Bài tổng quan
Sơn Thủy Mông: suối mới chảy dưới chân núi và đạo thầy trò
Hỏi một lần thì thầy bảo, hỏi hai ba lần thì thầy im, vì lúc ấy chuyện học đã thành chuyện nhờn. Dòng suối nhỏ dưới chân núi mang theo cả đạo dạy người lẫn cách chế ngự điều xấu... Nghiêm đến đâu thì còn dạy được, quá tay thì đứa trẻ thành giặc?
Mục lục · 9 phần
- 01Suối mới chảy ra dưới chân núi
- 02Hào hai và hào năm: thầy cương, trò nhu
- 03Bức tranh chung: thời mông lung, thời để học
- 04Hào sơ lục: phép dạy kẻ ngu muội
- 05Hào cửu nhị: bao dung kẻ mờ tối, con gánh việc nhà
- 06Hào lục tam: thấy vàng liền bỏ thân
- 07Hào lục tứ: bị nhốt trong vòng hôn ám
- 08Hào lục ngũ: đứa trẻ chưa biết gì mà dễ dạy
- 09Hào thượng cửu: đánh bật cái ngu tối, đừng ép thành giặc
Suối mới chảy ra dưới chân núi
Quẻ số bốn là Sơn Thủy Mông, được xếp vào quẻ tốt, tiết khí thuộc tháng Tám. Mông nghĩa là muội: còn ngu tối, mờ mịt, cần được dẫn dắt. Cũng có nghĩa là non yếu, như dòng suối mới chảy ra chưa có hướng nhất định.
Theo tượng quẻ, phía trên là núi (Cấn), dưới chân núi có nước sâu (Khảm), nghĩa là tối tăm. Lại hình dung dưới chân núi có dòng suối trong vừa chảy ra, nhỏ bé như trẻ thơ, vì suối thì nhỏ, sông mới là lớn. Vì thế gọi là đồng mông, và quẻ có tên là Mông.
Dưới núi, suối mới chảy ra là quẻ Mông. Người quân tử lấy đó mà giữ nết cho quả quyết, nuôi đức cho cao.
Người sinh vào tháng Tám là đắc cách, có công danh phú quý. Bảng Hoa Giáp hợp quẻ đặt quẻ Mông vào các tuổi Giáp và Nhâm, ứng với các chi Tý, Dần, Thìn.
Hào hai và hào năm: thầy cương, trò nhu
Quẻ này đặc biệt chú trọng hai hào: hào hai và hào năm. Hào hai là dương cương đắc trung, làm chủ quẻ nội, đáng làm người thầy cương nghị, mở mang cái tối tăm cho trẻ thơ. Hào hai ứng với hào năm là âm nhu thuận mà cũng đắc trung, tượng học trò ngoan. Thầy trò gặp nhau tương đắc, việc học hành nhất định có kết quả tốt, nên quẻ có tính hanh thông.
Tính cách của thầy là cương, của trò là nhu, cho nên thầy không phải đi cầu trò, mà trò phải đi cầu thầy. Và khi dạy, trò hỏi một lần thì thầy bảo; hỏi hai, ba lần thì là nhàm, thầy không bảo nữa. Bảo mãi là nhàm chán trẻ thơ. Giữ được đạo chính thì có lợi, thành công.
Lời giảng thời xưa còn hiểu chữ "hỏi" theo nghĩa bói. Khi mới bói, người hỏi thành tâm đến cầu để giải sự mờ tối thì nên lấy đạo cương trung mà mở mang cho. Còn bói hai, ba lần là phiền nhiễu, là không thành tâm, là nhảm nhí khinh nhờn, không nên bảo nữa; bảo họ, họ cũng không thể tin nhận, lại làm nhàm cả lẽ trời của họ. Người hỏi lẫn người bảo đều phiền, đều nhàm.
Bức tranh chung: thời mông lung, thời để học
Quẻ Mông chỉ thời vận mông lung, mơ hồ chưa rõ rệt, mọi việc không biết đâu là phải trái. Đó không phải là thời cơ để hành động, mà là thời cơ để học tập, tìm người hướng dẫn.
Công danh sự nghiệp: thiếu người có quyền lực và trí tuệ chỉ bảo thì không thể hoàn thành, có cố gắng hết sức cũng vô ích. Tài vận: không có, khó kinh doanh. Tìm việc: khó khăn. Thi cử: chưa đủ sức. Xuất hành: chưa thuận vì chưa có mục đích rõ ràng. Kiện tụng: dây dưa, dễ thất bại. Tình yêu và hôn nhân: còn mơ hồ, tìm hiểu chưa kỹ, ít chắc chắn, khó thành.
Hào sơ lục: phép dạy kẻ ngu muội
Quẻ này thuộc mệnh nhà giáo. Hào sơ nêu phương pháp dạy trẻ thơ, cũng là cách giáo huấn kẻ ngu muội. Thời vận ban đầu có gian nan, nhưng giữ đúng đắn thì về sau tốt. Người thường hay bị kiện tụng, gièm pha. Số xấu dễ bị hình án; riêng nghề dạy học và luật gia thì dễ thành đạt.
Muốn mở trí ngu tối cho trẻ, có khi phải dùng đến hình phạt mới được, nhưng chỉ dùng để tháo gông cùm cho khỏi những thói xấu, rồi cảm hóa dần. Chớ đi quá đà kẻo hối tiếc. Hào âm này ở vị trí thấp nhất của quẻ Mông, tượng kẻ hôn ám nhất, nên phải dùng hình phạt để cởi gông cùm cho họ. Gông cùm ở đây còn được hiểu là gông cùm về sự mờ tối.
Mệnh hợp cách: gần bậc tôn quý, chuyên đi vào ngành giáo hóa đức nghiệp, không mưu cầu danh lợi, đi vào con đường biên soạn tài liệu giáo dục, xây dựng những điển hình; không cần quyền uy mà vẫn thưởng phạt được; gặp quý nhân, lập được đức nghiệp tốt, sau có công danh khá, phúc lộc nhiều. Mệnh không hợp cách: làm lương dân, người lành đủ ăn đủ mặc, không phải cảnh gian nan; là người ngay thẳng thật thà, có cuộc sống an nhàn.
Vận hạn: quan chức thuộc ngành giáo dục, nhà văn, nhà pháp luật; học trò bắt đầu thi cử; người thường hay vào cửa quan, xích mích với bạn bè, đấu tranh xô xát, bị dèm pha ám muội, nhưng sau cũng được giải thoát khỏi hoạn nạn. Số xấu còn dễ mắc hình phạt.
Hào cửu nhị: bao dung kẻ mờ tối, con gánh việc nhà
Bao dung kẻ mờ tối thì tốt; dung nạp hạng người nhu ám như đàn bà thì tốt; phận con mà sửa trị được việc nhà (ở ngôi dưới mà gánh vác việc trên). Hào này hợp với nghề dạy học và luật gia. Thời vận bình yên, trong ngoài đoàn kết, hôn nhân và gia đình thuận lợi. Làm đúng đạo thầy thì tốt.
Hào hai dương cương đắc trung nên báo hiệu một người có đức bao dung. Nó làm chủ quẻ nội, thống trị cả bốn hào âm, nên bảo là dung nạp được các hào âm (ví như đàn bà). Nó ở dưới thấp mà lại là hào quan trọng nhất nên ví với người con mà cai quản được việc nhà. Được hào này là tốt. Hào năm ở địa vị tôn quý trong quẻ tựa như người cha trong nhà, hào hai ở dưới như người con. Cha nhu nhược vì là âm, con cương cường sáng suốt vì là dương, cảm hóa được cha, làm cho cha hết hôn ám, như vậy là con sửa trị được việc nhà.
Mệnh hợp cách: bậc hiền tài lớn, đại lượng, bao dung được mọi việc, giữ hòa khí với mọi người, trung hiếu vẹn toàn; hiền lương, lòng bao dung lớn, đoàn kết được mọi người, giữ êm ấm họ hàng làng xóm, có phúc. Mệnh không hợp cách: khởi gia lập nghiệp, có quý nhân; thẳng thắn công bằng, lập được nghiệp, giữ được gia đình yên vui.
Vận hạn: quan chức nên giữ phận mình; học trò, sinh viên nên vào ngành sư phạm; người thường được nhân tình hòa hợp, mọi việc đều thành, hôn nhân tốt lành, sinh nở khỏe mạnh, khi động khi tĩnh đều bình an.
Hào lục tam: thấy vàng liền bỏ thân
Hào này xấu: không thành đạt vì lười nhác, sống buông thả. Quan chức tham nhũng, gian trá. Sĩ tử kém tư cách, tửu sắc, nhiều tiếng xấu. Người thường bê tha, kinh doanh thất thoát. Lời dặn là đừng dùng hạng con gái thấy trai có vàng thì coi thân mình như chẳng có, vì chẳng có lợi gì cả. Hào ba không trung, không chính, mà hào sáu lại là dương, tức là kẻ yếu hèn bán rẻ danh phận, không đáng thu dùng.
Hào này lấy tượng cô gái đáng chê, nhưng không chỉ chuyên nói về phụ nữ: nó còn nói đến bọn tiểu nhân tham vàng bỏ nghĩa. Xưa có người đổi vua này thờ vua khác, làm quan trải qua năm đời vua, là ứng với hào này. Ai có quyền dùng người hãy nhớ loại bỏ hạng người đó. Dù là người học rộng biết nhiều, có danh lợi, nhưng cũng là kẻ bỏ gốc theo ngọn, bỏ chính theo tà.
Mệnh hợp cách: hám lợi cầu vinh, bỏ chính theo tà, dù học nhiều biết rộng cũng bỏ đi, không tạo dựng được sự nghiệp; nữ mệnh là ca kỹ, lo phận đi tu hoặc làm tỳ thiếp. Mệnh không hợp cách: có thói thâm hiểm, khua môi múa mép, nói nhiều làm ít; bôn ba bụi đời, lao lực, tâm thần; loại bụi đời kiếm sống, nham hiểm, tham lam, không đáng tin cậy.
Vận hạn: quan chức tham nhũng nhục nhã; học trò bỏ học tránh nghề; người thường bị dư luận chê bai hoặc mắc họa tửu sắc, nên yên tĩnh đề phòng mọi việc.
Hào lục tứ: bị nhốt trong vòng hôn ám
Khốn vì trẻ ngu tối, hối tiếc. Hào này biểu thị sự khốn đốn của kẻ ngu muội: cô độc, không người giúp đỡ, khó thăng tiến, khó thành đạt, không biết cách làm ăn kinh doanh. Bị khốn trong vòng hôn ám, hối tiếc. Cái hại là không biết làm thân với người giỏi để học.
Trong quẻ Mông chỉ có hào hai và hào sáu là dương cương, có thể cởi mở sự hôn ám; bốn hào kia đều là âm. Hào bốn cũng hôn ám như hào ba, nhưng còn tệ hơn, vì ở xa hào hai dương (hào ba còn ở gần hào hai dương), xung quanh toàn là âm (hào ba và hào năm đều âm), giống như bị nhốt trong vòng hôn ám. Nó phải hối tiếc, xấu hổ, vì trong bốn hào âm chỉ có một mình nó ở xa các hào dương, tức là phải xa những người hiền minh, càng khốn trong vòng tối tăm. Tư chất đã khốn nạn mà lại không chịu học, tất chỉ là hạng hạ lưu mà thôi.
Mệnh hợp cách: tuy có tài nhưng khó gặp được minh chủ, cứ thui thủi giữ tiết một mình, uổng tài ở nơi hẻo lánh. Mệnh không hợp cách: ít giao thiệp, hay khoe khoang, hiếm con cháu, chỉ nên làm tăng đạo; người cô độc lẻ loi, không bạn bè, không người thân, khó thành gia thất, trở thành người dở hơi xa rời thực tế. Nên làm tăng lữ thì hơn.
Vận hạn: quan chức không người đỡ đầu, không ô dù, hoặc tay chân chậm thăng hướng; học trò không ai đề cử, khó tiến thân; người thường nhân tình lạnh nhạt, kinh doanh trắc trở. Yên tĩnh thì hơn, động càn có hại.
Hào lục ngũ: đứa trẻ chưa biết gì mà dễ dạy
Bé con chưa biết gì nhưng dễ dạy, tốt. Thời nhiều người chất phác thật thà, yên vui, ít điều khó xử. Cách dùng người tài phải chí thành thì sự nghiệp trị nước mới có kết quả.
Hào năm âm nhu nhưng đắc trung, địa vị tôn quý, biết nép mình tìm người hiền, tín nhiệm hào hai dương ở dưới, như vua biết nương dựa vào hiền thần. Nhờ có đức nhu thuận khiêm tốn, dốc lòng nghe thầy, lại được người thầy cương minh như hào hai nên kết quả tốt.
Mệnh hợp cách: trẻ tuổi mẫn tuệ, đồng thời khiêm nhường, dễ thành tài khi còn trẻ; nhờ phúc tổ được chọn ra đảm nhiệm việc lớn, công việc trôi chảy. Mệnh không hợp cách: an phận thủ thường, không điều tiếng gì; chân thật hiền lành, không tranh giành cãi vã với ai, cuộc sống an lạc hạnh phúc. Vận hạn: mọi giới đều được vừa lòng, toại ý.
Hào thượng cửu: đánh bật cái ngu tối, đừng ép thành giặc
Giáo dục trẻ con cũng như phép trị dân: nếu công kích quá vào sự ngu tối, có khi làm cho trẻ phẫn uất chống lại mà thành giặc, không lợi. Phải biết ngăn chặn thói xấu như ngăn phòng giặc mới có lợi. Hào này hợp với những người làm công việc giữ an ninh trật tự, ngăn ngừa điều xấu. Người thường cũng có cơ may phát đạt, nhưng cần đề phòng trộm cướp, mất của, kiện tụng hoặc bị cấp dưới làm hại. Có danh vị lợi lộc, hoặc sớm được tuyên dụng, hoặc lập chiến công.
Hào này ở trên cùng quẻ Mông, nghĩa là sự ngu tối đến cùng cực. Nó ở trên cùng mà bất trung, nên tuy có tài mở mang sự mê muội nhưng quá nghiêm khắc, có thể làm cho kẻ ngu tối phẫn uất, phản kháng, bất tuân giáo hóa, có thể thành giặc, có hại. Nên tìm cách ngăn ngừa những kích thích ham muốn không lành mạnh từ bên ngoài. Cả thầy lẫn trò đều thuận đạo lý.
Hào nói về việc dạy người nhưng không chỉ riêng dạy người. Suy rộng ra là việc giáo hóa những loạn dân hoặc chế ngự đám tiểu nhân, thì thầy cũng không nên quá cương, chuyên bằng một cách công kích. Gặp người bất nhân mà ghét nó quá đáng, khác nào ép nó thành loạn, hại thêm.
Mệnh hợp cách: thường làm những chức quản lý, thanh tra, kiểm tra việc binh; là người hiểu biết, biết cách trị dân, giữ được sự nghiệp có công, phúc lộc bền. Mệnh không hợp cách: người có chí khí, không nhận việc lớn mà cũng không chọn chức nhỏ, hoặc làm người quản lý nơi hương thôn có quyền hành; có khí tiết, là chức sắc địa phương, biết cách ngăn ngừa điều xấu, giữ yên xóm làng, duy trì được phúc lộc. Vận hạn: quan chức giữ việc ngăn giặc; học trò lập công bắt được giặc cướp; người thường phòng kiện tụng tranh giành, bị trộm cắp hay kẻ dưới làm hại.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
