Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thủy Sơn Kiển: nước trước mặt, núi sau lưng và đạo xét mình giữa gian nan

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202614 phút đọc4 lượt đọc
Thủy Sơn Kiển: nước trước mặt, núi sau lưng và đạo xét mình giữa gian nan

Trước mặt là sông, sau lưng là núi, tiến lùi đều gian nan. Có bậc bề tôi vất vả vì việc nước mà chẳng phải vì thân mình, có người quay lại bên bạn cũ mới thấy đường thông... Khi mọi lối đều hiểm, nên đi tiếp hay nên trở về xét mình?


Kiển là gian nan: trên núi có nước

Quẻ số ba mươi chín là Thủy Sơn Kiển, thuộc hàng quẻ xấu, tiết khí tháng tám. Kiển nghĩa là nạn, gian nan, vất vả. Trên là Khảm, là nước; dưới là Cấn, là núi.

Sơn thượng hữu thủy, Kiển. Quân tử dĩ phản thân tu đức.

Lời Tượng nói trên núi có nước là quẻ Kiển. Người quân tử nhìn quẻ này mà trở lại xét mình để tu đức. Người sinh vào tháng tám gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Lời Thoán nói gian nan, đi về Tây Nam thì lợi, về Đông Bắc thì không lợi; gặp đại nhân giúp cho thì lợi; mình giữ đạo chính thì mới tốt.

Trước mặt là sông, sau lưng là núi

Nguyễn Hiến Lê giảng: trước mặt là sông, tức Khảm; sau lưng là núi, tức Cấn; tiến lui đều gian nan hiểm trở nên gọi là quẻ Kiển. Phải bỏ đường hiểm trở mà kiếm đường bằng phẳng dễ đi, ở hướng Tây Nam, hướng quẻ Khôn, đừng đi hướng Đông Bắc, hướng quẻ Cấn. Dĩ nhiên chúng ta không nên hiểu đúng từng chữ Tây Nam và Đông Bắc, chỉ nên hiểu ý thôi: ở thời này phải nhờ người có tài, có đức, tức đại nhân, giúp cho thì mới thoát nạn, và phải bền giữ đạo chính. Lời Tượng khuyên phải tự xét mình mà luyện đức.

Phan Bội Châu giảng: quân tử gặp thời nạn Kiển thì nên theo đường nào? Chỉ nên trở lại xét mình mà tu thêm đức. Đức ở đây là Nhân, Trí, Dũng. Đức Nhân mình có được thì tất được nhiều người yêu mến; đức Trí mình có được thì dầu lòng người hiểm mình cũng chẳng sợ; đức Dũng mình có được thì dầu đường đời hiểm mình cũng chẳng lui. Đó là đạo đối với thời Kiển vậy.

Ông phụ chú: có ba quẻ nghĩa giống nhau là Kiển, Truân, Khốn, đều giải nghĩa là nạn, nhưng ý tứ khác nhau. Truân là bắt đầu vào nạn; Khốn là khi nạn đã đến lúc cùng; Kiển là chính giữa lúc nạn. Muốn tiến lên thì bị Khảm thủy đón ở mặt trước, muốn thoái lui thì bị Cấn sơn ngăn ở mặt sau, tượng như đại tướng ra trận mà sụp vào giữa trùng vây, nên đặt tên là Kiển. Lời Thoán cũng có câu: công dụng ở thời Kiển thật lớn vậy thay.

Ông phụ chú thêm: quẻ Khảm, quẻ Kiển, quẻ Khuê ở những thời ấy đều là nghịch cảnh, nhưng thường lợi dụng được thời ấy sẽ chuyển được nghịch cảnh làm ra thuận cảnh thì sự nghiệp mới lớn. Nên thánh nhân đặt ba quẻ ấy đều nói chữ Thời mà kèm cả chữ Dụng. Vì những bậc người hay dụng được thời ấy thì trong thiên hạ không ngày nào mà không vượt lên được. Như thế thì biết nghĩa chữ Thời bao gồm rất lớn. Nếu chỉ chờ đến thời thái bình thông thuận rồi mới vượt lên được thì còn gì là nghĩa chữ Thời.

Quẻ Khốn với quẻ Kiển cảnh ngộ có giống nhau, nhưng lời Tượng quẻ Khốn thì nói biết mệnh mình mà bằng lòng, lời Tượng quẻ Kiển lại nói trở lại mình rèn đức; hai việc đó có khác nhau nhưng đâu có trái nhau. Kiển là nạn đang ở trung gian, chẳng qua khó khăn, gay go mà thôi, nên quân tử phải trở lại với bản thân mà rèn đức, lánh thân để thoát nạn; còn Khốn thì nạn đã đạt đến cực điểm, quân tử gặp thời ấy chỉ có một cách là biết mệnh mà tự bằng lòng, nghĩa là vứt cả sinh mệnh để hoàn toàn giữ tiết của mình. Việc tuy khác nhau nhưng cũng chung một đạo tùy thời của quân tử.

Về dự báo, quẻ Kiển chỉ thời vận khó khăn, nhiều trắc trở, công việc khó thành, sự nghiệp thất bại. Tài vận không có, lâm vào hoàn cảnh túng quẫn, gian nan, kiếm tiền khó khăn; thi cử khó đỗ; xuất hành bất lợi, quay về thì hơn; kiện tụng thất bại; nghề nghiệp khó thành, cần lắng nghe ý kiến nhiều người khuyên bảo, tìm người có quyền thế làm chỗ dựa mới hòng thoát nạn; tình yêu rối rắm, nhiều trở ngại.

Hào sơ lục: tiến thì vất vả, quay lại thì được khen

Hào âm, hào xấu. Đi lên thì vất vả, ở lại thì được khen.

Vãng kiển, lai dự.

Toán Hà Lạc nói thời không tiến được thì nên ngừng lại.

Nguyễn Hiến Lê giảng: vào đầu thời gian nan, hào này âm nhu, không có tài, tiến lên hay hành động thì xấu, chỉ nên chờ thời.

Phan Bội Châu thêm: nếu hào sơ Kiển biết thời cơ, ngồi im, yên phận, tất nhiên kết quả được tiếng khôn ngoan; thế là lui thì có danh dự.

Người mệnh hợp cách tinh khôn, khéo xử nghịch cảnh, thấy hiểm trở thì dừng lại; là người có chí, gặp khó khăn cản trở biết dừng lại, giữ được cơ nghiệp. Người mệnh không hợp cách tùy đường đi mà đánh xe, yên với cảnh nghèo, vui với đạo; là người an phận thủ thường, không tranh cạnh, sống cuộc sống bình thường.

Về vận hạn: giới quan được khen thưởng, khích lệ; kẻ sĩ chờ thời sẽ tiến; người thường nên thủ phận, an thân, thời vận xấu, không phải lúc làm việc lớn, cứ hành động hoặc kinh doanh lớn sẽ thất bại, bất trắc, gian nan.

Hào lục nhị: bề tôi vất vả, không phải vì thân mình

Hào âm, hào bình. Bậc vương thần vất vả, chẳng phải do cớ ở thân mình, vì việc nước, do hào năm tin cậy. Tốt cho người trung chính, liêm khiết; xấu cho người ích kỷ, hám công danh tài lợi, không gặp thời, khó thành đạt.

Vương thần kiển kiển, phỉ cung chi cố.

Toán Hà Lạc nói hết lòng vì nước.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này cũng âm nhu, kém tài, nhưng đắc trung, đắc chính, có đức, được vua, tức hào năm dương mà cũng trung, chính, phó thác việc nước, nên phải chống chọi với mọi gian nan, không dám từ, mặc dầu tự biết không chắc gì cứu nước, cứu dân được trong thời khó khăn này. Hoàn toàn không vì mình, đáng khen.

Phan Bội Châu phụ chú: tận trung hết lòng như hào hai âm, nhưng lời hào chỉ nói đến gian nan, vất vả, chẳng phải do thân mình, mà không nói tới công hiệu. Thật vậy, dẹp nguy cứu hiểm cần phải có bậc đại tài; hào hai bản chất âm nhu, có tài gì cứu được thời Kiển, nhưng tâm sự hào hai thì thật đáng khen. Bài biểu Xuất sư của Khổng Minh có câu rằng: tôi chỉ biết cúc cung hết sức đến chết mới thôi; đến như thành hay bại, lợi hay độn thì không phải sức một mình tôi mà thấy trước được. Thật đúng như nghĩa hào này. Sử nước ta có các ông Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị đời Trần cũng thuộc hạng người ấy.

Người mệnh hợp cách là người trung thành, hết lòng vì dân vì nước, được tin dùng, phúc lộc bền vững. Người mệnh không hợp cách thì cha con cùng gian nan, vợ chồng cùng trong sạch, được làng xóm kính mến; cũng là người bộc trực, trong sạch ở địa phương, được mọi người kính trọng.

Về vận hạn: giới quan tận tâm với nhiệm vụ; kẻ sĩ không phải thời nên khó tiến; người thường lội suối trèo đèo, kinh doanh khó khăn, số xấu thì lo cho bản mệnh.

Hào cửu tam: tiến thì vất vả, quay lại thì hơn

Hào dương, hào tốt. Tiến đi thì vất vả, quay trở lại thì hơn; biết tiến lui đúng lúc, đúng thời.

Vãng kiển, lai phản.

Toán Hà Lạc nói nên tiến thì nghĩa là nên trở lại.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, đắc chính, nhưng vẫn còn ở quẻ nội, tức chưa hết thời gian nan, lại thêm hào trên cùng âm nhu, ứng với nó mà không giúp được gì, nên lời hào khuyên đừng tiến, cứ quay lại với hai hào âm thì vui vẻ hơn, dầu sao cũng là bạn cũ rồi.

Phan Bội Châu phụ chú: ở vào thời Kiển nạn, cần thứ nhất là người có tài; đã có tài lại còn phải có bạn. Hào sơ với hào hai vì âm nhu mà không có tài nên phải trông vào hào ba dương. Hào ba dương tuy có tài dương cương nhưng lại khổ nỗi không có bạn đồng đức, nên phải ríu rít với hai hào âm, liên quân còn hơn cô lập, không dại gì một mình chạy quàng mắc lấy Kiển thêm. Đó là ý thánh nhân dạy cho ta liệu thời mà xử thế.

Người mệnh hợp cách biết thời cơ, được người tán trợ, hoặc được vào nội trú, về nhà bên nội, quê hương, yên vui, ổn định; là người biết tiến lui, biết ở lại vị trí mình đúng thời, được tin dùng, đề bạt, giữ được phúc lộc bền vững. Người mệnh không hợp cách biết sửa lỗi, từ ngoài trở về với tổ nghiệp để sinh nhai, hoặc được viện trợ, hoặc có người nội trợ; là kẻ bôn ba không thành, biết quay về lập nghiệp tại quê nhà.

Về vận hạn: giới quan trở về trung ương, được tín nhiệm, giữ những vị trí thuận lợi cho tiến độ; kẻ sĩ thi đại học, lên cao được vào cơ quan hàn lâm, đỗ đạt, được trọng dụng; người thường được mừng về vợ con, số xấu thì bị hình khắc tổn thương, được gia đình hỗ trợ, sự nghiệp phát đạt tại quê hương. Đi thì lắm nỗi đa đoan, trở về được thấy thân an nhà lành.

Hào lục tứ: tiến thì vất vả, lùi lại thì kết liên được bạn

Hào âm. Đi lên thì vất vả, trở lại thì liên kết được với ba hào quẻ nội. Tốt cho sự liên kết, hợp tác nhiều người.

Vãng kiển, lai liên.

Toán Hà Lạc nói thời không nên tiến, nên hợp lực với bên dưới, cùng vượt gian nan.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, kém tài, đã tiến lên quẻ ngoại, quá nửa thời gian nan, nhưng lại gặp hiểm trở, vì quẻ ngoại là Khảm, cũng không nên tiến lên mà nên lùi lại với hào ba, liên hợp với ba hào ở dưới để thêm thế lực.

Người mệnh hợp cách thân với người giỏi, xuống với người dưới, đồng tâm hiệp lực để cứu nguy dẹp loạn, hoặc phát huy nghiệp tổ, truyền cái hay cho con cái, phúc lộc dồi dào; là người biết hợp lực với gia đình, bạn tốt để lập nghiệp, để mưu cầu việc lớn, dễ thành đạt. Người mệnh không hợp cách được người giúp sức, bình sinh an vui, được vui mừng về hôn nhân hay tử tức; là người có vợ hiền con thảo, có cuộc sống gia đình hạnh phúc, yên vui.

Về vận hạn: giới quan được thăng thưởng đều đều, nhiều đồng nghiệp ủng hộ, dễ thăng tiến; kẻ sĩ cầu danh được danh, cầu lợi được lợi, nhiều bạn bè để thành công thành danh; người thường có phường hội dễ phát đạt, số xấu dễ bị kiện cáo, gièm pha, nên ở yên thì tránh được. Thật thà hiệp lực đồng tâm, để cùng cứu vớt thăng trầm gian nan.

Hào cửu ngũ: gian nan lớn nhất, bạn bè kéo đến giúp

Hào dương, hào tốt. Gian nan lớn, có bạn đến giúp sức, tức hào hai; có quý nhân phò trợ.

Đại kiển bằng lai.

Toán Hà Lạc nói bậc lãnh đạo đương thời gian nan thì cũng được giúp sức.

Nguyễn Hiến Lê giảng: ở giữa quẻ ngoại Khảm, là hiểm, nên cực kỳ gian nan. Hào này như ông vua có tài nhưng cũng khó thoát được hiểm. May có hào hai đắc trung, đắc chính ứng với mình, sẵn lòng dắt các bạn, tức các hào một, ba, bốn, tới giúp mình. Nhưng các hào ấy đều kém tài, trừ hào ba; như vậy là tay chân của hào năm tầm thường cả, không làm nên việc gì lớn, nên lời hào không khen là tốt. Cũng không bảo nên lùi, vì địa vị nguyên thủ của hào năm không cho phép lùi được; lùi thì trút trách nhiệm cho ai.

Người mệnh hợp cách có bạn tốt giúp, cũng đổi Bĩ ra Thái, đổi loạn thành trị; là người có nhiều bạn bè, cấp trên giúp đỡ, đổi được nguy thành an, đổi khó thành dễ, lập được nhiều công to, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách thân, nhà khốn đốn, có bạn tốt giúp, trước gian nan, sau thái hòa; cũng là người có nhiều bạn tốt giúp sức, tránh được tai nạn, giữ được phúc lộc.

Về vận hạn: giới quan ở quận ngoài, trong sạch, dễ thăng chức lên chức vị cao; kẻ sĩ thi bằng trung cấp, hoặc được vào đại học, dễ thành công, thành danh; người thường kinh doanh được khởi sắc, có lợi, nhiều phúc lộc. Ruột tằm bối rối nguy nan, quý nhân đâu tới hoàn toàn giúp cho.

Hào thượng lục: quay lại giúp bậc đại nhân thì lập công lớn

Hào âm, hào tốt. Đi nữa thì vất vả; trở lại thì được việc lớn, tốt, lợi về việc gặp đại nhân, tức hào năm.

Vãng kiển, lai thạc, cát, lợi kiến đại nhân.

Toán Hà Lạc nói cái nghĩa ở chỗ cứ theo vị lãnh đạo.

Nguyễn Hiến Lê giảng: ở cuối thời gian nan, có cảnh tượng đáng mừng. Hào này âm nhu, không một mình hiển đạt được, nên quay lại giúp hào năm, bậc đại nhân có tài đức, thì lập được công lớn, tốt. Kết luận cả sáu hào: gặp thời gian nan nên thận trọng đợi thời; riêng vị nguyên thủ phải tìm người tốt giúp mình, liên kết mọi tầng lớp để cùng mình chống đỡ.

Phan Bội Châu phụ chú: hào sáu trên cùng, kể tài không bằng hào ba dương, kể ngôi vị với đức thì không bằng hào năm dương, kể tính âm nhu thì có khác gì hào sơ, hai, bốn đâu? Nhưng cớ sao các hào kia không được chữ tốt mà một mình hào sáu được chữ tốt? Đó là may phúc cho hào sáu, vì hào sáu đã ở vào thời cực của Kiển; sự vật đến cùng tất trở lại, cái cực đến cùng tất thông, đó là lẽ tự nhiên. Nếu hào sáu không biết trở lại được việc lớn, không biết trở về gặp đại nhân thì làm sao được tốt? Mới biết rằng việc đời và khí số thường giúp nhau mà nên, cũng thường tranh nhau mà thắng. Xem như hào cuối cùng quẻ Kiển có chữ tốt, mà các hào kia đều không hung, hối lỗi. Mới biết thánh nhân bàn đạo lý có bao giờ đổ tại khí số đâu, mà chỉ cốt ở hai chữ Thời, Trung. Nếu việc đời mà vận dụng được hai chữ Thời, Trung thì dù khí số xấu thế nào chúng ta cũng thây kệ.

Người mệnh hợp cách tài cao đức lớn, công huân lừng lẫy đương thời, danh dự tên vào thiên cổ; là người có tài đức, có địa vị cao, có công với nước, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách sinh nhai dựa vào người quyền thế, có người giúp bên trong, sống yên vui; cũng là người có địa vị cao sang, được nhiều cấp giúp đỡ, cuộc sống an nhàn.

Về vận hạn: giới quan được vào nội các, được đề bạt lên chức vụ cao ở các cơ quan nội chính, lợi cho việc lập công, dựng nghiệp; kẻ sĩ tiến thủ, thành danh, đậu đạt cao, xây dựng được sự nghiệp; người thường làm ăn có lợi, nhiều phúc lợi, sống yên vui. Tiến đi thời vẫn truân chuyên, thuận theo nguyên thủ đường lên công danh.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc