của thương khắc đã xét, việc muốn bền còn phải hỏi đến gốc rễ nuôi Dụng thần.

Thủy mộc tu nghi tầm căn;

Như nước như cây cần tìm nguồn gốc;

Phàm xem về thân mệnh, gia trạch, công danh, mộ phần, buôn bán, nếu muốn được lâu dài, Dụng thần tuy quan trọng, nhưng vẫn phải xem cả Nguyên thần. Dụng thần là thể của sự việc, Nguyên thần là gốc rễ của sự việc. Dụng thần tuy vượng, nhưng nếu Nguyên thần bị thương khắc, cũng như nước không nguồn, cây không rễ.

Ví dụ: Ngày Canh Dần tháng Ngọ xem bị thuyên chuyển đi nơi nào, được quẻ Đại Súc biến Trung Phu:

Quẻ Sơn Thiên Đại Súc
Quẻ biến Phong Trạch Trung Phu

Đoán rằng: Hào Thế lâm Dần mộc là Quan tinh, ắt được điền khuyết tại phương đông, không Quảng Đông cũng là Sơn Đông. Chỉ hiềm Tý thủy gặp Nguyệt phá, lại động mà hóa Tuyệt, sợ không đến được nơi bổ nhiệm. Người xem hỏi nguyên do, ta đáp rằng: "Tài là nguồn để nuôi dưỡng mệnh, lại tượng trưng cho lộc triều đình. Nay hào Tài gặp Tuyệt địa, là điềm không tài không lộc; hào Thế Dần mộc không có thủy để tương sinh là điềm hung." Người này nói: "Vậy ngày khác tôi thành tâm xin thêm một quẻ!" Ta đáp đồng ý. Đến ngày Giáp Ngọ, xem lại được quẻ Lâm biến Tiết:

Quẻ Địa Trạch Lâm
Quẻ biến Thủy Trạch Tiết

Ta đoán rằng: Quẻ này với quẻ trước tuy khác tên nhưng cũng một ý. Hào Tài Hợi thủy hóa Tuất thổ hồi đầu khắc, không chỉ khó đến được nơi nhậm chức, mà còn phải đề phòng mùa thu sẽ gặp tai ương. Người này năm trước tục huyền, cưới vợ từ phương nam đưa đến kinh đô, tháng chạp gặp biến cố nên chưa thành hôn, đổi thành tháng tư. Nhưng không ngờ cha lại bị điều trần đắc tội, nên chưa tiện thành hôn.

Ngày Kỷ Sửu tháng Ngọ, lại xem tháng nào sẽ thành hôn, được quẻ Khuê:

Quẻ Hỏa Trạch Khuê

Ta đoán rằng không phải nhân duyên, nên sẽ không có ngày thành hôn. Về sau người này muốn đi xin chịu tội thay cha, ta bèn nói: "Ông xem về công danh, được quẻ không thể đến nhiệm chức. Ông lại xem về hôn nhân, quẻ lại không thành. Nay ông muốn xin tội, tuy vì chữ hiếu, nhưng đến mùa thu sẽ gặp tai ương, nên việc này không tiện." May người này nghe lời ta mà không thực hiện. Sau đến tháng bảy, mắc bệnh tả, uống thuốc đã đỡ. Nhưng sau uống nhiều thuốc bổ, mỗi lần uống đến một lạng, khát nước. Thầy thuốc dặn cả nhà, không được cho uống chút nước nào. Sau khát quá mà chết, thực ứng vào điềm không có thủy.

Tân bình thích: Đây là lời nói chí lý, dự đoán mở cửa hàng, buôn bán, hôn nhân,... đều phải kiêm xem Nguyên thần. Rất nhiều quẻ tôi được nghiệm, người thời nay chỉ xem Dụng thần, thường hay có trường hợp Dụng thần vượng tướng nhưng kết quả gặp hung, thế là liền quy vào quẻ không ứng nghiệm, mà không biết rằng bản thân giải quẻ chưa sâu, chưa nắm được cốt tủy của quẻ.

Ví dụ: Ngày Giáp Tý tháng Thìn, một Dịch hữu đoán kết quả yêu đương với bạn gái ra sao? Được Phong Thiên Tiểu Súc.

Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc

Tôi nói: Bạn gái của anh trông rất đầy đặn, nóng tính, tóc đen ánh đỏ, mắt trái bị cận thị, hiện nay tình cảm hai người rất tốt, tuy nhiên sau này sẽ mỗi người mỗi ngả, không thể thành.

Anh ta hỏi: Dụng thần vượng tướng, sao lại không thể thành?

Tôi đáp: Nguyên thần bị Nhật khắc thương, vô lực sinh Dụng, Dụng thần vượng tướng chỉ là tượng tạm thời thân nhau.

Kết quả là sau nửa năm chia tay.

Hào động ngại gì Không, Phá

Gốc đã vững thì Không, Phá ở hào động chỉ còn là chuyện thời điểm.

Động hào hà phương không phá?

Hào động ngại gì Không, Phá?

Lý luận này rất đúng. Tôi được nghiệm ví dụ như sau:

Ví dụ: Ngày Kỷ Tị tháng Tuất, ta tự xem về việc đi xuống phương nam, được quẻ Đại Hữu biến Đại Tráng:

Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu
Quẻ biến Lôi Thiên Đại Tráng

Ta đoán rằng: Hào Ứng Quan tinh sinh hào Thế, hào Quan hào Ứng tương sinh là tốt, nhưng hiềm vì Tị hỏa gặp Mộ tại Nguyệt kiến Tuất, lại động mà hóa Mộ. Hào Quan sinh thân đã nhập Mộ, nên không còn sinh được thân. Lại biến thành quẻ lục xung, nên ngờ là điềm chẳng lành.

Đến ngày Giáp Thìn tháng Hợi, xem lại, được quẻ Đại Hữu biến Đại Súc:

Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu
Quẻ biến Sơn Thiên Đại Súc

Ta ngờ rằng lại được quẻ này, hào Tị hỏa tuy sinh hào Thế, nhưng lại gặp Nguyệt phá, gặp Nguyệt phá thì không thể sinh thân, nên cũng chẳng ích gì. Lại thêm hào gián Dậu kim Huynh động, là tượng cách trở hao tài, nên nghi ngờ rằng chuyến đi này không có kết quả tốt.

Lại đến ngày Giáp Dần, xem được quẻ Đại Hữu biến Đại Tráng:

Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu
Quẻ biến Lôi Thiên Đại Tráng

Xem được liền ba quẻ Đại Hữu, ta mới ngộ ra rằng: Chuyến đi này nếu đến tháng ba, tháng tư sang năm khởi hành sẽ được như ý. Hào quan Tị hỏa động mà sinh Thế, trước mắt tuy suy, gặp Phá, nhập Mộ, nhưng đến tháng ba năm sau, xung khai Mộ khố là Tuất, thì Tị hỏa đến tháng Tị sẽ đắc lệnh mà không còn bị Phá, bị Không, thành vượng tướng mà sinh Thế.

Sau đến tháng Tị thì khởi hành. Giữa đường gặp người quen cũ, mẹ mất lại bị cháy nhà, muốn đi cùng ta, nhưng không có tiền bạc. Lúc này ta mới ngộ ra quẻ thứ hai Đại Hữu biến Đại Súc: Hào Dậu kim Huynh Đệ động, ý nói dẫn theo người đồng hành.

Số đã định sẵn, nên ta đồng ý cho đi cùng. Đi được vài ngày, lại gặp người tri kỷ, nói rằng tại một nơi nọ có một bản sao bộ Kỳ Môn, bảo ta đi cùng đến mua. Đi đường vòng hai ngày, ta xem một quẻ, lại được quẻ Đại Hữu biến Đại Tráng:

Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu
Quẻ biến Lôi Thiên Đại Tráng

Ta bảo bạn rằng: "Quẻ Đại Hữu đã xem được bốn lần, không phải bảo ta mua sách, mà là giục ta đi gấp". Bèn đi tiếp, đến nơi đã là tháng hai. Ngày nọ tại phủ Tướng quân, Tướng quân hỏi ta rằng: "Vị Phủ quân nọ ở Giang Nam, việc công danh về sau sẽ ra sao?" Ta đáp rằng: "Trước kia vào năm Dậu, xem được quẻ Cấn biến Quan, đoán rằng đến năm Dậu mất chức, nhưng đến tháng ba, tháng tư năm nay lại được phục hồi phẩm cũ."

Lúc đấy là ngày Mậu Tuất tháng Mão, một người tùy tùng xem công danh có được thăng tiến hay không, được quẻ Ly biến Chấn:

Quẻ Ly Vi Hỏa
Quẻ biến Chấn Vi Lôi

Ta đoán rằng: Quẻ Ly biến Chấn, là quẻ Lục xung biến Lục xung. Hào Thế lại nhập Mộ (tại Nhật thần) hóa Mộ (Tuất). Quan tinh Hợi thủy động hóa hồi đầu khắc là điềm đại hung, đừng mong thăng chức, lại phải đề phòng hình ngục. Tướng quân bèn nói: "Hắn là cháu tôi, ngày trước lúc 29 tuổi, từng đến kinh đô nhờ ông xem quẻ giúp, ông đoán đến năm 49 tuổi có nguy hiểm. Năm nay hắn đúng 49 tuổi rồi, liệu sẽ gặp phải nguy hiểm gì?" Ta đáp: "Hai quẻ trước sau đã trùng hợp với nhau, nên thận trọng trong mọi việc."

Ngày nọ tại phủ Bố chính, viên Bố chính hỏi ta rằng: "Đây là quan Tri phủ của phủ ta, do công văn có sai lầm, quan Tổng đốc đã giúp xin phục chức, ông xem giúp có được hay không?"

Ngày Canh Tý tháng Mão, xem được quẻ Tiệm:

Quẻ Phong Sơn Tiệm

Đoán rằng: "Hào Tử Tôn trì Thế, Quan ở hào Ứng, nên lộc đã thuộc về người khác, phục chức là cực khó." Quan Bố chính nói: "Bảo ông báo tin vui, sao lại nói như vậy?" Ta đáp: "Nếu có tin vui sẽ báo, nhưng trong quẻ này không có tin vui gì."

Quan Tri phủ nói: "Hôm nay không được thành tâm, ngày mai mời đến tệ phủ, thành tâm xem lại."

Ngày Tân Sửu tháng Mão xem lại, được quẻ Hỏa Địa Tấn:

Quẻ Hỏa Địa Tấn

Ta đoán rằng: "Quẻ này cũng tương tự với quẻ hôm trước. Hào Thế gặp Nguyệt phá lại nhập Mộ tại Nhật thần. Quan tinh gồm hai hào nhưng đều lâm Không." Người này vẫn không chưa phục. Ta bèn nói: "Xem thêm một quẻ nữa cũng chẳng hại gì". Lại xem được quẻ Hằng biến Đại Quá:

Quẻ Lôi Phong Hằng
Quẻ biến Trạch Phong Đại Quá

Ta nói rằng: "Xin chúc mừng! Theo như quẻ này, tước vị tuy đã mất, nhưng sẽ nhanh chóng được viện lệ mà cho phục chức ở phương Tây." Người này hỏi: "Tại sao mà biết được?" Ta đáp: "Hào Thế trì Quan gặp Nguyệt phá lại nhập Mộ tại Nhật thần, là điềm mất chức. May có hào 5 là Quan tinh động hóa Tiến thần, là tượng được bổ nhiệm lại."

Tân bình thích: Thực ra trong hai quẻ trước cũng có dấu hiệu biến động chức vụ. Đối với quẻ Tiệm ở ngày Tý tháng Mão, Phụ Mẫu Ngọ hỏa ám động, Phụ Mẫu là nha môn, lại là công văn điều động, chính là tượng chức quan biến động. Đối với quẻ Tấn ở ngày Sửu tháng Mão, lại là Phụ Mẫu Mùi thổ ám động, cũng là tượng chức vụ có biến đổi.

Đến ngày Giáp Thìn tháng Mão, quan Đạo đài xem về bệnh của mẹ, được quẻ Quải biến Đại Tráng:

Quẻ Trạch Thiên Quải
Quẻ biến Lôi Thiên Đại Tráng

Ta đoán rằng: "Hào Tị hỏa Phụ Mẫu phục dưới hào Dần mộc, Phi thần sinh Phục thần; Nguyệt kiến Mão mộc là Nguyên thần của Phụ Mẫu, nên bệnh tình của Thái phu nhân sẽ khỏi. Đã gặp lương y, đến giờ Dậu hôm nay, sẽ có tin vui, đến tháng Tị sẽ khỏi bệnh". Quả nhiên đến giờ Dậu, người nhà đến báo rằng: "Vị thầy thuốc do quan dẫn đến hôm qua, cho lão phu nhân uống thuốc đúng bệnh, vị thầy thuốc này đảm bảo sẽ chữa khỏi, hẹn đến tháng tư lành bệnh", sở dĩ ứng vào giờ Dậu có tin vui, vì hào Tử Tôn Dậu kim trì Thế.

Vào ngày Đinh Mùi tháng Mão, đến phủ thự của quan Đô ty, xem về quan chức, được quẻ Ký Tế biến Truân:

Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế
Quẻ biến Thủy Lôi Truân

Ta đoán rằng: "Việc quan chức hãy khoan nói, trước mắt bệnh tật đã rất nguy cấp, đến tháng ba cần đề phòng bất trắc." Người này nói: "Tôi xem về quan chức, chứ đâu có xem về bệnh tật? Huống chi tôi không có bệnh, chỉ vì chân đau đi lại khó khăn nên không đứng dậy được, ông ngờ là tôi mắc bệnh ư?" Ta bèn nói: "Tuy ông xem về quan tước, nhưng thần linh lại mách bảo rằng: "Bệnh tật nguy hiểm, quan trọng hơn cả việc quan. Việc nào hệ trọng sẽ được thần mách bảo trước. Nay xem được quẻ này, còn tranh luận có bệnh hay không có bệnh làm gì?" Hào Thế hưu tù cùng cực, bị Nhật thần Mùi thổ khắc, động mà biến Quỷ, lại hóa Thìn thổ là hóa Mộ, cũng là bị hồi đầu khắc, dù không có bệnh tật, e cũng gặp tai ương."

Lại vào ngày Canh Tuất tháng Mão, xem về khai mỏ chì có được hay không, được quẻ Ích biến Trung Phu:

Quẻ Phong Lôi Ích
Quẻ biến Phong Trạch Trung Phu

Ta đoán rằng: "Đây là tượng phá tài. Hào Huynh Đệ vượng tướng, động mà khắc hào Thế, là tượng cướp tài, tiền của chưa bị phá tận thì chưa dừng lại." Người xem bèn nói: "Mỏ đã khai hơn hai tháng, đào ở năm chỗ, phí tổn đến mấy trăm lạng vàng. Nếu không được của, tôi sẽ ngừng lại."

Ta đáp rằng: "Hào Huynh động hóa Tiến thần, lúc này chính là lúc hao tài, sao có thể dừng được?" Người này bèn hỏi: "Đã không có chì, sao lại không dừng lại?" Ta bèn đáp: "Ta mới đến nơi này, nên ông ắt sẽ không tin ta. Đợi một tháng sau, thấy nhiều quẻ xem của ta linh nghiệm, tự nhiên sẽ dừng lại."

Ta ở vùng này trong hai tháng, xem nhiều quẻ vẫn chưa ứng nghiệm. Cho đến tháng 2, người cháu của vị Tướng quân lần trước do xưa kia lâm trận không chịu tiến quân, trong quân có người tố cáo, quan trên xuống giấy bắt hỏi tội. Còn viên Đô ty đau chân, đến ngày 6 tháng 3 gọi người đến châm cứu cho chân, châm nhầm phải gân mạch, đau đớn đến tận ngày 18 thì chết. Đến tháng tư, mẹ của quan Đạo đài khỏi bệnh. Lại nhận được tin báo rằng quan Phủ quân tại Giang Nam lại được phục hồi chức cũ. Còn quan Tri phủ bản phủ, vốn không được phục chức, sau dẫn lệ cũ, đến năm Tị được điền khuyết tại Khánh Dương - Thiểm Tây. Người đào mỏ chì đào mãi đến khi có dòng suối phun lên thì phải dừng việc lại.

Ta ở đây tháng ba, tháng tư và năm, không ngày nào được yên, mới ngộ ra rằng sở dĩ xem liền bốn lần được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu, vì hào Quan Tị hỏa sinh hào Thế, Ứng vào tháng Tị quan quý tương sinh. Nên biết rằng ngày tháng ứng nghiệm cát hung do thần linh mách bảo không thể rập khuôn cứng nhắc, mà phải biết biến thông.

Ta sở dĩ có thể lĩnh ngộ được rõ ràng, cũng là nhờ biết cách xem nhiều lần. Nếu không phải liền bốn lần được cùng một quẻ, chưa chắc ta đã đi chuyến này. Ta xem quẻ thấy có ứng nghiệm, nên chẳng tiếc gì mà không thành thực mách bảo.

Bậc thầy dạy người theo quy củ, người đoán quyết ở linh cơ

Phép tắc đến đây đã đủ, điều còn lại không sách nào chép sẵn.

Đại tượng hối nhân, tất dĩ quy củ. Bốc giả quyết đoán, toàn tại linh cơ.

Bậc thầy dạy người, ắt theo quy củ. Xem quẻ quyết đoán, đều ở nhạy bén.

Các bậc tiên hiền thời xưa khi dạy người xem quẻ, trước tiên, dạy về động tĩnh, vượng suy, sinh phù củng hợp, hình xung khắc hại, Phá Mộ Tuyệt Không, rất nhiều điểm quan trọng, không thể bỏ qua. Sách vở cần đọc kỹ, để từ đó mà loại suy ra những trường hợp tương tự, tùy cơ ứng biến, hào tượng hợp thành, sẽ biết được họa phúc. Cái hữu dụng thì coi trọng, cái vô dụng thì bỏ đi, tuyệt đối không được rập khuôn cứng nhắc.

Tân bình thích: Chỉ lời nói này đã hơn hẳn mười năm đèn sách. Người thời nay thường theo đuổi những bí pháp mà coi nhẹ kiến thức căn bản, vì vậy dù học Dịch đã nhiều năm mà vẫn không thể tiến bộ. Thực ra những thứ cao siêu đều bắt nguồn từ kiến thức căn bản, chỉ có nắm vững căn bản mới có thể đoán quẻ xuất thần nhập hóa.

Ví dụ: Ngày Nhâm Ngọ tháng Tuất, mãi đến đêm mà vợ vẫn chưa về nhà, gọi điện thoại cũng không được, đoán mấy giờ vợ về? Được Trạch Sơn Hàm biến Thủy Địa Tỷ.

Quẻ Trạch Sơn Hàm
Quẻ biến Thủy Địa Tỷ

Lấy Thê Tài làm Dụng, Dụng thần không được Nhật Nguyệt sinh phù, nếu phán đoán theo khẩu quyết thì Thế khắc Dụng thần người không về. Nhưng tuy là Huynh Đệ trì Thế, Không mà không khắc Dụng thần, lại hào Thế động mà hóa ra Thê Tài, đây là tượng sẽ gặp lại vợ, sao có thể nói không về? Hào 3 là cửa, Không Vong, kim Không tắc minh, lâm Chu Tước, Chu Tước cũng chủ âm thanh, là tượng chuông cửa reo, bây giờ lại là giờ Tý, Dụng thần phục tàng, đang là giờ xung mất Phi thần, tôi đoán là chuông cửa sắp vang lên, vợ về nhà. Quả nhiên, một phút sau, chuông cửa reo lên và vợ đã trở về.

Từ xưa đến nay, làm gì có cuốn bốc phệ nào từng nói về chuông cửa? Vật dụng này ngày xưa làm gì có, đây chính là phán đoán một cách linh hoạt. Nếu như trong nhà mình không lắp đặt chuông cửa thì không thể đoán như thế.

Xem phải thành tâm, chuyên tâm, không kiêng ngày giờ

Từ cái nhạy của người đoán, lời phú chuyển sang cái tâm của người hỏi.

Phệ tất thành tâm, Tý nhật bất kỵ.

Xem phải thành tâm, không kiêng ngày Tý.

Việc trong thiên hạ không gì không từ tâm sinh, tâm động mà cầu thần linh, cần phải chí thành. Cho nên mới nói: Thành thì hiển hiện, hiển hiện sẽ ngưng tụ, ngưng tụ sẽ sáng rõ. Thành tâm để cầu, quẻ sẽ hiển hiện mà dễ xem.

Thời xưa cho rằng ngày Tý không nên xem. "Hoàng kim sách" viết: "Chỉ do thành tâm hay không, chứ không phải tại vì ngày Tý".

Tân bình thích: Cái gọi là Tý không hỏi quẻ, chính là giờ Tý không tiện hỏi quẻ, chứ không phải ngày Tý, rất nhiều trường hợp ngày Tý xem quẻ vẫn ứng nghiệm. Giờ Tý là lúc âm dương luân chuyển, lại là ranh giới giữa ngày hiện tại với ngày hôm sau, khó định đoạt Nhật thần, bởi vậy mà có thuyết "Tý không hỏi quẻ". Để nghiệm chứng lý luận này, tôi đã dự đoán xung quanh 0 giờ (đều trong giờ Tý), quẻ vẫn ứng nghiệm, kết quả chứng minh 0 giờ là đường giới hạn của nhật kỳ.

Chiêm vật nhị niệm, tảo vãn hà phương.

Xem phải chuyên tâm, sớm hay tối không đáng ngại.

Một ý niệm chân thành có thể cảm động trời đất; hai mâm dâng cúng, có thể phụng sự được quỷ thần. Nếu trong lòng nghĩ đến hai, ba sự việc mà xem, ý niệm đã không chuyên, thì làm sao có thể thống nhất? Ý niệm nhiều thì tâm loạn, như vậy là không thành tâm. Nên mới nói: Gặp chuyện liền xem, bất kể sớm tối. Đừng nên giữ nhiều ý niệm, nhiều ý niệm sẽ không linh ứng. Từng có người trước thì xem về cầu tài, sau xem về bệnh của bố vợ:

Ngày Ất Sửu tháng Thìn, xem cầu tài được quẻ Tùy biến Bĩ:

Quẻ Trạch Lôi Tùy
Quẻ biến Thiên Địa Bĩ

Lại xem về bệnh của bố vợ, được quẻ Kiển:

Quẻ Thủy Sơn Kiển

Nếu xét đoán căn cứ vào sự khẩn cầu của người này, thì quẻ trước xem về cầu tài, có rất nhiều Tài tinh, nên việc cầu tài ắt sẽ được. Quẻ sau xem về bệnh của bố vợ, hào Phụ Mẫu gặp Nhật thần nên không chết. Nhưng không biết rằng hai việc này đều xuất phát từ ý niệm của người xem, nên thần cho quẻ trước ứng với bệnh của bố vợ, hào Tài động khắc hào Phụ Mẫu, nên bố vợ chết vào ngày Thìn, vì hào Tài thuộc thổ, Thìn là Mộ của Thổ.

Còn quẻ sau lại ứng vào việc cầu tài, hào Huynh Đệ trì Thế nên việc cầu tài không được. Nếu không chú ý, quẻ trước quẻ sau lẫn lộn, cho quẻ trước là xem cầu tài, quẻ sau là xem bệnh tật, sẽ khiến người ta cười cho. Bởi vậy, ta mới nói rằng, một ý niệm chỉ xem một việc, thì xem sớm hay xem tối cũng không có vấn đề gì. Nếu trong lòng nghĩ đến hai ba việc một lúc, sẽ có sai lầm.

Tân bình thích: Loại tình huống này thường xuyên gặp phải. Có khi người đến muốn hỏi hai, ba việc, có khi nhiều đến năm, sáu việc, thậm chí nhiều hơn nữa. Riêng tôi có cách khác, có thể phán đoán từng việc một, nhưng có lúc người đến ưu uất bất quyết, không biết trước tiên nên hỏi chuyện gì, vì vậy đôi khi thông tin trong quẻ phản ánh không trọn vẹn. Nhất là khi người đến hỏi đồng thời hai việc rất giống nhau, rất có khả năng phán đoán trái ngược nhau.

Ví dụ: Một đồng hương nhờ tôi phán đoán hai quẻ như sau:

Ngày Canh Dần tháng Hợi, một người hỏi mở nhà hàng "Nam Tử Hán" sẽ thế nào? Và tiệm dương tạp cát ra sao?

Chú thích: Dương tạp cát (羊杂割) là một loại món ăn bình dân ở Sơn Tây, được chế biến từ nội tạng dê kết hợp với các loại gia vị, thêm vào miến, bún để ăn.

Đoán nhà hàng "Nam Tử Hán" được Sơn Phong Cổ.

Quẻ Sơn Phong Cổ

Đoán tiệm dương tạp cát được Sơn Địa Bác biến Thủy Lôi Truân.

Quẻ Sơn Địa Bác
Quẻ biến Thủy Lôi Truân

Sau khi xem kỹ hai quẻ, tôi đoán rằng quẻ trước ứng tiệm dương tạp cát, làm ăn khó khăn, quẻ sau ứng nhà hàng "Nam Tử Hán", kinh doanh rất tốt.

Đối phương hỏi: "Tại sao lại đoán ngược như vậy?"

Tôi nói: "Hai quẻ đều từ ý nghĩ của người này gieo được, chính là mang trong lòng hai, ba việc mà đoán.

Quẻ trước Thê Tài Sửu thổ lâm Bạch Hổ mà động, Bạch Hổ là đao thương, tượng giết mổ, Tài tương ứng nội tạng dê, Nhật khắc, lại bị hào biến hợp trú, tham hợp quên sinh, không thể kiếm được tiền. Quẻ sau là quẻ cung Càn, trong hào từ nói "Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức", chính là thông tin nam tử hán, vì vậy quẻ sau ứng nhà hàng "Nam Tử Hán". Tử Tôn trì Thế vượng tướng, Tài được Nhật Nguyệt sinh phù, nhất định là làm ăn thịnh vượng."

Ông ta nói: "Ông đoán rất đúng, tôi đoán theo lời của người hỏi nên đã đoán sai."

Việc của ta không thể khiến người, việc của người để người khởi niệm

Quẻ ứng theo ý niệm, nên ai khởi niệm và ai cầm đồng tiền là điều phải rành mạch.

Ngã sự bất khả mệnh nhân;

Việc của ta không thể khiến người;

Trong lòng mình có tâm sự, không thể bảo người khác xem giúp. Ta có ý niệm của ta, người có ý niệm của người, đó là hai ý niệm khác nhau. Từng có quan phủ đương nhiệm sai gia nhân xem thay cho một quẻ về đề phòng tai họa.

Ví dụ: Ngày Nhâm Tuất tháng Mão, xem chủ nhà có tai họa gì không, được quẻ Tỷ biến Hàm:

Quẻ Thủy Địa Tỷ
Quẻ biến Trạch Sơn Hàm

Quẻ này là xem về việc phòng tai ách, được hào Tử Tôn khắc Thế là tốt, vì sẽ khắc đi Quỷ ở bên mình, nên không còn lo âu. Nếu là gia nhân xem cho chủ, phải lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, và phải xem cả hào Quan. Hào Phụ Mẫu Tị hỏa gặp Tuần Không, lại gặp Mộ tại Nhật thần Tuất. Hào Quan Mão mộc tuy lâm Nguyệt kiến, nhưng không địch nổi nhiều kim khắc, trước mắt tuy vô hại, nhưng đến mùa thu khó tránh khỏi nguy hiểm.

Nào ngờ quẻ này lại ứng với ý niệm của bản thân quan phủ, lấy Thế hào làm Dụng thần, hào Tử Tôn khắc Thế, nên giải được mối ưu phiền.

Đến ngày Thân nghe tin: Có người kiện mình lên quan trên, nhưng bị người khác khuyên can ngăn trở, nên việc kiện tụng không thành. Nếu theo cách gia nhân xem cho chủ để xét đoán, thì sẽ có sai lầm lớn. Nhưng cũng không thể coi quẻ này làm khuôn phép, vì thi thoảng cũng có lúc không ứng nghiệm với ý niệm của người chủ, mà lại ứng với ý niệm của kẻ gia nhân. Cho nên mới nói: Bản thân có việc, nên tự xem; nhờ người khác xem thay, rất khó chọn Dụng thần, quẻ sẽ khó ứng nghiệm.

Tha cụ thành tâm, đặc dục vấn thần, nhượng ngã tiên chiêm, khủng thần bất hứa. Ngã cụ thành tâm, tảo dĩ cử niệm, ngã nhượng tha chiêm, thần tất ứng ngã.

Người đủ thành tâm, muốn hỏi với thần, nhường ta coi trước, e thần không chịu. Ta đủ thành tâm, sớm có ý niệm, ta nhường người coi, thần ứng vào ta.

Từng vào Ngày Quý Mùi tháng Thìn, ta muốn xem về công danh, nhưng lại nhường trưởng bối xem về bệnh của con, được quẻ Cấu biến Hoán:

Quẻ Thiên Phong Cấu
Quẻ biến Phong Thủy Hoán

Tự ta xem về công danh, được quẻ Thiên Trạch Lý:

Quẻ Thiên Trạch Lý

Nếu dùng quẻ thứ nhất để đoán bệnh cho con, thì người con sẽ chết. Tại sao vậy? Vì hào Hợi thủy Tử Tôn bị Nhật thần, Nguyệt kiến tương khắc. Hào Thế ám động, lại khắc Tử Tôn. Nguyên thần Dậu kim lại bị Ngọ hỏa khắc thương, như vậy là Kỵ thần vượng mà Nguyên thần suy, chắc chắn sẽ chết. Nào ngờ ta khởi niệm trước, nên quẻ thứ nhất lại ứng vào công danh. Nếu coi về công danh thì hào Ngọ hỏa Quan tinh động sinh Thế, hào Thế động, hào Quan hưng khởi, đến tháng năm lên chức.

Quẻ sau lại ứng với cha xem bệnh cho con. Hào Tử Tôn Thân kim được Nhật thần, Nguyệt kiến tương sinh, đến hôm sau sẽ khỏi bệnh.

Lại ví dụ: Ngày Tân Tị tháng Tị, định xem về bệnh của cha, bỗng có quan trên đến, bèn nhường cho quan xem trước, được quẻ Tỉnh biến Thăng:

Quẻ Thủy Phong Tỉnh
Quẻ biến Địa Phong Thăng

Quẻ này quan trên xem về việc điền khuyết, có bốn người mà chỉ có ba vị trí, nên hỏi xem mình có được hay không? Ta đoán rằng: "Hào Quan Thân, Dậu đều lâm Không, lại bị Nhật thần, Nguyệt kiến tương khắc. Không mà bị khắc, nên trước mặt việc cầu không thành. May được hào Tuất động sinh Quan, đến mùa thu ắt được như ý". Nhưng đâu ngờ quẻ này lại ứng vào việc xem bệnh cho cha. Hào Tài Tuất thổ động mà khắc hào Phụ, hào Phụ Hợi thủy, gặp Nhật phá, Nguyệt phá, Nguyên thần kim lâm Không mà lại bị khắc, nên sẽ chết vào ngày Tuất. Sau khi quan phủ ra về, ta cũng gieo quẻ xem, được quẻ Càn biến Gia Nhân:

Quẻ Càn Vi Thiên
Quẻ biến Phong Hỏa Gia Nhân

Hào Quan Ngọ, hào Tài Dần đều động, cùng hào Thế hợp thành Tam hợp Quan cục. Nếu dùng quẻ này để đoán về bệnh của cha, thì hỏa cục sinh Phụ Mẫu, nên không chết. Nhưng không ngờ quẻ này lại ứng với ý niệm cầu công danh của quan trên. Hào Thế nằm tại hào 6, mà được điền khuyết tại phủ Triệu Khánh - Quảng Đông.

Hai quẻ này đâu phải là không linh ứng? Thế mới biết thần linh không muốn nhường người đến sau được quẻ trước vậy.

Tân bình thích: Câu chuyện này của Dã Hạc là một kinh nghiệm rất quan trọng, người học bốc dịch nên ghi nhớ cẩn thận.

Tha sự do tha động niệm, thận vật đề tha.

Việc của người để người khởi niệm, không được nhắc nhở người ta.

Người khác có tâm sự, chưa động niệm để xem, mà mình nhắc nhở người ta, bảo người ta xem, như thế lại là ý niệm của mình.

Từng có người cha bảo con trai xem về công danh, xem vào ngày Tân Dậu tháng Ngọ, được quẻ Tụy biến Độn:

Quẻ Trạch Địa Tụy
Quẻ biến Thiên Sơn Độn

Con trai người này mới 11 tuổi, người cha bảo nó xem công danh trong tương lai ra sao? Nếu lấy Quan tinh trì Thế, mùa hè là thời điểm hỏa đắc lệnh đương quyền, Hào Phụ Mùi thổ tượng trưng cho văn chương, hóa Tiến thấn, là công danh có hy vọng. Đâu ngờ do người cha bảo con xem, nên ý niệm là của cha, quẻ này trở thành cha xem cho con. Hào Phụ động khắc hào Tử, hào Tài động hóa Huynh khắc Thê, nên con trai sẽ chết vào năm Mùi. Sở dĩ người con chết vào năm Mùi, do hào Phụ Mùi thổ động, đến năm Mùi sẽ hại đến con. Lại ứng vào tháng bảy chết vợ, vì hào Thê Tài Mão mộc là Tài gặp Tuyệt tại Thân.

Nay ta thường có một cách là: Trước hết, bảo người đó rằng: "Việc của anh, nên xem một quẻ, nhưng bây giờ là do ta khởi niệm, nên anh đừng xem vội. Đợi chốc nữa quên đi, đến khi nào anh tự nhiên nhớ lại, sẽ tự khởi niệm mà xem, như vậy sẽ là ý niệm của anh". Làm theo cách này, lần nào cũng ứng nghiệm.

Ta xem cần nói thẳng, chớ giấu mình

Ý niệm đã là gốc của quẻ thì lời khấn cũng không được quanh co.

Ngã chiêm tất dĩ trực cáo, thiết mạc muội kỷ.

Ta xem cần phải nói thẳng, tuyệt đối không nên giấu diếm.

Trường hợp này rất nhiều, khó mà kể hết. Có người vì hôn nhân mà xem về thời lệnh. Có người vì công danh mà xem về lưu niên. Có người đang làm quan, muốn điền khuyết chỗ của người khác, không tiện nói ra, bèn xem về sự cát hung của chức vị hiện tại. Có vị Hiếu liêm, không nói rõ là xem về thi Hội, mà chỉ hàm hồ hỏi về công danh. Có người đã bị cách chức, lại xem về công danh. Có người đã sinh con trai, lại xem có con trai hay không.

Ví dụ: Ngày Quý Hợi tháng Mùi, xem về lưu niên, được quẻ Cấn:

Quẻ Cấn Vi Sơn

Người này đã được viện lệ theo việc quân, nên xem về lưu niên, chỉ nghĩ rằng nếu trong mệnh có công danh, xem về lưu niên sẽ hiện ra. Mà không biết là xem về công danh để làm quan, tốt nhất là được Quan tinh trì Thế. Ta nói rằng: Trong quẻ này được Quan tinh trì Thế, Dần mộc gặp Trường Sinh tại Nhật thần Hợi, nên sự nghiệp đã thành. Tý thủy là Tài, Tài vượng sinh Quan. Quả nhiên vào ngày Thân, nhận được văn thư nhận chức, sở dĩ ứng vào ngày Thân, do hào Dần mộc Quan tinh trì Thế, tĩnh mà bị Nhật thần xung. Nếu dùng quẻ này đoán lưu niên, mà coi hào này là Quỷ, thì kết quả sẽ có sai lầm lớn.

Lại ví dụ: Ngày Ất Dậu tháng Tý, xem về việc cát hung của chức vị hiện tại, được quẻ Nhu:

Quẻ Thủy Thiên Nhu

Người này vốn thấy trong tỉnh có chức vị bổ khuyết, nhưng lại không tiện hỏi xem liệu có được hay không, nên chỉ hỏi về sự cát hung của chức vị đương nhiệm, nghĩ rằng nếu được quẻ tốt, sẽ được bổ khuyết, mà không hiểu được rằng, theo lý của "Chu Dịch", nếu xem có được bổ khuyết hay không, mà gặp hào Tử Tôn trì Thế là không được. Nếu xem về chuyện cát hung của chức vị đương nhiệm, được hào Tử Tôn trì Thế là mất chức quan. Ta bèn hỏi lại cho rõ, người này bèn nói: Tôi xem về việc thăng tiến. Ta lúc này mới nói: "Vị trí bổ khuyết này sẽ không có được." Sau quả nhiên không được bổ khuyết. Còn nếu đoán về sự cát hung của chức vị đương nhiệm, là điềm mất chức quan, cũng không phải sai lệch quá lớn.

Ví dụ: Vào ngày Tân Sửu tháng Ngọ, muốn xem về bệnh của mẹ, nhưng lại hỏi về lưu niên, được quẻ Ích biến Vô Vọng:

Quẻ Phong Lôi Ích
Quẻ biến Thiên Lôi Vô Vọng

Người theo nghề kinh doanh buôn bán nếu xem về lưu niên, tất nhiên phải chú trọng vào hào Tài. Trong quẻ này, hào Tài vượng trì Thế, hào Tài Mùi thổ lại động, nên đoán là sẽ phát tài. Nhưng nếu dùng quẻ này để xem về bệnh của mẹ, thì lại kỵ hào Tài phát động. Hào Tài động khắc Phụ Mẫu Tý thủy, tức điềm báo người mẹ sẽ chết vào ngày Giáp Thìn, ứng với ngày hào Thế Thìn thổ xuất Không. Nên người học đời sau, mỗi khi gặp người muốn xem về lưu niên, nguyệt lệnh (vận năm, vận tháng), trước tiên cần tìm hiểu kỹ lý do, để tránh sai lầm. Quẻ này nếu đoán là phát tài, chẳng hóa ra đáng cười hay sao?

Xem xa ứng gần, xem chỗ này ứng chỗ khác

Ngay cả khi tâm đã thành, quẻ vẫn có lúc đáp vào một việc khác gấp hơn điều đang hỏi.

Chiêm viễn ứng cận, vụ tất lưu tâm.

Xem xa ứng gần, cần phải lưu tâm.

Cái lý trong thiên hạ sinh ra từ động, có cơ ắt sẽ động. Nếu xem về việc gần trước mắt, tâm sự bức bách, sẽ khiến tâm của mình và tâm của thần linh cảm ứng lẫn nhau. Người gieo quẻ, tinh thần chuyên chú, thì cát hung lập tức hiển hiện. Nếu sự việc vẫn thuộc về thiên cơ, hoặc xem về hậu vận, hoặc xem về những việc không thực cấp thiết, thậm chí xem để tiêu khiển, mua vui, thì quẻ cũng ứng một cách bất đắc dĩ, hai tâm không tương thông, nên quẻ cũng thành ra mơ hồ. Quẻ thành, thường là xem việc xa mà ứng việc gần, hoặc xem việc gần mà ứng việc xa.

Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Mùi, xem cầu tài, được quẻ Hàm biến Đại Quá:

Quẻ Trạch Sơn Hàm
Quẻ biến Trạch Phong Đại Quá

Người xem hỏi bâng quơ rằng, trong nhà thường thấy xuất hiện người mặc áo trắng, ắt có hầm chứa đồ cổ, vậy bao giờ thì đắc tài? Ta đáp rằng: "Trong quẻ này hào Quỷ biến Tử Tôn, trước mắt bất lợi cho con cái." Người này nói: "Con gái nhỏ đang lên đậu." Ta bèn nói: "Nên đề phòng ngày Hợi." Sau con gái quả nhiên chết vào ngày Hợi. Người xem năm nào sẽ được của, nhưng thần linh lại mách bảo việc gần là con gái chết, sở dĩ ứng vào ngày Hợi, là do hào Quỷ Ngọ hỏa biến hào Tử Tôn Hợi thủy. Vào ngày Giáp Thìn tháng Dậu, xem vận trong tháng, được quẻ Độn biến Cấu:

Quẻ Thiên Sơn Độn
Quẻ biến Thiên Phong Cấu

Hào Thế Ngọ hỏa hóa Hợi thủy hồi đầu khắc Thế, xem vào năm Thìn, đến tháng Tý năm Ngọ thì chết. Xem về việc trong tháng, nhưng lại ứng với chuyện sống chết, như vậy là xem việc gần mà ứng việc xa, xem chuyện này mà ứng chuyện kia. Cần xét rõ.

Nói chung xem quẻ cần phải xét kỹ. Có quẻ không ứng với việc được hỏi mà ứng việc chưa hỏi. Vì sao vậy? Vì Thần bỏ việc nhỏ mà báo việc lớn, bỏ cái tốt nhỏ mà bảo cho biết cái hung lớn, bỏ chuyện này mà ứng chuyện kia.

Vào ngày Mậu Thìn tháng Thân, xem về việc buôn bán, được quẻ Tỷ biến Tỉnh:

Quẻ Thủy Địa Tỷ
Quẻ biến Thủy Phong Tỉnh

Người này thường đi các nơi buôn bán, thi thoảng lại ngẫu hứng đến hỏi rằng: "Năm sau đến phương nào sẽ có lợi?" Trong quẻ này, hào Thế Mão mộc động hóa Dậu kim hồi đầu xung khắc. Xem quẻ vào tháng bảy, đến tháng tám thì chết. Đấy là thần linh mách bảo: "Số ngươi đã tận, hà tất phải hỏi chuyện sang năm."

Tân bình thích: Đây là chỗ khó nhất của quẻ, có quẻ không nghiệm thường do nắm bắt sự việc xa gần không chuẩn xác, đến nỗi phán đoán có sơ xuất. Quẻ loại này đa số nghiệm ở độc phát, nhưng hào phát động và sự việc được hỏi hoàn toàn không liên quan, tức là xem xa ứng gần, xem gần ứng xa, hoặc là xem việc này ứng việc khác. Giống như xem tài mà không phải Tử Tôn, Thê Tài, Huynh Đệ phát động, xem quan phi mà không phải Quan Quỷ, Tử Tôn, Thê Tài phát động. Quẻ đầu tiên xem tài mà Quan động hóa Tử, quẻ thứ ba hỏi tài mà Quan Phụ phát động. Thế lâm Bạch Hổ, Tuyệt ở Nguyệt, phản ngâm lại hóa hồi đầu khắc, xem lưu niên tất đại hung. Tôi được nghiệm, có trường hợp xem hôn nhân mà ứng tử vong, xem công việc mà ứng bệnh dữ, khi đoán quẻ cần phải lưu ý cẩn thận.

Chiêm thử ứng bỉ, tất tu tường sát,

Xem chỗ này ứng chỗ khác, cần phải quan sát kỹ.

Khi gieo được tượng quẻ, cần phải quan sát thật tỉ mỉ. Vì cũng có trường hợp quẻ không ứng với việc được hỏi, mà lại ứng với những việc chưa hỏi. Tại sao lại như vậy? Là vì thần linh có khi bỏ qua việc nhỏ mà mách bảo việc lớn, bỏ qua chuyện vặt mà mách bảo về họa lớn, xem cho ta mà ứng vào người, xem cho người lại ứng vào ta, ấy là khi họa lớn phúc lớn sắp ập đến trong một sớm một chiều, cơ trời đã động, ắt hiện trong quẻ. Cho nên mới nói: "Biết được thiên cơ, thì có thể tương thông với thần".

Ví dụ: Ngày Kỷ Mùi tháng Tị, xem về bệnh của người hầu, được quẻ Tỷ biến Kiển:

Quẻ Thủy Địa Tỷ
Quẻ biến Thủy Sơn Kiển

Ta nói rằng: "Quẻ này không ứng với bệnh tình của thằng hầu, mà ứng với chuyện công danh sẽ gặp trở ngại vào mùa thu năm nay." Người xem hỏi: "Tại sao?" Ta bèn đáp: "Hào Thế tại Mão mộc Quan tinh, hóa Thân kim Tử Tôn hồi đầu khắc, việc đã rõ ràng." Người xem nói: "Tôi hỏi về thằng hầu, sao lại ứng vào chuyện công danh?" Ta đáp: "Thần linh thường bỏ qua việc nhỏ mà mách bảo họa lớn, nên cảnh tỉnh ông nên thận trong mọi chuyện." Quả nhiên đến tháng bảy bị luận tội mà cách chức. Đây chính là trường hợp xem chuyện người mà ứng vào ta.

Tân bình thích: Đây là quẻ một hào độc phát. Xem người hầu nên Tài là Dụng, nhưng quẻ này Quan tinh lại độc phát, hóa hồi đầu khắc, hào động lại lâm hào Thế, chính là ứng công danh bản thân.

Lại ví dụ: Ngày Mậu Dần tháng Thân, xem về bệnh tật, được quẻ Khôn biến Tỷ:

Quẻ Khôn Vi Địa
Quẻ biến Thủy Địa Tỷ

Ta đoán rằng: Hào Thế Dậu kim tuy gặp Tuyệt tại Dần, nhưng may xem vào mùa thu, vẫn là vượng tướng, bản thân không có gì đáng ngại. Nhưng cần đề phòng tháng chín, tháng mười thê thiếp gặp nguy hiểm, vì hào Tài Hợi thủy động hóa hồi đầu khắc Thê.

Người xem nói: "Nhưng bệnh của tôi rất nặng." Ta bèn đáp: "Hào Tử Tôn trì Thế, bệnh của ông không uống thuốc cũng khỏi." Quả nhiên người này nhanh chóng khỏi bệnh, nhưng đến tháng chín thì vợ chết. Quẻ này chính là xem cho mình nhưng ứng vào người khác.

Tân bình thích: Ví dụ này cũng là quẻ một hào độc phát. Hào Thế, Nguyên thần, Kỵ thần không động, hào Tài động mà hóa hồi đầu khắc, chính là ứng vợ.

Lại ví dụ: Ngày Bính Ngọ tháng Mão, xem về chuyện tiểu nhân thị phi, được quẻ Càn biến Nhu:

Quẻ Càn Vi Thiên
Quẻ biến Thủy Thiên Nhu

Ta nói rằng: "Xem về thị phi, tại sao lại được quẻ tốt như thế này?" Người này hỏi: "Tốt như thế nào?" Ta đáp: "Thanh Long là tượng văn thư trì Thế, hào Quan tinh Ngọ hỏa gặp Nhật kiến mà sinh Thế, năm nay Thái Tuế tại Tị, Tuế quân lại sinh hào Thế, nên chắc chắn sẽ gặp chuyện đại hỷ, trong vòng mười ngày sẽ ứng nghiệm." Người này nói: "Như vậy sẽ không còn chuyện tiểu nhân thị phi nữa chăng?" Ta đáp: "Ngờ rằng thần linh mách bảo, ngày có tin vui cũng là lúc tiểu nhân tàng ẩn." Sau quả nhiên đến ngày Mậu Thân nhận tin báo được cất nhắc làm quan, đám tiểu nhân đều biến mất. Sở dĩ ứng vào ngày Thân, là do hào Tài Dần mộc lâm Không, đến ngày Thân xung khỏi Dần mộc, mà thành tam hợp. Nếu không xem xét kỹ, mà lấy quẻ này đoán về việc thị phi, sẽ là sai lầm lớn.

Ví dụ: Ngày Đinh Hợi tháng Mùi, xem bệnh của mẹ, được quẻ Khôn biến Bác:

Quẻ Khôn Vi Địa
Quẻ biến Sơn Địa Bác

Ta đoán rằng: "Quẻ này không hiện bệnh của mẹ, mà ứng vào tai họa của con cái." Người xem hỏi: "Tại sao lại như vậy?" Ta đáp: "Bệnh gần của mẹ nay gặp quẻ Lục xung sẽ khỏi, nhưng có điều trong quẻ có hào Tử Tôn biến Quỷ là không may." Người xem có con trai mới sinh hai tháng. Ta dặn: "Cần đề phòng tháng tám." Sau quả nhiên đến tháng tám, con trai người này bị kinh phong, nên lại đến xem quẻ.

Ngày Đinh Mão tháng Dậu, xem về bệnh của con, được quẻ Ký Tế biến Cách:

Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế
Quẻ biến Trạch Hỏa Cách

Ta đoán rằng: Hào Mão mộc Tử Tôn gặp Nguyệt phá, lại bị hào Thân kim động tương khắc. Tuy hào Tử gặp Nhật thần, nhưng khó qua khỏi ngày Mão, ngày Dậu. Người xem hỏi: "Có thể cứu được không?" Ta đáp: "Ngày trước xem bệnh cho mẹ mà ứng vào tháng tám con chết, nay lại gặp quẻ hung này, làm sao có thể cứu được." Sau con trai người này quả nhiên chết vào ngày Mão. Ứng vào ngày Mão là ngày thực Phá.

Ta có người bạn nghèo khó cùng cực, bèn đích thân mang mấy lạng bạc đến biếu. Người này chưa biết, liền xin xem một quẻ, nói rằng trước mắt có một việc, ước chừng được hơn hai mươi lạng vàng, không biết có được hay không.

Ta đoán rằng: Nhật thần làm hào Tài mà sinh hào Thế, nên sẽ được của. Bạn hỏi ngày nào sẽ đắc tài? Ta đáp: "Hôm nay sẽ được." Bạn hỏi: "Chuyện vẫn chưa thành, làm sao lại được?" Lúc này ta mới chợt ngộ ra, ta muốn biếu bạc cho bạn, nhưng bạn chưa biết, mà thần đã mách bảo rằng: "Ngay bây giờ đã được của, cần gì phải hỏi việc khác." Ta bèn lấy bạc biếu cho bạn, bảo bạn xem thêm một quẻ, được quẻ Ly, hào Huynh Đệ trì Thế, lại là quẻ Lục xung, nên ta đoán rằng: "Quẻ trước đắc tài, là ứng vào việc tôi biếu bạc cho anh; quẻ sau hoàn toàn không thấy điềm báo gì." Quả nhiên là xem việc này nhưng lại ứng vào việc khác.

Lý Ngã Bình bàn rằng: "Thiên kim phú" "Hoàng kim sách" do Thành Ý tiên sinh viết ra. Do ngày xưa có người bảo rằng, nếu sửa được một chữ, sẽ tặng cho ngàn vàng. Sau do bản khắc in nhiều lỗi sai, mà người đời lấy ngoa truyền ngoa, khiến ngọc đẹp sinh tì vết. Dã Hạc lão nhân đã tiến hành thêm trước bớt sau, viết chú giải mà lại thành toàn bích. Ta không thể để tên "thiên kim", mà từ đây phải đặt tên là "Vạn kim phú" vậy.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch