Bài tổng quan
Thủy Phong Tỉnh: giếng không đổi, nước chẳng cạn chẳng đầy và đạo làm cho đến nơi
Người ta đã đi gần đến giếng, chưa kịp thả dây gàu thì chiếc bình vỡ tan, thế là công cả quãng đường đổ xuống sông xuống biển. Giếng có thể bùn, có thể rỉ, có thể sạch mà không ai múc... Bao giờ nước mới thật sự đến miệng giếng để mọi người cùng uống?
Mục lục · 8 phần
- 01Tỉnh là cái giếng: trên cây có nước
- 02Đổi ấp chứ không đổi giếng: nước chẳng cạn, cũng chẳng đầy
- 03Hào sơ lục: giếng bùn không ai múc, chim cũng không ghé
- 04Hào cửu nhị: giếng hang rỉ nước, chỉ đủ nuôi lũ cá giếc
- 05Hào cửu tam: giếng sạch chẳng ai múc, lòng đau vì ta
- 06Hào lục tứ: sửa lại thành giếng, siêng giữ điều thiện dù một mình
- 07Hào cửu ngũ: nước suối trong mát, ăn ngon
- 08Hào thượng lục: múc lên rồi thì đừng che đậy, để mọi người cùng dùng
Tỉnh là cái giếng: trên cây có nước
Quẻ số bốn mươi tám là Thủy Phong Tỉnh, thuộc hàng quẻ xấu, ứng với tháng ba. Tỉnh nghĩa là cái giếng, mang ý yên định chờ thời vận như chờ mạch nước giếng. Trên là Khảm, là nước; dưới là Tốn, ở đây không hiểu là gió mà hiểu là cây, tức đồ bằng gỗ như cái gàu.
Mộc thượng hữu thủy, Tỉnh. Quân tử dĩ lao dân khuyến tương.
Lời Tượng nói trên cây có nước là quẻ Tỉnh, tức cái giếng. Người quân tử nhìn đó mà an ủi dân, khuyên họ giúp đỡ lẫn nhau.
Câu thơ của quẻ đại ý rằng tiếng hô hào giúp nhau vang lên trước tiên; đường đi dù tiến chưa yên, cùng thời sẽ biến, động thì tốt lành.
Đổi ấp chứ không đổi giếng: nước chẳng cạn, cũng chẳng đầy
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói đổi ấp chứ không đổi giếng; nước giếng không kiệt mà cũng không thêm; người qua người lại đều đến múc nước giếng. Gần đến nơi, chưa kịp thòng dây gàu xuống mà đã bể cái bình đựng nước thì xấu. Theo hình tượng quẻ, trên là nước, tức Khảm, dưới là gỗ, tức Tốn; gỗ ở đây là cái gàu, có nghĩa là thòng cái gàu xuống nước để múc lên.
Theo hình tượng của cả quẻ: dưới cùng là một hào âm, như mạch nước; rồi tiến lên là hai hào dương, như lớp đất ở đáy giếng; tiến lên nữa là hào âm, tức nước giếng, lòng giếng; trên nữa là một vạch liền, tức cái nắp giếng; trên cùng là một vạch đứt, tức miệng giếng. Bản thể của cái giếng là ở đâu thì ở đấy; ấp còn có khi thay đổi, chứ giếng thì cố định; có nước mạch chảy vào giếng hoài nên nước giếng không kiệt, nhưng nước giếng chỉ lên đến một mực nào đó, không khi nào tràn ra.
Công dụng của giếng là ai ai cũng lại giếng để lấy nước; kẻ qua người lại luôn, người nào cũng nhờ nó mà có nước, nó giúp đỡ mọi người mà như vô tâm. Nói về việc người thì người đi lấy nước đã gần tới rồi, chưa kịp thòng dây gàu xuống mà đánh vỡ cái bình đựng nước thì thật uổng công; vậy làm việc gì cũng phải cẩn thận, đến nơi đến chốn để khỏi bị thất bại nửa chừng. Lời Thoán bảo giếng ở đâu ở đấy, không thay đổi như ấp, vì có đức cương trung của hào hai và hào năm. Lời Tượng khuyên người quân tử nên coi hình tượng cái giếng mà nuôi dân và chỉ cho dân cách giúp đỡ lẫn nhau.
Phan Bội Châu phụ chú: chỉ có mấy câu mà suy vào triết học rất có thú vị. Đạo trời đất ở giữa vũ trụ, mặc dầu cuộc đời bể dâu, thói đời nóng lạnh, mà trời đất vẫn cứ y nhiên. Thế là làng ấp đổi, giếng không đổi. Làng ấp là nhân tạo, giếng là thiên nhiên. Biến đổi là nhân tạo, không biến đổi là thiên nhiên. Đó là nguyên lý của tạo hóa. Lại nói về chuyện múc nước giếng, đó là cái ví dụ để nói về việc con người trong thực tế. Hễ làm một việc gì tất phải làm cho đến thành công, vô luận thờ một chủ nghĩa gì hay mưu một sự nghiệp gì, tất phải làm cho đến nơi mới thấy được kết quả của việc ấy. Nếu giữa đường mà vứt quách, hoặc gần tới nơi mà nghỉ bỏ, thì tuy chưa thất bại cũng gọi là thất bại.
Tỷ như người đi múc nước giếng, sắp sửa tới nơi nhưng chưa kịp thòng dây xuống, thình lình vỡ mất cái bình đựng nước, té ra công đi tới giếng hoàn toàn hỏng ráo, chẳng uổng công lắm hay sao. Xem câu ví dụ ấy thì biết rằng chương trình làm việc phải có ba giai đoạn. Đoạn thứ nhất là phải thăm dò cho ra giếng. Đoạn thứ hai là phải có công đi cho tới giếng và dụng công thòng dây xuống giếng, bao giờ múc được nước lên mới thôi. Đoạn thứ ba là trong thời gian ấy phải hết sức giữ gìn vật liệu dụng cụ, chớ để nửa chừng đổ vỡ; nếu không vỡ bình thì nước chắc về đến nhà, đó mới là thành công. Đau đớn thay, nước chưa kịp múc xong mà bình đã nứt vỡ, công phu đi tới giếng chẳng hóa ra dã tràng xe cát biển đông. Vậy nên làm việc gì mọi người cần có gan lớn mà cũng cần phải có tâm để ý những việc nhỏ; đó là cái thâm ý lời quẻ Tỉnh dạy cho chúng ta vậy.
Hào sơ lục: giếng bùn không ai múc, chim cũng không ghé
Hào âm, hào xấu. Giếng bùn không ăn được; giếng cũ không có con chim nào xuống uống nước. Chỉ những kẻ lạc hậu, cổ lỗ không theo kịp thời thế, không làm nên việc, kẻ mệnh yếu. Hào quá cổ lỗ, không dùng được, đổ đi như cái giếng cũ đầy bùn.
Tỉnh nê bất thực, cựu tỉnh vô cầm.
Hà Lạc nói không có đức thì đời cũng bỏ.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, ở vị thấp nhất, hào bốn ở trên cũng không giúp gì nó, chính là hạng người vô dụng, bất tài, nên ví như cái giếng không có mạch, bị bùn, không có ai lại lấy nước, chim muông cũng không tới.
Phan Bội Châu phụ chú: đây chỉ hạng người như nước giếng không ăn được, trong đời không ai dùng mình. Vì sao như vậy? Cái đó chỉ nên trách bản thân hào âm. Đã như giếng không ra giếng thì còn ai dùng đến mình nữa. Vậy nên chúng ta ở trong đời, muốn cho đời quý trọng mình, trước hết phải bồi dưỡng lấy nhân cách mình. Đức Khổng Tử nói rằng người ở trong đời chớ lo không ai biết mình, chỉ nên lo làm sao cho xứng đáng được người ta biết. Như hào âm này đã không đủ tư cách, tự mình không biết mình, làm sao mong được người biết mình.
Người mệnh hợp cách dù có tài đức cũng không gặp cơ hội công danh, than thân trách phận. Người mệnh không hợp cách thì thấp kém, ô nhiễm, tối tăm, thành bại chẳng ra sao; hoặc có bệnh kiết lỵ, lại khí tắc ở trên, có thể giảm thọ.
Về vận hạn: quan chức thoái nhàn, cầu danh không toại ý, kinh doanh trở trệ; số xấu thì khó thọ. Câu thơ của hào nói mây che, đường tối, trăng mờ; mây tan, trăng tỏ, hãy chờ đừng đi.
Hào cửu nhị: giếng hang rỉ nước, chỉ đủ nuôi lũ cá giếc
Hào dương. Giếng trong hang róc rách, nước bắn vào con cá giếc, cái vò nứt đã rò. Không có thời cơ tốt, phải lui về an dưỡng, đợi thời. Hào hai đắc trung nhưng không đắc vị, như người có đức nhưng không có lực để làm việc lớn; như cái giếng ít nước chỉ đủ dùng cho lũ ếch nhái; như cái vò nứt không đựng nước được.
Tỉnh cốc xạ phụ, úng tệ lậu.
Hà Lạc nói có đức nhưng lực không đủ phát động ra ngoài.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, có tài hơn hào một, nhưng địa vị cũng thấp, trên cũng không có người ứng viện cho, nên cũng không làm nổi việc đời; ví như cái giếng nước tuy trong nhưng nước mạch ít, chỉ rỉ ra đủ nuôi con giếc chứ không có người tới múc. Hào này khác hào một ở chỗ hào một vì bất tài mà vô dụng, hào này vì hoàn cảnh mà vô dụng.
Người mệnh hợp cách khó gặp được người lãnh đạo tốt, nên an phận, vui sống. Người mệnh không hợp cách thì ít học, vô danh, có tật nguyền.
Về vận hạn: quan chức về tự dưỡng; giới sĩ đợi thời; người thường cần thủ. Câu thơ của hào nói trời an tĩnh, bóng nhạn thưa dần, cành hoa mưa dầm, bên sông còn sầu.
Hào cửu tam: giếng sạch chẳng ai múc, lòng đau vì ta
Hào dương, hào bình, vừa tốt vừa xấu. Hào ba dương cương đắc chính, nhưng hào đối ứng là hào sáu âm sắp biến, như người quân tử không gặp được minh chủ, như nước giếng sạch mà không được múc lên dùng. Thế vận xấu: quan chức khó thăng tiến, khó thi thố tài năng; kẻ sĩ chưa gặp thời, khó thành sự nghiệp; nhà buôn kinh doanh khó khăn, phúc lợi ít; có thể có điều buồn phiền.
Tỉnh tiết bất thực, vị ngã tâm trắc, khả dụng cấp, vương minh, tịnh thụ kỳ phúc.
Lời hào nói giếng sạch chẳng ăn, vì ta mà lòng đau; nên dùng múc lên, nếu được ông vua sáng suốt thì cùng thụ hưởng phúc. Hà Lạc nói tiếc chưa được dùng, mà hứa sẽ đắc dụng.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương đắc chính, là người có tài, muốn giúp đời nhưng địa vị còn ở thấp, tức quẻ nội, không được dùng, ví như cái giếng nước trong mà không ai múc. Nếu được nguyên thủ sáng suốt dùng thì người đó giúp cho mọi người được nhờ.
Phan Bội Châu phụ chú: lời hào này chú trọng ở chữ lòng đau và chữ nguyên thủ sáng suốt. Hào ba dương là giếng sạch, là bản thân hào ba tốt đã đành. Nhưng tài trí hào ba là tài trí chung của xã hội; nếu xã hội nhiều cảnh trắc trở thì những hạng người lòng đau như hào ba dương bỏ hoài hay sao. Tức như có dân Ấn Độ ủng hộ thì thánh Găng-đi chẳng phải là người phải đi ở tù; có quốc dân Trung Hoa hưởng ứng thì Tôn Trung Sơn chẳng phải là người đi làm khách chốn xa lạ. Chính vì xã hội làm trắc trở, đau đớn quá nhiều nên kết quả họ không được dùng. Cho nên cần có nguyên thủ sáng suốt. Tức như có Thành Thang thì Y Doãn mới làm nên công cuộc đánh Kiệt cứu dân. Có Vin-hem đệ nhất thì Bít-mác mới làm nên phú cường cho nước Đức. Nếu không có nguyên thủ sáng suốt thì như hai người vừa nói, nước giếng trong có ai dùng cho.
Người mệnh hợp cách có đức có thể đem dùng, ơn huệ có thể giúp dân, công danh đạt, phúc tốt. Người mệnh không hợp cách không được thu dùng, không được hưởng lộc, chưa phát triển mấy, buồn thiu.
Về vận hạn: quan chức không được gặp cấp trên sáng suốt, giải nghiệm là hơn; giới sĩ khó gặp dịp may, hãy tu dưỡng; người thường thủ phận, số xấu có sự buồn thảm. Câu thơ của hào nói gặp thì kỳ tương phùng, hẹn kỳ làm lớn, tổ tông phúc dày.
Hào lục tứ: sửa lại thành giếng, siêng giữ điều thiện dù một mình
Hào âm, hào tốt. Giếng được xây sửa lại thì không lỗi. Đây là thời của sự tu dưỡng, trau dồi, như cái giếng được sửa sang lại. Quan chức nên điều trần; sĩ tử nên trau dồi thêm trí thức, phẩm hạnh, đợi thời; người thường lợi việc sửa chữa, tu tạo nhà cửa. Giữ điều thiện, dù chỉ một mình.
Tỉnh trứu, vô cữu.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, tài tầm thường, nhưng đắc chính, ở gần hào năm chí tôn nên nhờ hào năm mà làm được việc nhỏ, không có lỗi; ví như cái giếng mạch không nhiều, nhưng xếp đá ở thành và đáy thì nước mạch thấm vào, lắng lại, cũng tạm dùng được.
Người mệnh hợp cách cần hậu nhưng thiếu cả quyết, không lập được sự nghiệp đối với quốc gia, nhưng về mặt tu dưỡng thì cũng đẹp đẽ. Người mệnh không hợp cách thì trị tính được, nhưng không gặp cơ hội, ngoài thì khả quan, trong thì buồn.
Về vận hạn: quan chức nên điều trần; giới sĩ có sức học tập để đợi thời; người thường cày ruộng, đào giếng, hoặc xây đắp tu tạo. Câu thơ của hào nói sửa nhà gặp được thợ hay, tùng xanh chẳng sợ sương bay gió lùa.
Hào cửu ngũ: nước suối trong mát, ăn ngon
Hào dương, hào tốt. Giếng trong sạch, suối mát lạnh, ăn ngon. Quan chức lập được công, phúc lộc nhiều; kẻ sĩ gặp thời, công thành danh toại; nhà buôn kinh doanh đắc lợi; người thường gặp may mắn, công việc trôi chảy.
Tỉnh liệt, hàn tuyền thực.
Hà Lạc nói đức sáng, trọn vẹn, công thành.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, đắc trung ở ngôi chí tôn, có ân trạch với dân chúng, nên ví với nước giếng vừa trong vừa mát, lại múc lên được.
Người mệnh hợp cách có tài kinh tế, đức bao dung, công danh phú quý, lên cao. Người mệnh không hợp cách giữ nghĩa, an phận nghèo.
Về vận hạn: quan chức đức vị kiêm toàn; giới sĩ được tiến cử, lợi danh có đủ; người thường kinh doanh hoạch lợi. Câu thơ của hào nói nước ngon như suối trong veo, bên Đông trời mọc, nước reo, núi hùng.
Hào thượng lục: múc lên rồi thì đừng che đậy, để mọi người cùng dùng
Hào âm, hào tốt. Giếng nước múc lên, chớ che đậy, để mọi người cùng ăn; cứ thường thế mãi thì tốt nhất. Phúc lộc đã đến nên để mọi người cùng hưởng, chớ giữ lấy một mình, như nước giếng trong múc lên không được đậy kín. Tuế vận tốt: quan chức dễ thăng tiến, nhiều phúc lợi; sĩ tử toại chí, hoàn thành sự nghiệp; người thường kinh doanh phát đạt.
Tỉnh thu vật mạc, hữu phu, nguyên cát.
Hà Lạc nói đức trạch đã phổ biến, nên giữ gốc mãi.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này trên cùng tuy là âm nhu, nhưng ở cuối quẻ Tỉnh nó có cái tượng nước giếng đã múc lên rồi, nên để cho mọi người dùng chứ đừng che đậy, và cứ như vậy giúp đời mãi thì không gì tốt bằng. Chúng ta để ý, quẻ Tỉnh này có điểm đặc biệt là các hào càng lên cao càng tốt, tốt nhất là hào trên cùng. Thường các quẻ khác, hào trên cùng có nghĩa là cùng cực; hễ là quẻ tốt như quẻ Càn, quẻ Thái thì hào trên cùng xấu, nếu mà quẻ xấu như quẻ Bĩ, quẻ Khốn thì hào trên cùng tốt, vì luật cùng thì phải biến, tốt biến ra xấu, xấu biến thành tốt. Quẻ Tỉnh này với quẻ Đỉnh và một số quẻ nữa như Tiệm, tức là lúc thành công, cho nên đều tốt cả.
Phan Bội Châu phụ chú: bàn tóm tắt cả sáu hào quẻ Tỉnh, thấy lý tiếp nối rất chiếu ứng vào nhau. Bởi vì tên quẻ Tỉnh là mượn một vật mà nói về đạo lý; đầu đuôi sáu hào chỉ nói cái giếng, có thể chia làm ba đoạn. Một là hào sơ, hào hai ở về đoạn dưới; hào sơ lại ở vào đáy giếng có bùn nên nói giếng bùn; hào hai ở vị trí cao hơn hào một nên nói giếng trong hang, có mạch. Hai là hào ba, hào bốn ở vào đoạn giữa, vừa đúng khoảng trung tâm giếng; bùn ở thời hào sơ đã lắng trong nên thấy được giếng sạch. Nước mạch trong hang đến đây nhờ thành giếng đã được tu sửa nên trong trẻo hơn, gọi là giếng sửa lại. Ba là hào năm, hào sáu ở trên, thuộc về phần trên, nhưng hào năm chưa lên đến miệng giếng, công dụng của giếng chưa được hoàn thành. Đến hào sáu, nước đã lên khỏi giếng, là công dụng của giếng đến đó mới hoàn thành. Vậy nên trong sáu hào, hào trên được gọi là giếng múc lên, rất tốt. Xem suốt sáu hào thì lý lẽ vẫn rất hay, rất đúng; từ đó mà nói rằng lý luận và thực tế chẳng trái nhau bao giờ, rất đúng. Hiểu hay không hiểu, quyền tại người đọc.
Người mệnh hợp cách đức có thực, cách trị có gốc, ân trạch đổi dào, sự nghiệp lớn, danh thơm lâu dài. Người mệnh không hợp cách cũng tích đức, tuy không định chừng, mà có chí Đào Chu làm giàu.
Về vận hạn: quan chức công lớn, thăng cao; giới sĩ và người thường thành danh, của dùng sung túc, toại ý. Câu thơ của hào nói gió động mạnh, định núi xanh, khói tan, giếng lặng, ngon lành nước trong.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
