Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông

Bài tổng quan

Chương Y Dược: Xem Tìm Thầy Thuốc Và Chọn Thuốc Theo Ngũ Hành

Bói Dịch - Bốc Phệ Chính Tông16/09/202612 phút đọc7 lượt đọc
Chương Y Dược: Xem Tìm Thầy Thuốc Và Chọn Thuốc Theo Ngũ Hành

Chữa bệnh bắt đầu từ hai câu hỏi: tìm ai chữa và dùng thuốc gì, và Y Dược trả lời bằng hai hào then chốt, trong đó hào Tử Tôn tượng cho thuốc còn hào Ứng tượng cho thầy thuốc. Nhờ cặp hào ấy, quẻ cho biết việc tìm thầy có thuận lợi không và thuốc đã chọn có đúng bệnh không. Trên nền tảng đó, sách cổ bàn thêm cách chọn thuốc theo Ngũ Hành, những điều kiêng cữ trong ăn uống, cũng như khi nào nên tiếp tục điều trị hay đổi hướng. Đây là tư liệu về quan niệm y học cổ, không thay thế lời khuyên của thầy thuốc ngày nay. Chỗ thú vị nằm ở Ngũ Hành của hào: không chỉ để luận lành dữ, nó còn được dùng để gợi ý cả phương thuốc.


Y Dược: mở đầu và câu 1–15

Y Dược (thầy thuốc) — xem việc tìm thầy, chọn thuốc qua quẻ Bốc Dịch.

Mở đầu

病不求醫全生者寡 - 藥不對症枉死者多 - 欲擇善者而從之 - 須就蓍人而問也 - 應作醫人空則覼亡而不遇 - 子爲藥餌伏則扞格以無功

Bệnh bất cầu y, toàn sinh giả quả
Dược bất đối chứng, uống từ giả đa
Dục trạch thiện giả nhi tòng chi
Thuận tựu thị nhân nhi vấn giả
Ứng tác y nhân, Không tắc gian vong nhi bất ngộ
Tử vi dược nhĩ, phục tắc hãn cách dĩ vô công

Bệnh không tìm thầy, có sống được cũng quá ít,

Thuốc không đúng bệnh, chết uống quá nhiều.

Vì muốn chọn đường tốt để theo - Cần tìm thầy bói để hỏi

Ứng là thầy thuốc, lâm Không tất trông mong mà chẳng gặp

Tử là thuốc men, phục thì trị bệnh cũng vô ích.

Phàm bói về Y dược thì lấy hào Tử Tôn làm thuốc, lấy hào Ứng làm thầy thuốc. Nếu Tử Tôn bị hại hoặc Mộ Tuyệt, hoặc hào Quan sinh vượng thì thuốc không đúng bệnh, không thể trừ bệnh được. Nếu Ứng hào lâm Tuần Không thì thầy thuốc đi nơi khác, dùng thuốc cũng không kết quả.

1.

鬼動卦中眼下速難取效

Quỷ động quái trung, nhãn hạ tốc nan thủ hiệu

Trong quẻ Quỷ động, trước mắt khó có hiệu quả nhanh.

Xem thuốc cần hào Quỷ an tĩnh mà vô khí. Nếu phát động, tuy có thuốc hay nhưng nhất thời khó có hiệu quả. Chờ ngày Quan Quỷ bị Mộ tuyệt thì dùng thuốc mới có hiệu lực.

2.

空臨世上心中強欲求醫

Không lâm Thế thượng, tâm trung cưỡng dục cầu y

Không ở hào Thế thì trong lòng miễn cưỡng tìm thầy.

Hào Thế lâm Không tất không chuyên tâm tìm thầy hoặc không tin tưởng, tuy mời thầy cũng không dùng thuốc của ông ta.

3.

官旺福衰藥餌輕而病重

Quan vượng Phúc suy dược nhĩ khinh nhi bệnh trọng

Quan vượng, Tử suy thuốc kém mà bệnh nặng.

Hào Quan vô khí, Tử Tôn vượng tướng thì thuốc chữa bệnh uống có kết quả. Nếu Tử Tôn hưu tù, hào Quan vượng tướng thì thuốc kém mà bệnh nặng uống vào vô ích.

4.

應衰世旺病家富而醫貧

Ứng suy Thế vượng bệnh gia phú nhi y bần

Ứng suy mà Thế vượng thì nhà bệnh giàu mà thầy thuốc nghèo.

Thế là nhà của người bệnh, Ứng là nhà thầy thuốc. Nếu tương hợp tương sinh tất không thân thuộc thì là bằng hữu. Nếu Ứng vượng Thế suy thì nhà bệnh nghèo mà thầy thuốc giàu, Ứng suy Thế vượng thì đoán ngược lại.

5.

父母不宜持世 - 官然豈可臨身

Phụ Mẫu bất nghi trì Thế
Quỷ sát khởi khả lâm Thân

Phụ Mẫu không nên trì Thế

Quỷ sát há có thể lâm Thân?

Quái Thân và hào Thế đều không nên lâm Quan Quỷ, gặp phải thế thì uống thuốc không công hiệu.

6.

官化官病變不一 - 子化子藥雜不精

Quan hóa Quan bệnh biến bất nhất
Tử hóa Tử dược tạp bất tinh

Quan hóa Quan bệnh thay đổi bất thường

Tử hóa Tử thuốc lẫn lộn không tinh.

Câu này nói Quan hóa Tiến Thần bệnh chứng bất nhất hoặc bệnh thể không định được. Hóa Thoái thần thì đoán ngược lại. Dụng thần khi xem về thuốc là Tử Tôn, nếu Tử Tôn hóa Tiến thần thì thuốc uống có hiệu quả, nếu hóa Thoái thần cùng quẻ Phục ngâm thì không thể uống thuốc đó được.

7.

福化忌交遇服殺身之惡劑

Phúc hóa Kỵ hào ngộ phục sát thân chi ác tễ

Hào Phúc hóa Kỵ thần, uống lầm thuốc mà chết.

Vốn có động tắc phải biến, nếu Tử Tôn hóa Phụ Mẫu hồi đầu khắc thì Tử Tôn khó thương khắc Quan Quỷ tất uống lầm thuốc mà họa đến thân.

8.

應臨官鬼防投增病之藥湯

Ứng lâm Quan Quỷ phòng đầu tăng bệnh chi dược thang

Ứng ở Quan Quỷ thì phòng uống thuốc mà bệnh nặng thêm.

Ứng lâm Quan Quỷ tất không phải là thầy thuốc giỏi, nếu lại hình khắc Thế, Dụng thần nên phòng lầm thuốc mà hại người, hoặc lâm Kỵ hào, hoặc hóa Quan Quỷ đều không nên dùng thuốc của Thầy này.

9.

鬼帶日神定非久病

Quỷ đới Nhật thần định phi cửu bệnh

Quỷ là Nhật thần chắc chẳng phải là bệnh lâu ngày.

Quỷ trị Nhật thần động tất trước mắt bệnh nặng. Nếu Nhật thần là Quan Quỷ nhưng không hiện trong quẻ tất không thể báo bệnh này đang nặng.

10.

應臨月建必是官醫

Ứng lâm Nguyệt kiến tất thị Quan y

Ứng là Nguyệt kiến tất thấy thuốc triều đình.

Ứng trì Thái Tuế là thế y (chỉ thầy thuốc gia truyền), trì Nguyệt kiến, Nhật thần tất quan y (tức thầy thuốc làm việc cho nhà nước), lại được Nhật Nguyệt lâm Tử Tôn thì cho thuốc rất thần hiệu. Ứng lâm Tử Tôn là thầy thuốc chuyên môn có thể phó thác.

11.

世下伏官子動則藥雖妙而病根當在

Thế hạ phục Quan, Tử động tắc dược tuy diệu nhi bệnh căn thường tại

Quan phục dưới Thế mà Tử động thì thuốc tuy hay nhưng gốc bệnh vẫn còn mãi.

Đại để tự xem bệnh cho mình mà gặp Quan phục ở dưới hào Thế hoặc xem bệnh cho người khác gặp Quan phục dưới Dụng thần, tất bệnh không thể đoán được nguồn gốc, ngày sau e sẽ tái phát.

