Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Quẻ Thủy Sơn Kiển: Thoán Từ và trọn sáu hào trong Kinh Dịch

Bói Dịch27/09/20264 phút đọc4 lượt đọc
Quẻ Thủy Sơn Kiển: Thoán Từ và trọn sáu hào trong Kinh Dịch

Trước mặt là sông, sau lưng là núi, tiến lui đều gian nan hiểm trở - Nguyễn Hiến Lê dịch trọn quẻ ba mươi chín, quẻ dạy cách sống giữa lúc khốn cùng: đi về Tây Nam thì lợi, về Đông Bắc thì bất lợi. Bậc bề tôi trung phải gánh hết gian nan này tới gian nan khác chỉ vì vua, vì nước chứ không phải vì mình...

Mục lục · 1 phần

Quẻ Thủy Sơn Kiển

Trên là Khảm (nước), dưới là Cấn (núi).

Ở thời chia lìa chống đối thì tất gặp mọi gian nan, hiểm trở, cho nên sau quẻ Khuê tới quẻ Kiển (gian nan).

Thoán Từ

蹇:利西南,不利東北,利見大人,貞吉
Kiển: Lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc, lợi kiến đại nhân, trinh, cát.

Dịch: Gian nan: Đi về Tây Nam thì lợi, về Đông Bắc thì bất lợi. Gặp đại nhân giúp cho thì lợi; bền giữ đạo chính thì mới tốt.

Giảng: Trước mặt là sông (Khảm), sau lưng là núi (Cấn), tiến lui đều gian nan hiểm trở nên gọi là quẻ Kiển. Phải bỏ đường hiểm trở mà kiếm đường bằng phẳng dễ đi, ở hướng Tây Nam, hướng quẻ Khôn, đừng đi hướng Đông Bắc, hướng quẻ Cấn. Dĩ nhiên chúng ta không nên hiểu đúng từng chữ Tây Nam và Đông Bắc, chỉ nên hiểu ý thôi.

Ở thời gian nan này, phải nhờ người có tài, đức (đại nhân) giúp cho thì mới thoát nạn (lợi kiến đại nhân), và phải bền giữ đạo chính.

Đại tượng truyện khuyên phải tự xét mình mà luyện đức (phản thân tu đức).

Hào Từ

Hào 1

初六:往蹇,來譽
Sơ lục: Vãng kiển, lai dự.

Dịch: Hào 1, âm: Tiến lên thì gặp nạn, lui lại (hoặc ngừng) thì được khen.

Giảng: Vào đầu thời gian nan, hào 1 này âm nhu, không có tài, tiến lên hay hành động thì xấu, chỉ nên chờ thời.

Hào 2

六二:王臣蹇蹇,匪躬之故
Lục nhị: Vương thần kiển kiển, phỉ cung chi cố.

Dịch: Hào 2 âm: Bậc bề tôi chịu gánh hết gian nan này tới gian nan khác là vì vua, vì nước, chứ không phải vì mình.

Giảng: Hào này cũng âm nhu, kém tài, nhưng đắc trung đắc chính, có đức, được vua (hào 5, dương mà cũng trung chính) phó thác việc nước, nên phải chống chọi với mọi gian nan, không dám từ, mặc dầu tự biết không chắc gì cứu nước, cứu dân được trong thời khó khăn này. Hoàn toàn không vì mình, đáng khen.

Hào 3

九三:往蹇,來反
Cửu tam: Vãng kiển, lai phản.

Dịch: Hào 3, dương: Tiến tới thì mắc nạn, nên trở lại.

Giảng: Hào này dương cương đắc chính, nhưng vẫn còn ở nội quái, tức chưa hết nửa thời gian nan; lại thêm hào trên cùng âm nhu, ứng với nó mà không giúp được gì, nên Hào từ khuyên đừng tiến, cứ quay lại với hai hào âm thì vui vẻ hơn; bề gì cũng là bạn cũ rồi.

Hào 4

六四:往蹇,來連
Lục tứ: Vãng kiển, lai liên.

Dịch: Hào 4, âm: Tiến tới thì mắc nạn, nên trở lại mà liên hiệp với các hào dưới.

Giảng: Hào này âm nhu, kém tài, đã tiến lên ngoại quái, quá nửa thời gian nan, nhưng lại gặp hiểm trở (ngoại quái là Khảm), cũng không nên tiến lên, mà nên lùi lại với hào 3, liên hợp với ba hào ở dưới, để thêm thế lực.

Hào 5

九五:大蹇,朋來
Cửu ngũ: Đại kiển, bằng lai.

Dịch: Hào 5, dương: cực kì gian nan, nhưng có bạn tới giúp.

Giảng: Ở giữa ngoại quái Khảm (hiểm) cho nên cực kì gian nan. Hào này như ông vua có tài, nhưng cũng khó thoát được hiểm. May có hào 2 đắc trung, đắc chính ứng với mình, sẵn lòng dắt các bạn tức các hào 1, 3, 4 tới giúp mình. Nhưng các hào ấy đều ít tài, trừ hào 3; như vậy là tay chân của 5 tầm thường cả, không làm nên việc lớn, nên Hào từ không khen là tốt. Cũng không dùng chữ lai, không bảo nên lùi vì địa vị nguyên thủ của 5 không cho phép 5 lùi được, lùi thì trút trách nhiệm cho ai?

Hào 6

上六:往蹇,來碩,吉;利見大人
Thượng lục: Vãng kiển, lai thạc, cát; lợi kiến đại nhân.

Dịch: Hào trên cùng, âm: tiến tới thì gian nan, lùi lại thì làm được việc lớn, tốt; nên tìm gặp đại nhân thì có lợi.

Giảng: Ở cuối thời gian nan, có cảnh tượng đáng mừng; hào này âm nhu, không một mình mạo hiểm được, nên quay lại giúp hào 5, bậc đại nhân (có tài đức), thì lập được công lớn (thạc). Tốt.

Gặp thời gian nan, nên thận trọng đợi thời. Riêng vị nguyên thủ phải tìm người tốt giúp mình, liên kết mọi tầng lớp để cùng mình chống đỡ.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Phần II - Kinh Hạ, quẻ 39.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch