Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng dụng

Bài tổng quan

Cầu tài trong quẻ: hào Tài, Tử tôn và người làm chung

Bói Dịch - Ứng dụng02/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Cầu tài trong quẻ: hào Tài, Tử tôn và người làm chung

Có khoản tiền đã nằm trong tay mà đến một ngày xung Mộ lại tan đi. Giữa chuyện có và mất là những mốc ngày giờ, và đôi khi là gương mặt của người cùng làm ăn…


Quẻ cầu tài: chỉ cần Thế và Dụng, không cần xem Ứng

Khi hỏi về tiền, trọng tâm là Thế và Dụng thần, không cần xem Ứng. Ở mức cơ bản nhất, chỉ cần hào Tài vượng là được việc. Tuy nhiên nếu câu hỏi dính đến những chuyện nguy hiểm thì phải xem cả Thế. Ngoài ra, chỉ cần Thế không khắc Tài là ổn; Thế xung Tài hay hợp Tài cũng đều được.

Tài vượng mà Huynh đệ nhập Mộ, hoặc Huynh đệ Tuần không, đều báo tiền sẽ có. Nhưng đến thời điểm xung Mộ, hoặc xung thực hào Thế đang Tuần không, thì tiền mất. Nghĩa là câu chuyện có hai phần, có và mất: đến Ứng kỳ lúc Tài là có, còn đến lúc Huynh đệ xuất hiện là mất.

Các trường hợp ứng kỳ đáng lưu ý như sau. Nếu hào vượng mà nhập Mộ thì chờ xung Mộ sẽ có tiền; nếu hào suy mà nhập Mộ thì xung Mộ sẽ mất tiền. Nếu cần tiền gấp mà Tài nhập Mộ, thì lúc trực xung hào Tài là mất tiền chứ không phải có, đối với trường hợp cần gấp trước ngày xung Mộ. Tuần không và Nguyệt phá tương tự: xem như không có tiền, nhưng động và ứng vào lúc hẹp trực Nguyệt phá thì có, với điều kiện hào Tài đó phải vượng.

Huynh đệ và Tài: những tình huống ứng kỳ giữa có và mất

Cùng một hào Huynh đệ, lúc Không, lúc Phá, lúc hóa khắc cho ra những mốc có tiền, mất tiền khác nhau.

Khi Tài động mà hóa Phá, thì chờ đến lúc trực hợp hào Phá. Khi Tài động hóa Không, thì chờ đến lúc trực xung hào Không.

Huynh đệ Tuần không, hoặc động hóa Tuần không, thì ứng vào lúc trực xung Tuần không mà mất.

Tài vượng hóa khắc: lúc Tài lâm là có, lúc hào khắc thực thì là không có.

Tài vượng động hóa khắc, mà hào khắc ấy Tuần không hoặc Nguyệt phá: ứng lúc Tài thì có tiền, đến lúc hào Không Phá được lấp đầy thì mất tiền.

Tài Tuần không hoặc Nguyệt phá mà lại hóa khắc: ứng lúc Không Phá được lấp đầy thì mất tiền.

Huynh đệ động hóa khắc mà hào Huynh đã Tuần không hoặc Nguyệt phá: ứng lúc hào Huynh thực mà có tiền.

Huynh đệ động hóa khắc mà hào khắc Tuần không hoặc Nguyệt phá: ứng vào hào Huynh đệ thì mất tiền; nhưng đến lúc Không Phá được lấp thì có tiền.

Mộ của Huynh đệ động mà hóa khắc, hào khắc Tuần không: lúc xung Không, thực Không sẽ có tiền. Mộ của Huynh hóa Không hoặc Phá thì không tính Mộ, cứ xét như hào động thông thường.

Mộ của Tài hóa khắc, hào khắc Tuần không: ứng lúc xung Không, thực Không mà có tiền. Trường hợp Nguyệt phá cũng tương tự.

Tử tôn và Quan quỷ: nơi tiền đến và nơi tiền đi

Có hào cho biết nguồn nước, có hào cho biết chỗ thất thoát.

Tử tôn động báo nguồn sinh ra tiền cho mình, nguồn đầu tiên cho biết tiền nằm ở đâu. Nếu Tử hóa khắc thì chỉ nhận được lần này rồi thôi, đừng hy vọng thêm. Nếu Tử hóa sinh mà Tài lại bị Nhật Nguyệt khắc, bị Nguyệt phá, thì đến lúc xung Tử là mất nhiều tiền, người giúp hay nguồn tiền đến lúc ấy cũng vuột mất.

Nếu Tử động sinh Tài mà khắc Thế, thì với việc làm ăn chung, người làm cùng hại mình; nếu là nguồn tiền thì nguồn tiền ấy hại mình; nếu lâm Phi xà thì nguồn tiền bẩn hại thân.

Nếu Tử động mà Huynh đệ trì Thế, thì mình cầu người cứu nhưng vô vọng; nếu Tài hợp Thế thì có lợi. Nếu Tử nhập Mộ thì chờ xung Mộ mới có tiền. Tử Không Phá thì chờ thực mới có. Nếu Tử Tuyệt mà Tài vượng thì lấy Tài làm chuẩn để xem ứng kỳ.

Quan quỷ động báo sự hao tổn: vượng thì hao nhiều, suy thì hao ít. Nội quái là việc trong nhà, việc cá nhân; ngoại quái là việc ngoài đường, bên ngoài. Quan động chỉ cần ứng với Tài suy là biết thiệt hại thêm; nếu Tài vượng thì là có mà hao. Quan nhập Mộ, bị phá hay không đều báo thời điểm thực hiện của sự hao tổn, không báo ứng kỳ của Tài.

Nếu Quan động kèm Huynh động, báo việc có mối nguy nhưng bỏ tiền ra thì thoát. Nếu Quan trì Thế, thì tự mình tiêu hoang. Nếu Quan suy nhập Mộ trì Thế, cần cẩn thận lúc xung Mộ. Có một trường hợp đặc biệt: Quan Hợi hóa Tử Thìn, vừa hóa Mộ vừa hóa Tử khắc Quỷ thần, là tuy gặp họa nhưng hồng phúc trời cho mà thoát được.

Nếu Quan sinh Thế, người làm chung hại mình mất thêm tiền, cần cẩn thận bị cắt xén. Nếu Thế suy quá thì người làm chung nắm quyền, và cả hai trường hợp đều báo người làm chung mờ ám.

Phụ mẫu động báo hao vốn, hao nguồn tiền; riêng trong quẻ Tài thì vai trò của Phụ mẫu động không quá quan trọng. Nếu Phụ trì Thế mà khắc Tài, báo có tiền bất ngờ đến đúng như mong cầu. Phụ sinh Thế báo hiệu kẻ cướp, nên chú ý đặc điểm của Phụ để biết mà tránh.

Người làm chung trong quẻ tài: năm điều cần lưu ý

Trong một quẻ tiền bạc, hào đứng cạnh Thế thường là gương mặt của người cùng làm ăn.

Lưu ý một: hào sinh Thế hoặc sinh Dụng là người làm chung. Có thể có nhiều người làm chung nhưng hào động sinh sẽ báo người nổi bật nhất. Cần xem hào động ấy sinh khắc Thế thế nào so với các hào còn lại trong nhóm Thế và Dụng.

Lưu ý hai: hào sinh Thế mà khắc Tài là người làm chung lừa mình cướp tiền. Nếu Tài Tuần không thì Huynh đệ là kẻ trộm. Huynh Thủy là đứng đợi mình để lừa, Huynh Hỏa là hối thúc để lừa, Huynh Dần là giả nai để lừa, Huynh Thổ là khù khờ để lừa, Huynh Kim là lặng lẽ để lừa. Câu Trần chỉ người trầm tính hoặc nội tâm, hay giữ tâm sự. Bạch Hổ chỉ người bướng hoặc dữ, có tính gia trưởng. Huyền Vũ chỉ người tính tham, vụ lợi. Thanh Long chỉ người thoải mái, quảng giao với bên ngoài.

Nếu Tài khắc Thế mà người hỏi đang lo lắng thì đó là tượng khắc Quỷ, bản thân sẽ vượt qua cái nạn đang lo. Tương tự Quỷ động hóa Tử trì Thế là tình huống đang có mối lo âu trước mắt. Nhưng nếu người kinh doanh có đường dài, Tử khắc Quan sinh Tài là tượng người làm chung hại mình hoặc gây áp lực; nếu gia Phi xà thì báo áp lực tâm lý nặng. Thế suy báo hiệu chán nản kéo dài. Hành suy của Thế báo triệu chứng bệnh gián tiếp do áp lực tâm lý gây ra.

Lưu ý ba: Thế khắc Tài mà Phụ sinh Thế: mất vào vốn, vừa lỗ to vừa mất mạnh vào vốn. Huynh càng vượng, mất càng nhiều. Thường báo tư tưởng người làm chung chớp nhoáng, không lâu dài, còn bản thân cũng đi sai hướng. Nếu Tài suy thì thị trường vô dụng; Tài vượng thì thị trường có tiềm năng; Tài hình thì thị trường biến động, không theo xu hướng cũ.

Lưu ý bốn: Thế lâm Phụ, Quỷ động: người làm chung đưa ý kiến động chạm, đi sai hướng, dẫn đến hao hụt chi phí. Nếu Quan động hóa Tài thì mất chi phí ban đầu để xây dựng lâu dài. Tài suy thì làm tiếp cũng vô dụng, nên đổi hướng. Tài vượng thì lợi vẫn cao hơn mất, nhưng không bền, chụp giật, không lâu dài, vì Phụ khắc Nguyên thần của Tài.

Lưu ý năm: Quỷ động mà không khắc Thế, hóa Tài, báo Tài đầu tư; nếu khắc Thế thì báo một nhóm đang tính giết mình; nếu Tuần không thì chưa xuất hiện. Với các trường hợp Tài kể trên, nếu thấy hào động thành cục thì báo nhóm người; nếu một chi trong cục Không hoặc Phá thì báo chuyện sẽ xảy ra trong tương lai. Nhật hay Nguyệt xung Tài, dù động, đều báo tiền vụn; riêng khi một xung một hợp thì tiền ấy vụn tại một thời điểm nhưng gom lại được.

Kinh doanh: ba điểm lợi và những điều kỵ

Làm ăn không chỉ cần tiền vào, mà còn cần người làm vui và khách đến đều.

Với kinh doanh, về cơ bản cách xem cũng giống như xem tương quan giữa các hào. Kinh doanh có ba điểm lợi gồm Thế, Tài và Ứng. Ba điểm ấy tượng trưng cho sức khỏe, tức sự thoải mái; tiền thu về; và lượng khách hàng. Nhờ ba điểm này ta có thể điều chỉnh để đạt hiệu suất tối đa. Chẳng hạn nếu không vui thì biết vì sao không vui: Thế Mộc suy thì là nhún nhường quá khiến việc kinh doanh làm mình không vui; Hỏa thì vội; Thổ thì chậm. Ngoài ra nếu lâm Quan, hoặc quá suy, trong quá trình kinh doanh có thể mắc bệnh liên quan đến hành của hào Thế, nên lưu ý.

Phép xem kinh doanh không bao gồm nhân viên. Muốn xem nhân viên phải ra quẻ riêng, khi đó Tài làm Dụng, không xem gộp. Lúc ấy chỉ cần so Thế với Tài là biết nhân viên đối với mình ra sao: Tuần không là lừa; suy là khả năng kém; khắc Thế mà không phải Không là trộm.

Hào Ứng nếu Tuần không thì tức là hiện tại chưa có khách. Nếu vượng thì cứ tiếp tục làm như cũ, chỉ cần bơm thêm vào quảng bá. Nếu chán thì không phải đổi ngay phương thức tiếp cận. Trong trường hợp này Tài báo tiềm năng thị trường; nếu Tài suy tức tiềm năng ở đây không có. Nghĩa là vẫn ưu tiên Tài trước, mà đã không có thì có làm bao nhiêu cũng như muối bỏ bể.

Muốn xem kinh doanh tỉ mỉ hơn, có thể xem thêm hào phục dưới Thế. Tài phục báo hàng tồn. Tử phục báo kế hoạch đã sẵn sàng. Quan phục báo nỗi lo quá lớn mà không nói với ai được.

Khi xem kinh doanh có người làm chung, người ấy biểu thị ở hào động sinh Thế, hợp Thế, tiết Thế, sinh Tài, hợp Tài, tiết Tài. Dấu hiệu này không bao gồm trường hợp người làm chung không thật, vì hào động không xét Tuần không. Nếu Phá hóa Tuyệt thì chắc chắn người làm chung đoản mệnh; nếu chỉ Tuyệt thì người làm cùng không lâu, dù vượng vẫn nên tin như thế.

Kỵ nhất khi làm ăn là Tử động nhập Mộ hoặc bị khắc, vì nguồn tiền dù có thế nào sau cùng cũng tan hoang. Kỵ nhất là Quan suy trì Thế, vì sẽ bệnh khó qua nổi vì kinh doanh. Kỵ Nguyên thần của Thế động nhập Mộ hoặc hóa khắc, đều là tượng mệnh yếu; nếu Cừu thần động thì chặng đời còn nhẹ nhàng hơn nhiều. Nếu Tử hóa Quan hay Quan hóa Tử thì cần chú ý địa chi đối với người đã có con: đến thời điểm ứng kỳ ấy, đứa bé có thể nguy hiểm tính mạng, tùy nội hay ngoại quái mà tránh.

Kỵ Thế suy mà Tài khắc Thế, ắt sinh bệnh nặng do áp lực từ tiền; suy quá thì rất nguy hiểm, hưu thì chỉ báo có bệnh.

Có một điểm khác biệt đáng lưu ý giữa xem tiền và xem kinh doanh. Xem tiền thì mừng khi được Tài khắc; còn kinh doanh thì kỵ Tài khắc đến, vì ngày dài tháng rộng vừa mệt vừa mất hòa khí. Còn khi Ứng tiết khí, cần lưu ý phía đối thủ đang lấy mất khách của mình.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng dụng