12.

衰中坐鬼身臨則病雖輕而藥力難扶

Suy trung tọa Quỷ, Thân lâm tắc bệnh tuy khinh nhi dược lực nan phù

Thân lâm Quỷ suy thì bệnh tuy nhẹ mà thuốc không công hiệu.

Quái Thân tuy lâm Quỷ suy nhược là tượng bệnh kéo dài khó lành, hoặc Dụng thần lâm Quan nhập Mộ cũng vậy.

13.

父若伏藏名雖醫而未諳脈理

Phụ nhược phục tàng danh tuy y nhi vị am mạch lý

Phụ hào suy nhược mà phục thì tuy gọi là thầy thuốc nhưng không rành mạch lý.

Trong quẻ Phụ động, Tử Tôn không thể chuyên quyền, cho nên không tốt. Nhưng không thể không tĩnh, mà không thể không động, vì sao vậy? Vốn khí mạch của con người đều phụ thuộc vào cha mẹ, cho nên xem về thầy thuốc không có hào Phụ Mẫu thì là thầy thuốc quê mùa, tuy dùng thuốc không rành mạch lý.

14.

鬼不出現藥總用而不識病源

Quỷ bất xuất hiện dược tổng dụng nhi bất thức bệnh nguyên

Quỷ không hiện có dùng thuốc cũng không rõ căn bệnh.

Quan Quỷ là bệnh, xuất hiện thì dễ bị khắc chế nên dùng thuốc có hiệu quả. Nếu không hiện trong quẻ thì bệnh ẩn không rõ nguồn gốc, chẳng quyết đoán được thuốc dùng nên khó có công hiệu.

15.

主絕受傷盧醫難救

Chủ Tuyệt thụ thương, Lư y nan cứu

Chủ tượng bị thương khắc, thầy thuốc họ Lư (Lư sinh, người đời Tần, được lệnh Tần Thủy Hoàng vượt biển tìm thuốc trường sinh) cũng khó cứu được.

Chủ tượng nếu phục, Mộ, Tuyệt, hoặc biến nhập Mộ, Tuyệt, lại bị khắc thì lương y cũng không cứu nổi.

Y Dược: câu 16–31

16.

父興得地扁鵲無功

Phụ hưng đắc địa, Biển Thước vô công

Hào Phụ động lại đắc địa thì Biển Thước (họ Tần tên Việt Nhân, thầy thuốc giỏi thời Chiến Quốc ở Trung Quốc) cũng vô ích.

Phụ Mẫu phát động, Tử Tôn thụ thương, uống thuốc tất không công hiệu. Nếu Tử Tôn có khí mà Nhật thần, động hào khắc Phụ Mẫu tất uống thuốc có hiệu quả.

17.

察官爻而用藥火土寒涼

Sát Quan hào nhi dụng dược Hỏa Thổ hàn lương

Xem hào Quan mà dùng thuốc hoặc Hỏa, Thổ hoặc hàn lương.

Hỏa Thổ ở hào Quan tì bệnh này thuộc nhiệt, nên dùng thuốc hàn để trị; Kim Thủy ở hào Quan thì phần lớn thuộc bệnh hàn, dùng thuốc ôn nhiệt để trị. Như Hỏa thì dùng Hàn, Thổ thì dùng lương, Thủy thì dùng nhiệt, Kim thì ôn… Lại nếu Hỏa Quỷ sinh vượng, nếu được sinh phò thì dùng thuốc đại hàn để trị. Gặp Thủy Quỷ sinh vượng mà được hợp trú thì nên dùng thuốc đại nhiệt. Nếu Hỏa Quỷ tại âm cung, âm hào là chứng âm hư hỏa động có thể dùng thuốc giáng hỏa tư âm. Thủy Quỷ tại dương cung nội quái là chứng huyết khí hư tổn có thể dùng thuốc bổ trung ích khí. Ngoài ra cứ phỏng theo thế, nên linh động.

18.

驗福德以迎醫丑寅東北

Nghiệm Phúc Đức dĩ nghênh y Sửu Dần đông bắc

Nghiệm Phúc Đức để mời thầy ở phương Sửu Mùi, hoặc đông bắc.

Phàm xem uống thuốc nên xem Tử Tôn là hào nào, tất biết thầy thuốc ở đâu có thể trị được. Nếu ở hào Tí thì người ở phương bắc, là Sửu thì thầy ở phương đông bắc chẳng hạn. Lại như Tử Tôn là Dần thuộc Mộc thì tên người thầy có bộ Mộc ở bên, hoặc bộ Thảo đầu, hoặc mang cọp chẳng hạn… Tuy chẳng phải là phương đông nhưng cũng có thể trị được bệnh.

19.

木帶財興大忌魚鮮生冷

Mộc đới Tài hưng kỵ ngư tiên sinh lãnh

Tài thuộc Mộc vượng kỵ cá tươi, vật phát lạnh.

Tài là ăn uống, đồ để nuôi sống. Nếu Tài động thì sinh trợ Quỷ hào, ngược lại là có hại. Nếu thuộc Thủy thì kỵ các vật như cá tươi, các vật làm lạnh thì dùng thuốc mới có hiệu quả. Nếu ở hào Mộc kỵ ăn những đồ động phong; hào Hỏa kỵ đồ nấu nướng nóng; ở Kim kỵ đồ cứng chắc; ở Thổ kỵ đồ dầu mỡ. Tài nếu không động thì không thể đoán ẩu. Lại sợ hào Quỷ sinh ra vật, như Sửu thì kỵ trâu bò, Dậu thì kỵ gà vịt… Ngoài ra phỏng theo như thế.

20.

木加龍治偏宜舒暢情懷

Mộc gia Long trị thiên nghi thư sướng tình hoài

Mộc được Thanh Long trị nên được thong dong sung sướng.

Thanh Long là thần vui vẻ, lại lâm Mộc mà sinh hợp với hào Thế, thì bệnh nhân nên gác việc nhà, an nhàn thong thả, uống thuốc mới kiến hiệu.

21.

財合用神居外動吐之則痊

Tài hợp Dụng Thần cư ngoại động thổ chi tắc thuyên

Tài ở ngoại cung động hợp với Dụng Thần, nôn mửa tất bớt.

Tài ở ngoại cung chủ nôn mửa, nếu sinh hợp với Dụng hào dùng thuốc nôn tất bớt.

22.

子逢火德寓離宮灸之則愈

Tử phùng Hỏa ngụ Li cung cứu chi tắc dũ

Tử thuộc Hỏa ở cung Li, cứu tất lành bệnh.

Tử Tôn thuộc Hỏa lại ở cung Li, dùng thuốc nhiệt điều trị, hoặc dùng ngải để cứu tất lành.

23.

坎卦子孫則須發汗 - 木爻官鬼先要疏風

Khảm quái Tử Tôn tắc tu phát hãn
Mộc hào Quan Quỷ tiên yếu sơ phong

Tử Tôn thuộc quẻ Khảm tất đổ mồ hôi

Quan Quỷ thuộc Mộc, trước hết nên thoát phong.

Tử Tôn thuộc Thủy hoặc tại cung Khảm phát động, đều nên xuất mồ hôi. Quan Quỷ thuộc Mộc trước hết làm tán phong tà rồi dùng thuốc mới công hiệu.

24.

用旺有扶休再補 - 鬼衰屬水莫行針

Dụng vượng hữu phù hưu tái bổ
Quỷ suy thuộc Thủy mạc hành châm

Dụng Thần vượng được phò trợ không nên "bổ"

Quan Quỷ suy thuộc Thủy chớ nên châm.

Dụng hào hưu tù Mộ Tuyệt tất dùng thuốc bổ mới công hiệu. Nếu Dụng hào được vượng tướng lại được sinh phò hợp trợ nên dùng thuốc công phạt để điều trị, nếu dùng thuốc bổ có tác dụng ngược lại thì sinh hại. Tử Tôn thuộc Kim lợi dụng kim châm. Quan Quỷ thuộc Thủy mà dùng kim châm thì Kim sinh Thủy, trợ giúp cho bệnh. Thổ Quỷ thì kỵ thuốc nhiệt; Mộc Quỷ thì kỵ thuốc hàn; Mộc Quỷ thì kỵ thuốc phong; Kim Quỷ thì kỵ thuốc hoàn (nguyên văn là "cửu hoàn", tức thuốc viên).

25.

福鬼俱空當不治而自愈 - 子官皆動宜內補而外修

Phúc Quỷ câu Không đương bất trị nhi tự dũ
Tử Quan giai động nghi nội bổ nhi ngoại tu

Phúc Quỷ đều lâm Không, không chữa bệnh cũng lành

Tử và Quan đều động nên trong bổ ngoài cầu.

Xem về bệnh mà hai hào Tử và Quan đều lâm Không là điềm tốt, hoặc đều suy tĩnh, không xung không tính thì bệnh tự lành, không cần dùng thuốc. Nếu hai hào đều động thì không phải dùng không đúng thuốc mà do Thần gây họa, cho nên mới gọi là "vô công" (vô ích), nên cầu đảo rồi uống thuốc mới giảm. Tục gọi là "ngoại tu nội bổ".

26.

卦動兩孫用藥須當間服

Quái động lưỡng Tôn dụng dược đương gián phục

Quẻ có hai hào Tử Tôn động, dùng thuốc nên gián đoạn.

Quẻ có hai hào Tử Tôn động, không cần liên tục uống thuốc mà chia ra uống mới có hiệu quả.

27.

鬼傷二間立方須用寬胸

Quỷ thương nhị gian, lập phương tu dụng khoan hung

Quỷ hại gian hào, nên dùng thuốc cho ngực được thư giãn.

Quan Quỷ động xung khắc gian hào, hoặc Quỷ ở gian hào động tất lồng ngực bất lợi, cần dùng thuốc cho ngực được thư giãn. Gặp Huynh Đệ phát động tất khí nghịch, nên dùng thuốc điều khí.

28.

父合變孫莫欲閉門修養

Phụ hợp biến Tôn mạc dục bế môn tu dưỡng

Phụ biến hợp với Tử Tôn, chẳng gì hơn đóng cửa dưỡng bệnh.

Trong quẻ Phúc, Quan suy tĩnh, nếu có Phụ Mẫu động sinh hợp Thế Thân, không nên uống thuốc, nên ở yên tĩnh, đóng cửa dưỡng bệnh.

29.

五興化福可用路遇醫人

Ngũ hưng hóa Phúc khả dụng lộ ngộ y nhân

Hào ngũ động hóa Phúc, có thể nhờ thầy thuốc gặp trên đường.

Nếu hào ngũ của Quẻ động hóa Tử Tôn, không cần chọn thầy để uống thuốc, thầy thuốc tầm thường cũng trị được. Nếu Tử Tôn không hiện mà Nhật thần lâm Tử Tôn sinh hợp thì tất có thầy đến trị bệnh ngoài tiên liệu của mình.

30.

世應比和無福德須用更醫

Thế Ứng tị hòa vô Phúc Đức tu dụng canh y

Thế Ứng tị hòa mà không có Phúc Đức, nên đổi thầy thuốc.

Thế Ứng tị hòa, quẻ không có Phúc Đức thì thuốc không lợi mà không hại, nên đổi thầy thuốc mới lành bệnh.

31.

財官發動子孫空徒勞服藥

Tài Quan phát động Tử Tôn Không đồ lao phục dược

Tài Quan phát động, Tử Tôn lâm Không, uống thuốc vô ích.

Tài và Quan đều động, thế bệnh đã hung, mà Tử Tôn lâm Không uống thuốc cũng vô ích.

Phàm xem tìm thầy uống thuốc cần thành tâm ngầm cầu xem nhờ thầy nào uống thuốc gì có công hiệu hay không, không cần nói rõ họ tên, người đoán cứ theo chương này mà suy, thì không chọn thầy sai lầm, thành tâm tất cảm ứng, quẻ luôn ứng nghiệm, há chẳng an tâm sao?


Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông