Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Cầu Tài: Hào Tài, Hào Huynh Và Nguồn Gốc Của Tiền Bạc

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch19/09/202611 phút đọc20 lượt đọc
Cầu Tài: Hào Tài, Hào Huynh Và Nguồn Gốc Của Tiền Bạc

Một người hỏi việc buôn bán có lời không, được quẻ hào Tài trì Thế bị hào Huynh động đến cướp, may nhờ hào Huynh tự hóa hồi đầu khắc nên không cướp nổi. Dã Hạc lão nhân đoán sẽ có lãi — quả đúng như vậy. Nhưng đến tháng chín năm đó, em trai mắc bệnh qua đời: cùng một hào Huynh Đệ hóa Quỷ trong quẻ cầu tài, vừa báo tin lãi, vừa báo tin tang. Một người khác cầu tài mà quẻ hiện Phụ động khắc Tử, Huynh động khắc Tài, chẳng khác gì leo cây bắt cá. Tăng San Bốc Dịch dựng nguyên một chương quanh hào Tài: khi nào Huynh Đệ cướp mất của cải, khi nào Tử Tôn lại là nguồn sinh tài. Vì sao cùng bị hào Huynh trì Thế án ngữ, có người vẫn đắc tài, có người trắng tay?


Nguyên Tắc Gốc: Hào Tài, Hào Tử Tôn Và Hào Huynh Đệ Trong Việc Cầu Tài

Trong lý luận cầu tài của các sách xưa, ta thấy "Hoàng kim sách" là xác đáng nhất, chiêm nghiệm qua đều linh ứng, chỉ tiếc là chưa được phân loại rõ ràng. Nay lấy đoạn đầu làm phần tổng luận, đoạn sau phân loại để trình bày, nhằm giúp người học đời sau thêm dễ hiểu. Trong đó, có những phần chiêm nghiệm qua không thấy linh ứng, ta đều cắt bỏ; có những phần bản thân ta thấy có ứng nghiệm, thì thêm vào.

Tài vượng Phúc hưng, công tư xứng ý. Tài Không Phúc Tuyệt, thượng hạ vi tâm.

Tài vượng Tử hưng, công tư như ý; Tài không, Tử động, trên dưới trái lòng.

Từ việc thuế má của nhà nước, cho đến việc kinh doanh của dân chúng, đều dùng hào Tài làm Dụng thần. Xem cho việc công hay việc tư, cũng nhìn vào hào Tài. Tử Tôn là Nguyên thần sinh trợ cho Tài, đều nên vượng mà hóa cát, hoặc sinh hợp hào Thế, như vậy việc công hay việc tư đều được như ý. Nếu gặp Suy, Mộ, Tuyệt, Không, hoặc bị Hình, Xung, Khắc, Hại, hoặc động mà hóa hung, hoặc bị Nhật, Nguyệt xung phá, thì việc mong cầu sẽ không được như ý mình mong muốn.

Hữu Phúc vô Tài, Huynh Đệ giao trùng thiên hữu vọng;

Có Phúc không Tài, Huynh Đệ động vẫn còn hy vọng;

Huynh là thần cướp Tài, nên xem cầu tài rất kỵ gặp phải. Nếu hào Tài và hào Huynh đều động chủ về hao tán tiền tài. Nếu hào Tài không động, hoặc không hiện trong quẻ, mà Tử Tôn và Huynh Đệ đều động, lại là tốt, vì Huynh động sinh Tử, nên sẽ có hy vọng.

Hào Tài hào Tử và hào Huynh cùng động trong quẻ cũng là điềm tốt, vì Huynh động sinh Tử, Tử động sinh Tài, lợi lộc sẽ nhiều, lại có được nguồn lợi dồi dào.

Tân bình thích: Ở đây cũng cần hào Tài có khí hoặc vượng tướng, nếu hào Tài hưu tù Không Phá, thì Tử Tôn Huynh Đệ cùng động cũng chưa hẳn có tài.

Huynh hưng Tài chấn, Quan hào phát động diệc kham cầu.

Huynh hưng, Tài động, hào Quan động có thể mong cầu.

Hào Huynh, hào Tài cùng động, lại thêm hào Quan Quỷ động cũng là tượng được tài, vì Quan Quỷ động khắc chế được hào Huynh.

Tài Phúc câu vô, mạc nhược thủ châu đãi thố.

Tài Phúc đều không, những là ôm cây đợi thỏ.

Hào Tài và hào Tử đều không hiện trong quẻ, hoặc xuất hiện mà hưu tù, Không, Phá, Mộ, Tuyệt hoặc Hình, Xung, Khắc, Hại, có cầu tài cũng chỉ mất công vô ích.

Giác Tử bàn rằng: Nếu được Nhật, Nguyệt lâm Tài, hoặc hào Tài phục nhưng vượng, thì vẫn có thể cầu được tài.

Phụ Huynh giai động, vô thù duyên mộc cầu ngư.

Phụ Huynh đều động, khác gì leo cây bắt cá.

Phụ động khắc Phúc, Huynh động khắc Tài, nếu hai hào cùng động trong quẻ, mọi toan tính cầu tài chỉ như mò trăng đáy nước.

Ví dụ: Ngày Mậu Ngọ tháng Dậu, xem cầu tài, được quẻ Cách:

Quẻ Trạch Hỏa Cách

Đoán rằng: Trong quẻ hào Tài không xuất hiện, hào Huynh Hợi thủy trì Thế, hào Phụ lâm Nguyệt kiến sinh trợ cho hào Huynh, là việc cầu tài không có hy vọng, chẳng khác trèo cây bắt cá.

Tân bình thích: Tôi gặp rất nhiều trường hợp Huynh Đệ trì Thế vẫn được tài, Tài phục dưới Thế, cho dù hào Tài hưu tù vẫn có thể có tài. Ví dụ ở trên bởi vì Huynh Đệ trì Thế vượng tướng, Tử Tôn Nguyệt phá hưu tù vô lực sinh tài, cho nên mới không cát. Nếu Tử Tôn vượng mà không bị tổn thương thì cũng có thể cầu tài. Huống chi ở ví dụ đưa ra Phụ Huynh không phát động.

Khi Tài Xuất Hiện Quá Nhiều Hay Hào Huynh Quá Vượng

Nguyên tắc gốc còn phải tính thêm hai trường hợp đặc biệt: khi Tài dư thừa, và khi Huynh Đệ đông đảo.

Đa Tài phản phục, tu Mộ khố dĩ thu tàng;

Nhiều Tài thì tráo trở, cần có Mộ khố để trữ tàng.

Trong quẻ, nếu hào Tài lâm Nhật, Nguyệt là quá vượng, hoặc hào động, hào biến đều là hào Tài, Nhật, Nguyệt cũng là Tài tinh, là Tài xuất hiện quá nhiều, cần phải đợi đến ngày hào Tài nhập Mộ, mưu tính mới được toại nguyện. Ví dụ, hào Tài thuộc thủy, đợi đến ngày Thìn sẽ đắc tài. Những trường hợp khác loại suy từ đó.

Vô Quỷ phân tranh, hựu phạ giao trùng nhi trở trệ.

Không Quỷ bị tranh cướp, lại sợ hào động gây cản trở.

Huynh Đệ là thần tranh cướp, cản trở, hao tài, cần xuất hiện hào Quan động nhằm chế ngự hào Huynh, sẽ không bị tranh đoạt mất tài.

Giác Tử bàn rằng: Hào Huynh động, nên có Quỷ động để chế ngự. Còn nếu hào Huynh an tĩnh, thì không nên gặp Quỷ động, vì sẽ làm hao khí của Tài, lại dễ rước điều tiếng thị phi.

Tân bình thích: Lý luận này có lý, thường thấy Quan Quỷ độc phát, không được tài mà phá tài.

Huynh như thái quá, phản bất khắc Tài.

Huynh nếu nhiều quá, lại không khắc Tài.

Sách xưa chú rằng: Trong quẻ có một hào Huynh động là xấu nhất. Nếu xuất hiện nhiều hào Huynh động, lại không cướp đoạt được Tài.

Giác Tử bàn rằng: Nói vậy là không đúng! Nếu hào Huynh hiện nhiều, đợi đến ngày hào Huynh nhập Mộ, hoặc đến ngày tương khắc hào Huynh, tiền tài sẽ bị cướp đoạt. Bởi vì quá vượng thì "giảm bớt đi sẽ thành".

Ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Tị, xem về cho vay nặng lãi, được quẻ Vị Tế biến Quy Muội:

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế
Quẻ biến Lôi Trạch Quy Muội

Trong quẻ này Nguyệt kiến, hào Thế, hào động, hào biến đều là Huynh Đệ, nên việc cầu tài sẽ được toại nguyện, nhưng đến tháng 9 hào Huynh nhập Mộ sẽ phải tán tài. Như vậy làm sao có thể cho rằng hào Huynh quá vượng sẽ không thể cướp được Tài?

Bốn Quẻ Chứng Nghiệm: Huynh Đệ Trì Thế Vẫn Có Thể Đắc Tài

Lý thuyết là vậy, nhưng Dã Hạc lão nhân còn ghi lại nhiều lần thực tế đi ngược điều cấm kỵ ấy.

Thế ngộ Huynh lâm, tất nan cầu vọng.

Hào Huynh trì Thế, khó mà hy vọng.

Sách xưa cho rằng nếu Quái thân lâm Huynh Đệ, việc cầu tài khó được. Ta thấy rằng dùng Quái thân không nghiệm, nên chủ yếu chỉ căn cứ vào hào Thế. Nếu Huynh Đệ trì Thế, khó mà cầu được tài.

Dã Hạc bàn rằng: Đều phải dựa vào sự biến thông của người đoán quẻ. Hào Huynh Đệ trì Thế tuy không nên, những cũng có lúc không kỵ.

Ví dụ: Ngày Đinh Mão tháng Mùi, xem về vay nợ, được quẻ Tấn:

Quẻ Hỏa Địa Tấn

Đoán rằng: Tuy hào Huynh trì Thế, là tượng không có tiền tài, nhưng may được Nhật thần Mão làm Tài tinh. Sách xưa cho rằng hào Tài khắc Thế hoặc xung thế là tượng đắc tài; lại thêm hào Ứng Mùi thổ vượng mà sinh Thế, đến hôm sau sẽ đắc tài. Quả nhiên đến ngày Thìn được của. Ứng vào ngày Thìn, vì là ngày hợp của hào Thế động.

Ví dụ: Ngày Đinh Tị tháng Tị, xem về cầu tài, được quẻ Ký Tế biến Hoán:

Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế
Quẻ biến Phong Thủy Hoán

Đoán rằng: "Nếu xem cầu tài lâu dài, sẽ không có được. Còn nếu hỏi về tiền tài trước mắt, đến hôm sau là ngày Mậu Ngọ sẽ được." Người xem hỏi nguyên nhân. Ta giải đáp: "Hào Huynh trì Thế, bị Nhật, Nguyệt xung phá, nên không khắc được hào biến Thê Tài. Huống hồ Nhật, Nguyệt đều lâm hào Tài mà xung Thế, chỉ vì hào Ứng lâm Không, đến hôm sau ngày Ngọ được điền thực, nên chắc chắn sẽ được của." Quả nhiên hôm sau đắc tài.

Ví dụ: Ngày Mậu Dần tháng Tị, xem ngày nào được của, được quẻ Ly biến Phong:

Quẻ Ly Vi Hỏa
Quẻ biến Lôi Hỏa Phong

Đoán rằng: Hào Tài Dậu kim không động, hôm sau là ngày Mão xung động hào Tài, nên sẽ được của.

Người xem hỏi rằng: Huynh Đệ trì Thế, làm sao có thể đắc tài? Ta đáp: Hào Huynh động hóa Mộ, nên không khắc Tài. Quả nhiên đến hôm sau được của.

Dã Hạc bàn rằng: Quan điểm của ta không giống với các sách khác, ngẫu nhiên trùng hợp liền lập tức cho là khuôn mẫu. Ta nhất định phải chiêm nghiệm nhiều lần, thấy ứng nghiệm, mới dám lập thành khuôn mẫu để dạy người. Thường khi xem được quẻ Huynh trì Thế, mà Thế gặp Không, Phá hoặc hóa Mộ, hoặc Nhật, Nguyệt tại hào Tài xung Thế, khắc Thế, hoặc Huynh Đệ trì Thế động mà hóa Tài, đều đoán là sẽ được của. Xem thử nhiều lần đều ứng nghiệm, nên mới dám mách bảo cho người. Nếu Huynh Đệ trì Thế mà không thuộc các trường hợp trên, thì không thể đoán như vậy.

Tài lai tựu ngã chung tu dị; ngã khứ tầm tài tất thị nan.

Tài đến tìm ta là rất dễ; ta đi tìm tài ắt khó khăn.

Sách xưa chú thích rằng: Nếu gặp hào Tài sinh Thế, hợp Thế, khắc Thế, trì Thế, đều là tượng Tài đến tìm ta. Nếu trong quẻ hào Tài tuy động nhưng không sinh hợp Thế, thì Tài đó không thuộc về mình.

Dã Hạc bàn rằng: Thuyết này cho rằng nếu hào Tài không sinh hợp hào Thế, thì Tài đó không thuộc về mình. Vậy thì như hai quẻ trên đây, đều là Huynh Đệ trì Thế, nhưng đều không được hào Tài tương sinh, tương hợp. Tóm lại, người đoán quẻ phải biết ứng biến linh hoạt, tường tận cái lý của Dịch, tự nhiên sẽ học một biết mười, không nên quá cứng nhắc.

Nguồn Tài Dồi Dào Và Những Điềm Xấu Đi Kèm Việc Cầu Tài

Cầu được tài rồi, chương sách còn dặn thêm những dấu hiệu cần đề phòng đi cùng mối lợi.

Phúc biến Tài sinh, lợi nguyên cổn cổn;

Phúc động sinh Tài, nguồn lợi dồi dào;

Tài được Tử động tương sinh, là Tài có nguồn, nên tài lợi dồi dào. Nếu được Tử động hóa Tài, hay Tài động hóa Tử, cũng tương tự như vậy.

Huynh thương Quỷ khắc, khẩu thiệt phân phân.

Huynh hại, Quỷ khắc, điều tiếng liên tiếp.

Hào Tài trì Thế mà hào Huynh động, không những Tài bị cướp đoạt, mà còn phải đề phòng tổn hại đến thân. Nếu Quỷ động khắc Thế, lại càng hung.

Giác Tử bàn rằng: "Hoàng kim sách" có viết: "Huynh cùng Quỷ khắc, khó tránh thị phi", tức hào Huynh động biến Quỷ, xung khắc hào Thế, không những không được của, mà còn phòng điều tiếng thị phi. Nói như vậy là không biết rằng, Huynh động mà biến Quỷ, tức hóa hồi đầu khắc, Huynh tự lo cho Huynh còn chẳng xong, còn sức đâu để khắc Thế.

Ví dụ: Ngày Bính Ngọ tháng Dậu, xem buôn bán có lợi không, được quẻ Sư biến Khảm:

Quẻ Địa Thủy Sư
Quẻ biến Khảm Vi Thủy

Đoán rằng: Hào Tài Ngọ hỏa trì Thế, bị hào Huynh động đến cướp Tài, may nhờ Huynh Hợi thủy hóa Tuất thổ hồi đầu khắc, hào Huynh bị khắc không cướp được Tài, nên đoán rằng việc buôn bán sẽ lợi.

Quả nhiên buôn bán có lãi. Sau đến tháng 9, em trai người này mắc bệnh mà chết. Ta lúc này mới ngộ ra rằng, đó là do hào Huynh Đệ Hợi thủy hóa Quỷ. Quẻ này hỏi về cầu tài, lại hiện ra điềm em chết. Trường hợp tương tự như vậy khá thường gặp, nên người học cần phải hết sức chú ý.

Tài cục hợp Phúc đức, vạn bội lợi nguyên khả hứa;

Tài cục hợp Phúc đức, là điềm lợi nhuận muôn ngàn;

Hào Thế cùng hào Tài, hoặc cùng hào Tử hợp thành tam hợp cục, là tượng tiền của chất chồng, lợi nhuận dồi dào.

Dã Hạc bàn rằng: Nếu hợp thành Tử Tôn Tài cục sinh Thế mới tốt. Còn nếu hợp thành Phụ cục, lại là tượng gian nan vất vả; hợp thành Huynh cục, là phá tài, đa đoan; hợp thành Quỷ cục, chủ về điều tiếng, tai họa, nếu khắc Thế lại càng hung.

Tuế quân phùng Kiếp sát, nhất niên sinh ý vô liêu.

Tuế quân gặp Kiếp sát, một năm bán buôn thua lỗ.

Kiếp sát tức hào Huynh Đệ. Nếu Huynh Đệ lâm Thái Tuế, chủ về cả năm phá hao.

Tân bình thích: Thường gặp Thái Tuế là Tài phục mà Không Phá, là một năm không có tài để cầu.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch