Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Xu Cát Tị Hung: Hào Thế Và Tử Tôn Trong Phép Tránh Tai Họa

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch19/09/202616 phút đọc3 lượt đọc
Xu Cát Tị Hung: Hào Thế Và Tử Tôn Trong Phép Tránh Tai Họa

Người khách nằng nặc đòi qua sông sáng sớm để đòi nợ. Dã Hạc lão nhân xem quẻ thấy hào Thế lâm Không, đến giờ Thìn xuất Không ắt gặp nạn, bèn giữ khách lại ăn sáng, viện đủ lý do trì hoãn. Ăn xong, khách vừa ra tới bờ sông đã hớt hải quay lại tạ ơn cứu mạng: bốn chiếc thuyền lớn vừa sang sông đến giữa dòng thì gió lớn nổi lên, lật chìm hết, xác người trôi đầy sông. Tăng San Bốc Dịch gọi đây là phép tìm cát tránh hung: biết trước quẻ báo họa ở đâu, hào Tử Tôn trì Thế thì tai qua nạn khỏi, Kỵ thần động ở quẻ nội thì nên ra ngoài, động ở quẻ ngoại thì nên ở nhà. Nhưng một khi họa đã định sẵn trên sáu hào, con người có thể tự mình đổi vận hay không?


Thánh nhân đặt ra phép tìm cát tránh hung: từ chuyện thoát chết trên sông đến quẻ tránh giặc cướp

Thánh nhân làm ra "Dịch", nhằm giúp mọi người tìm cát tránh hung. Nếu như không tìm được cát, không tránh được hung, thì trước tác của thánh nhân nào có ích gì? Người đời xem quẻ phỏng có tác dụng gì? Có người thắc mắc rằng: "Họa năm họa tháng có thể tránh được, còn chuyện sống chết sao có thể tránh?" Ta đáp: "Người đường đường chính chính, tuy có cách tránh cũng không cần tránh."

Khang Tiết tiên sinh lúc lâm chung gọi các đệ tử đến giúp tắm gội thay áo, chúng đệ tử khóc mà nói rằng: "Tiên sinh sao chẳng dưỡng thần tịch cốc (tức học đạo thần tiên) để vui hưởng tuổi trời?" Khang Tiết tiên sinh bèn nói: "Nếu không sợ hai thầy họ Trình cười chê, thì làm thần tiên có gì khó?"

Chú thích: Khang Tiết (1011 - 1077): Tức Thiệu Ung, tự Nghiêu Phu, một nhà nghiên cứu bốc Dịch nổi tiếng thời Tống.

Chú thích: Hai phu tử họ Trình: Tức hai anh em Trình Hạo, Trình Di, hai nhà Lý học nổi tiếng thời Bắc Tống.

Bởi vậy mới nói: "có thể tránh được nhưng không muốn tránh". Còn như xem thấy chết tại sông nước, thì nên tránh xa sông ngòi; xem thấy chết vì hình tội, thì đừng nên phạm pháp. Làm như vậy, sẽ có thể hóa hung thành cát.

Ở Hán Khẩu vào ngày Nhâm Dần tháng Mão, xem đòi nợ có được không, được quẻ Ích biến Trung Phu:

Quẻ Phong Lôi Ích
Quẻ biến Phong Trạch Trung Phu

Người này muốn qua sông đòi nợ, do đã đòi nhiều lần mà chưa được, nên muốn làm ầm ĩ sự việc lên. Nay đến xem có đòi được nợ không?

Ta xem quẻ này, thấy Nhật thần Dần động hóa Tiến thần khắc Thế, mà hào Thế lâm Không, đến giờ Thìn sẽ xuất Không bị Nhật thần, Nguyệt kiến cùng hào động tương khắc, ắt sẽ có tai họa chết người. Nên giữ anh ta lại ăn sáng, đợi quá giờ Thìn rồi đi cũng chưa muộn. Anh ta rất muốn đi ngay, nhưng ta nhất quyết giữ lại. Đến khi ăn cơm xong, anh ta đến bên bờ sông, rồi vội vàng quay trở về tạ ơn cứu mạng. Ta hỏi: "Có chuyện gì vậy?" Anh ta đáp: "Sáng nay có bốn chiếc thuyền lớn sang sông, đến giữa dòng bỗng nhiên gió lớn nổi lên, các thuyền đều bị lật chìm, lúc này xác chết đầy sông. Nếu không nhờ ông kiên quyết giữ lại, chắc mạng này cũng hết rồi: "Ta bèn đáp: "Nếu theo số thì hoàn toàn không có cách nào cứu được, chắc chắn là nhờ công đức của ông, chứ tôi nào có công lao gì?"

Như vậy chẳng phải là tránh dữ hay sao?

Tối kỵ Quan Quỷ khắc Thế;

Kỵ nhất Quan Quỷ khắc Thế;

Khi xem về phòng tai ngừa nạn, mà hào Thế bị khắc là tượng không lành, hào Quỷ khắc Thế lại càng hung. Nếu Quỷ thuộc hỏa, cần đề phòng lửa; Quỷ thuộc mộc, đề phòng gặp nạn vì cây gỗ; Quỷ thuộc thủy, đề phòng chết đuổi; Quỷ thuộc thổ, để phòng tai nạn về đất đá, tường vách; Quỷ thuộc kim, đề phòng tai họa gươm đao, búa rìu. Bạch Hổ, Huyền Vũ chủ về giặc cướp, binh đao; Đằng Xà, Chu Tước chủ về kiện tụng thị phi, hỏa hoạn; Câu Trần chủ về ruộng đất, lao tù; Thanh Long tuy là cát thần, nhưng nếu khắc Thế cũng là điềm hung, chủ chết về tửu sắc, hoặc trong vui có họa.

Ngoài việc dùng ngũ hành, lục thần để xác định, cũng có thể tham khảo thêm Bát quái: Càn Đoài chủ về chùa miếu, thuộc hình kim; Khảm chủ về tai họa sông nước, chớ gần cung tên; Ly chủ về hỏa hoạn, lại chỉ các loài cua rùa; Chấn chủ về giặc cướp tàu, xe; Tốn cần đề phòng phụ nữ mưu gian; Khôn, Cấn chủ về đồng ruộng, núi rừng, lại chủ về bị bà già hoặc trẻ con lừa gạt. Phân loại có rất nhiều, người xem cần phải biết biến thông.

Ví dụ: Ngày Mậu Tý tháng Sửu, xem về giấc mơ, được quẻ Ích biến Trung Phu:

Quẻ Phong Lôi Ích
Quẻ biến Phong Trạch Trung Phu

Người này nằm mộng thấy thân mình dính đầy máu, xuống sông để rửa. Ta giải thích rằng: "Máu là tiền tài, rửa đi là điềm phá tài. Nay lại gieo được quẻ này, hào Đằng Xà động hóa Tiến thần khắc Thế khắc Tài, không những chủ về tiền tài bị cướp đoạt, mà còn cần đề phòng tai họa về mộc, vì cung Tốn thuộc mộc, lại có mộc động khắc Thế, chủ về gặp tai họa về mộc."

Người xem hỏi: "Làm cách nào để tránh được họa?" Ta đáp: "Hào Thế và hào mộc đều ở quẻ nội, nên ra ngoài sẽ tránh được họa. Tốn là tượng trưởng nữ (con gái lớn), đừng nên đam mê phụ nữ trẻ." Người này lại hỏi: "Ứng vào lúc nào?" Ta đáp: "Vào khoảng Lập xuân nên tránh đi." Người này bèn nói: "Năm hết Tết đến, đâu có thể đi xa được."

Không ngờ đến ngày Hợi tháng giêng, người này ngủ ở phòng vợ lẽ, bị giặc cướp châm lửa đốt nhà, của cải cháy sạch không, bản thân cũng bị gỗ đè thành thương. Nếu hôm đó không ngủ ở phòng người thiếp, hoặc leo được tường mà ra, thì có lẽ sẽ tránh được tai họa.

Độc nghi Phúc Đức tùy thân.

Chỉ nên Phúc Đức theo thân.

Xem về điềm mộng, về qua sông vượt biển, xem khi qua nơi hiểm trở, phòng ngừa bệnh dịch, xem về phòng bệnh, ăn uống ngộ độc, xem về hỏa hoạn, về kẻ thù hãm hại, xem về lánh nạn, về giặc cướp, xem khi đi đêm một mình, khi qua đêm tại chùa miếu, quán trọ, xem khi vào rừng lên núi, xem về âm mưu của kẻ thù, xem khi bị trọng tội, xem khi đi đến chỗ hoang vu... Phàm khi xem về các điều lo lắng, sợ hãi, phòng tai tránh họa, đều nên được hào Tử Tôn trì Thế hoặc Tử Tôn động trong quẻ. Phép xem xưa có câu: "Nếu được hào Tử Tôn vượng động, tai bay vạ gió thảy sạch không".

Ví dụ: Ngày Đinh Hợi tháng Ngọ, do mơ thấy chồng cũ về gọi đi, đã đi theo, nên xem được quẻ Ký Tế biến Lâm:

Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế
Quẻ biến Địa Trạch Lâm

Đoán rằng: Hào Thế Hợi thủy tuy lâm Nhật thần, nhưng không chống lại được nhiều hào thổ động tương khắc, mùa đông năm nay sẽ gặp tai họa. Quả nhiên đến tháng 9 bị tiểu sản thành lao, đến tháng chạp thì chết.

Lại ví dụ: Ngày Mậu Thân tháng Tuất, mơ thấy mẹ đã mất về gọi đi, cũng đã đi theo, xem được quẻ Tiệm:

Quẻ Phong Sơn Tiệm

Giấc mơ dữ đều giống nhau, nhưng kết quả sống chết lại khác nhau. Trong quẻ trước, hào Thế biến Quỷ, nên chết vào tháng chạp. Tại quẻ này, hào Tử Tôn trì Thế, nên không bị tai ương.

Giác Tử bàn rằng: Tuy hào Tử Tôn trì Thế là điềm tốt, nhưng nếu hào Thế gặp Nguyệt phá thì phải ra khỏi tháng mới tránh được lo âu. Nếu Thế lâm Không, đợi sang tuần xuất Không mới hết tai họa. Khi chưa xuất Không thì vẫn còn phải lo lắng không yên.

Ví dụ: Ngày Canh Thìn tháng Tị, xem về đề phòng tai họa, được quẻ Quải:

Quẻ Trạch Thiên Quải

Hào Thế ở Tử Tôn gặp Tuần Không, nên sự việc lo âu vẫn chưa kết thúc, nên còn phải lo lắng không yên.

Lại đến ngày Ất Dậu, xem được quẻ Vô Vọng:

Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng

Hào Thế tại Ngọ hỏa Tử Tôn, lại gặp Tuần Không, nên sự việc còn trăn trở chưa kết thúc.

Đến ngày Kỷ Dậu, lại xem, được quẻ Tiết biến Khảm:

Quẻ Thủy Trạch Tiết
Quẻ biến Khảm Vi Thủy

Ta đoán rằng: "Đến ngày Giáp Dần sự việc sẽ kết thúc." Người xem hỏi nguyên nhân, ta bèn đáp: "Hào Thế Tị hỏa động biến ra Tử Tôn Dần mộc, nhưng Dần lâm Không, may nhờ quẻ biến lục xung, nên sự việc sẽ kết thúc." Quả nhiên sự việc được giải quyết vào ngày Giáp Dần.

Đoán phương hướng: nội ngoại, xung khắc để biết nên đi hay nên ở

Biết trước mối nguy chỉ là bước đầu, còn phải định được nên tránh về hướng nào, ở lại hay rời đi mới thoát được họa.

Khắc tại nội, Thế tại ngoại, nghi ư ngoại tị;

Khắc tại quẻ nội, Thế ở quẻ ngoại, nên tránh ra ngoài;

Nếu Kỵ thần ở quẻ nội, động mà khắc Thế, nên đi ra ngoài để tránh họa. Nếu Kỵ thần ở quẻ ngoại, động mà khắc Thế, nên ở trong nhà để tránh họa.

Ví dụ: Ngày Đinh Mão tháng Dần, xem về lưu niên, được quẻ Phệ Hạp biến Khuê:

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Quẻ biến Hỏa Trạch Khuê

Ta đoán rằng: "Mùa thu năm nay ắt gặp nguy hiểm. Hào Dần mộc động lâm Nguyệt kiến hóa Tiến thần khắc Thế, lúc này là thời điểm mộc đang thịnh, nên chưa bị khắc hại. Tháng sáu (Mùi) và bảy (Thân) là lúc mộc gặp Mộ, Tuyệt, nên đề phòng tai ách về thổ mộc." Người xem hỏi: "Liệu có tránh được không?" Ta đáp: "Nên đi ra ngoài, sẽ tránh được." Người này lại hỏi: "Đi về phương nào thì tốt?" Ta đáp: "Bây giờ nên đi về hướng tây, sang tháng sáu tháng bảy, hãy đi về phía đông, vì tháng sáu tháng bảy mộc suy nhược, nên đi về hướng đông Chấn mộc."

Nhưng người này không ra khỏi nhà, cho đến ngày 7 tháng bảy, mơ thấy ác mộng, sang mồng 8 liền đi về hướng đông. Đến ngày 28 có động đất, nhà sập, mọi người đều bị thương, chỉ có người này tránh được.

Tân bình thích: Đi hướng nam tốt hơn.

Lại ví dụ: Ngày Kỷ Mùi tháng Mão, xem được quẻ Lý:

Quẻ Thiên Trạch Lý

Ta lúc này đi qua hồ Phàn Dương, bỗng gió lớn nổi lên, nước chảy xiết cuốn mất bánh lái, chiếc thuyền xoay tròn giữa hồ. Tiểu đồng gieo tiền được quẻ Thiên Trạch Lý. Ta thấy hào Tử Tôn trì Thế, ắt không có gì đáng ngại, tiếp tục kê gối ngủ yên. Lát sau lại một cơn gió mạnh thổi đến, đưa thuyền trôi vào bờ.

Lại ví dụ: Ngày Mậu Thân tháng Thân, do bị người ta uy hiếp, xem có bị kiện không, được quẻ Lữ:

Quẻ Hỏa Sơn Lữ

Ta đoán rằng: Hào Tử Tôn trì Thế, nên không đáng lo, chắc chắn sẽ không bị kiện, một đồng tiền cũng không phải bỏ ra, cứ mặc kệ họ. Nhưng sau xem kỹ lại, thấy hào Tài Dậu kim vượng, lại ở hào Ứng, nên lại nói: "Ta tuy khuyên ông không phải bỏ tiền, nhưng hào Ứng Tài rất vượng, tuy không có chuyện thị phi, nhưng e rằng chắc phải bỏ tiền ra mới xuôi." Về sau kẻ thù nhờ người giảng hòa, bất đắc dĩ phải trả tiền cho xong chuyện.

Thế tại ngoại, khắc tại ngoại, nghi ư gia cư.

Thế ở quẻ ngoại, khắc ở quẻ ngoại, nên ở trong nhà.

Hào Thế và Kỵ thần đều ở quẻ ngoại, thì không nên xuất hành, nên ở nhà, có thể tránh được họa. Nếu hào Thế và Kỵ thần đều ở quẻ nội, thì không nên ở nhà, nên lánh ra bên ngoài.

Trong chương "Xuất hành" có câu: "Lộ thượng hữu Quan nghi xuất ngoại; trạch trung hữu Quỷ mạc quy gia" (Trên đường có Quan nên xuất ngoại; trong nhà có Quỷ chớ về nhà), cũng là cùng một ý đó.

Ví dụ: Ngày Bính Tý tháng Mùi, xem kẻ nô bộc có gây họa hay không, được quẻ Giải biến Chấn:

Quẻ Lôi Thủy Giải
Quẻ biến Chấn Vi Lôi

Người xem biết có kẻ nô bộc thay lòng đổi dạ, muốn xử tội mà không có chứng cứ, nên mới đến xem quẻ. Trong quẻ này, nếu lấy hào Tài làm nô bộc để suy đoán là sai lầm, vì người xem có ý phòng ngừa lo lắng, nên chỉ xem Kỵ thần. Quẻ này hào Thế tại Thìn thổ, bị hai hào Dần mộc khắc thương, nên đoán rằng: "Không chỉ có người này, mà còn có đồng phạm khác." Người xem bèn hỏi: "Phải xử trí ra sao?" Ta nói: "Không có chứng cứ cụ thể, làm sao xử trí được! Nhưng mộc gặp Mộ tại tháng Mùi, gặp Tuyệt tại tháng Thân, nên chúng sẽ phải bại lộ vào hai tháng đó, ông nên đi ra khỏi nhà để tránh tai họa."

Người này nghe theo kế của ta, bỏ ra ngoài ở nửa tháng, thì hai nô bộc bỏ trốn, có một người đàn bà bỏ đi theo. Hỏi người đàn bà không bỏ đi, thì đáp: "Hai người kia có ý muốn hại chủ rồi bỏ trốn, do chủ nhà bỏ ra ngoài, nên không hại được."

Đó chẳng phải là phép tránh dữ hay sao?

Tị hoan ư sinh Thế chi phương; xu cát ư Phúc thần chi địa.

Tránh nạn ở phương sinh ra Thế; tìm cát ở đất của Phúc thần.

Khi xem về tránh nạn binh đao, giặc cướp, dịch bệnh, dưỡng bệnh, tránh kiện tụng thị phi, đều nên tìm đến phương sinh ra hào Thế và phương của hào Tử Tôn sẽ cát lợi. Nếu hào Tử Tôn động trong quẻ, bất kể là sinh Thế, khắc Thế hay trì Thế đều là tốt.

Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Tị, xem về tránh nạn binh đao, được quẻ Lâm biến Khuê:

Quẻ Địa Trạch Lâm
Quẻ biến Hỏa Trạch Khuê

Lúc này, quân phản loạn gây hại, quấy nhiễu gây họa khắp nơi. Người này vốn biết Dịch lý, xem được quẻ này, suốt ngày lo lắng không yên. Ta hỏi nguyên do, anh ta đáp: Tị, Dậu, Sửu hợp thành kim cục khắc Thế, hào Thế lại gặp Quỷ tại Đằng Xà, vận số đã hết, không thể tránh được.

Ta cười mà nói rằng: "Ông ở cùng một nơi với giặc, đảm bảo ông sẽ vô sự." Anh ta bèn hỏi: "Tại sao?" Ta bèn đáp: "Hào Tử Tôn hợp thành kim cục, khắc mất Quỷ bên thân, còn có gì đáng phải lo". Người này bèn hỏi: "Hào Dậu kim Tử Tôn vượng tại tháng Tị, lại hóa Tị hỏa, như vậy là khắc chứ sao lại cho là sinh được?" Ta đáp: "Hào Dậu kim được hai thổ Sửu Thìn tương sinh, làm sao lại cho là khắc được?"

Quả thực về sau nhiều lần gặp binh biến, đến tận năm Canh Dần mới được bình định, người này vẫn vô sự. Ta đã nói Tử Tôn là Phúc thần, quá thực ứng nghiệm. Người đời chẳng qua đọc sách không sâu, hiểu biết không thấu đáo, mới lầm cát thành hung như vậy.

Ví dụ: Ngày Bính Tuất tháng Tị, xem về phương chạy loạn, được quẻ Càn biến Đại Hữu:

Quẻ Càn Vi Thiên
Quẻ biến Hỏa Thiên Đại Hữu

Mọi người đoán rằng: Hào Tử Tôn Tý thủy được hào kim động tương sinh, nên phương bắc là phương cát.

Ta nói rằng: "Đoán như vậy là sai. Hào Huynh động hóa Tiến thần, là tượng phá tài. Hào Ngọ hỏa đắc lệnh mà sinh Thế, nên tránh về phương nam sẽ tốt." Những người tin lời ta đều tránh về phương nam. Sau quả nhiên giặc từ phương bắc tràn đến, phóng hỏa đốt làng, nhà cửa lúa má đều bị thiêu rụi. Đó chính là do hào Huynh Thân kim động, là tượng phá Tài.

Phương sinh Thế là phương tốt, phương Tử Tôn cũng là phương tốt. Nhưng cũng cần xem xét về vượng suy. Phương hỏa tuy là phương của Quỷ, nhưng vì sinh Thế, nên cũng là tốt.

Hào Thế định cách chết: bệnh tật, lục thần và ngũ hành gọi tên tai họa

Phương hướng đã định, nhưng khi họa không thể tránh, hào Thế còn phải gọi tên chính xác đó là bệnh gì, chết vì đâu.

Thế ngộ sinh phù, bách niên chính tẩm; Thân tao khắc hại, ngũ loại suy tường.

Thế được sinh phò, sống trăm tuổi chết yên ổn; Thân gặp khắc hại, phải xem xét rõ ngũ hành.

Khi xem cuộc đời kết thúc ra sao, cần phải xem hào Thế, nếu hào Thế vượng tướng hay được Nhật, Nguyệt, hào động sinh phò, hay động mà hóa cát, đều là tượng chết yên lành không bệnh tật. Nếu hào Thế bị khắc chế hình xung, cần kết hợp ngũ hành với lục thần để suy đoán. Nếu bị ngũ hành khắc, chủ về tật bệnh; lại thêm gặp Lục thân hung, chủ về chết bất đắc kỳ tử. Nếu hỏa khắc kim, chủ về bệnh ở phổi; thổ khắc thủy, chủ về bệnh ở thận; thủy khắc hỏa, chủ về bệnh ở tim; kim khắc mộc, chủ về bệnh ở gan; tỳ vị suy nhược, là do mộc vượng xung khắc thổ. Mắc bệnh về lưng, đường ruột, là do Cừu thần độc phát.

Nếu gặp Đằng Xà chủ về tâm hoảng sợ, gặp Thanh Long chủ về tửu sắc, Câu Trần chủ về chứng phù thũng, Chu Tước chủ về điên cuồng; gặp Bạch Hổ chủ tai họa về máu, Huyền Vũ chủ về giận dữ uất ức.

Bạch Hổ gặp kim Quỷ, khó tránh khỏi giặc cướp binh đao. Thanh Long gặp thủy Quỷ nên tránh xa sông hồ ao giếng. Đằng Xà, Chu Tước gặp mộc Quỷ chủ về phạm cung hình (thiến, hoạn), gặp hỏa Quỷ cần đề phòng chết cháy. Cũng có thuyết cho rằng Đằng Xà gặp mộc Quỷ chủ về thắt cổ. Câu Trần gặp thổ Quỷ chủ về lao ngục.

Ngạn ngữ có câu, "một kiểu sinh, trăm kiểu chết", nếu trong quẻ hiện thần, cần phải xem xét cho kỹ lưỡng.

Tân bình thích: Đây chỉ là cách đoán đại khái, không thể câu nệ. Thường gặp Cừu thần độc phát, nhưng không mắc bệnh về lưng hay đường ruột, trong các ví dụ tôi gặp, có người thắt cổ tự tử, có người uống thuốc độc tự sát, có người chết đuối, có người chết vì tai nạn xe cộ, có người chết vì bệnh, nói chung là rất nhiều, khi phán đoán cần phải linh hoạt, nếu trình bày chi tiết ở đây thì quá dài.

Ví dụ: Ngày Quý Hợi tháng Mùi, xem bị định tội gì, được Trung Phu biến Lâm:

Quẻ Phong Trạch Trung Phu
Quẻ biến Địa Trạch Lâm

Đoán rằng: Mộc Quỷ lâm Bạch Hổ, nên đã định tội chịu thắt cổ. May nhờ hào Thế lâm Nguyệt kiến, Quỷ mộc tuy động, nhưng hóa Dậu kim hồi đầu khắc. Quẻ ngoại phản ngâm, nên sự việc sẽ có thay đổi. Tuy tội thắt cổ đã định, nhưng sẽ có biến đổi.

Quả nhiên bị định tội thắt cổ, nhưng sau đó xét xử lại, được đổi thành tội sống.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch