Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Tổ nghiệp ông cha thịnh hay suy lộ ra trong Tứ trụ

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202610 phút đọc1 lượt đọc
Tổ nghiệp ông cha thịnh hay suy lộ ra trong Tứ trụ

Có người sinh ra giữa cơ ngơi hàng ức vạn mà đến đời mình vẫn trắng tay, có người cha ông nghèo xơ xác nhưng về già lại giàu nhất vùng. Tám chữ giờ sinh để lộ khá nhiều về ngôi nhà mình sinh ra, nhưng chưa bao giờ nói thay cho đời mình. Vậy đâu là những dấu hiệu nhà gốc vững, đâu là vết nứt báo trước cảnh phiêu bạt...


Giàu hay nghèo của một con người không đi thẳng ra từ cơ ngơi ông cha để lại. Điều quyết định trước hết là cách tám chữ của chính mình sắp xếp với nhau, rồi đến công sức mình bỏ ra nhiều hay ít. Tổ nghiệp trong Tứ trụ chỉ là một dấu hiệu thông tin về chuyện nhà gốc thịnh hay suy, không phải bản án cho cả đời.

Có người sinh ra giữa cơ nghiệp hùng hậu, nhưng nhật chủ yếu, không thắng nổi tài, nên chẳng giữ được bao lâu. Của cải ông cha tan nát ngay trong tay mình, người như thế không thể gọi là mệnh phú quý. Ngược lại, có người sinh ra trong cảnh cha ông túng thiếu, nhưng tổ hợp Tứ trụ lại tốt; chỉ vì vận tốt chưa đến nên cuộc sống còn chật vật, đến khi vận về thì thành phú ông. Người ấy mới đáng gọi là mệnh phú quý. Chuyện này ngoài đời gặp rất nhiều.

Những dấu hiệu cho thấy nhà gốc phú quý, hưng thịnh

Muốn biết nếp nhà của cha ông, hãy nhìn trước hết vào nếp nhà in trên trụ năm và trụ tháng, vì đó là hai ngôi đứng cho đời ông và đời cha.

Trụ năm và trụ tháng cùng có tài, quan, ấn thì giàu sang kéo dài ba đời. Hai trụ ấy có tài và thực thì cơ nghiệp tổ tiên hưng thịnh. Tài và quan ở trụ năm nâng đỡ lẫn nhau thì người đời sau được hưởng phúc của ông cha. Quan đứng vào địa vượng thì tiền nhân vinh hiển. Quan và ấn ở trụ năm, trụ tháng gặp vượng địa thì gốc rễ tổ nghiệp dày dặn. Trụ năm đóng vai dụng thần thì mình thừa hưởng được tài sản tổ tiên để lại.

Tài gặp vượng địa mà không bị phá hại thì nếp nhà thịnh. Ấn thụ không bị tổn thương lại còn sinh cho thân thì nhà cửa sang quý. Trụ năm gặp chính lộc, chính ấn, chính tài mà không bị phá thì tiếng thơm của tổ nghiệp truyền lại cho mình. Tài ẩn trong chi mà quan lộ trên can thì nhà thịnh vượng. Tài ở mệnh có khí là được hưởng của cha ông. Thân vượng và tài vượng thì cả đời vui thú với ruộng vườn ông cha để lại.

Có người bỗng nhiên hiển đạt, thành công; ấy là nhờ hình xung mà gặp được quý thần. Can năm làm dụng thần là điềm tốt, nghĩa là được âm đức của cha ông che chở. Tài, thương, ấn ở trụ năm mà đắc địa, hoặc gặp thiên ất quý nhân, thiên đức, nguyệt đức, thì đời cha ông phú quý. Can năm đóng đế vượng lại gặp quan thì tổ tiên phú quý. Tài vượng sinh quan thì tuổi còn trẻ đã thành nghiệp. Ngày thông được với lệnh tháng thì nhờ tổ tiên mà yên ổn.

Năm lá số nhà gốc giàu có

Lá số thứ nhất là của một nam mệnh: năm Mậu tí, tháng Mậu ngọ, ngày Quý dậu, giờ Ất mão. Với nhật chủ Quý, hai can Mậu của năm và tháng đều là quan, can Ất của giờ là thực thần. Trụ năm và trụ tháng đều là quan và đều đóng vượng địa, nên gốc rễ tổ nghiệp rất dày.

Lá số thứ hai là của một cô gái họ Trương, sinh năm Quý tị, tháng Giáp tí, giờ Đinh mão. Mùa thu năm 1990, nhìn thấy tài và quan của năm và tháng đều ở vượng địa, người xem nói ngay nhà gốc của cô phú quý. Cô thừa nhận đời ông nội là nhà đại phú.

Lá số thứ ba là của một người đàn ông buôn bán, sinh năm Quý tị, chi tháng là hợi, ngày Bính tí, giờ Đinh dậu. Can giờ Đinh là kiếp tài của nhật chủ Bính. Năm 1991, người xem thấy tài của trụ năm nằm ở cung trường sinh và còn sinh ra quan vượng, nên đoán rằng nhà ông rất giàu và ông được hưởng sản nghiệp ông cha. Ông xác nhận đúng như vậy.

Lá số thứ tư là của một ông họ Vương, năm Ất dậu, tháng Đinh hợi, ngày Quý mão, giờ Bính thìn. Tháng 5 năm 1991, câu đầu tiên người xem nói là cha ông ông giàu, gia tư hàng ức vạn. Ông nhận là đúng và vẫn còn hưởng phúc ấy. Với nhật chủ Quý, Ất giờ là thực, Đinh tháng và Bính giờ là tài. Lá số này khớp với điều đã nói: trụ năm và trụ tháng có tài, có thực thì tổ nghiệp hưng thịnh.

Lá số thứ năm là của một ông họ Dương, năm Bính dần, tháng Tân mão, ngày Quý mão, giờ Bính thìn. Tháng 5 năm 1991, người xem nói ông không chỉ là nhà tư bản lớn mà cha ông cũng rất giàu. Ông kể chính nhờ cha ông giàu nên trước năm 1949 ông đã ra Hồng Kông. Nhật chủ Quý thấy Bính hai lần là tài, Tân mão là kiêu. Câu "tài gặp vượng địa thì nếp nhà hưng thịnh" và câu "thân, tài đều vượng thì suốt đời vui thú ruộng vườn cha ông" cùng ứng vào một lá số.

Những dấu hiệu nhà gốc sa sút, phải rời quê

Cũng một cành cây ấy, khi gốc bị mối mọt thì ngọn héo trước. Tám chữ cũng có những vết nứt báo trước chuyện nhà tan, người xa.

Ấn bị tổn thương thì nhà cửa sa sút dần, người phải rời xa quê hương; nếu ấn rơi vào đất tử tuyệt thì còn mất cả chức quan. Lệnh tháng bị xung khắc thì bại sản tổ nghiệp. Năm và tháng xung nhau thì khó giữ nổi cơ nghiệp. Kình dương, thất sát cướp tài mà tài hóa thành xấu thì nhà sa sút, người xa quê. Ấn tinh bị thương thì làm hỏng tổ nghiệp, bỏ quê mà đi. Trụ giờ làm tổn thương ngày và tháng thì gia tài tự phá.

Năm, tháng, ngày hợp với quý nhân, trạch mã hay ấn thụ mà không bị khắc hại, hình xung thì tổ nghiệp phú quý vinh hoa. Ngược lại, kho bị phá mà còn gặp xung thì nhà sa sút dần. Thiên ấn gặp kình dương thì xa quê hoặc đi làm tăng đạo. Trụ năm gặp thất sát, kình dương, kiếp tài, kiêu thần thì cha ông nghèo đói. Trụ năm rơi vào tử, tuyệt, mộ hoặc bị hình xung khắc hại thì ông cha phiêu bạt lênh đênh.

Thiên quan mà có chế ngự thì không phải điều hung, vẫn đủ cơm áo. Tứ trụ có cả vong thần lẫn thất sát thì cha ông chẳng để lại gì. Ngày và giờ có thìn tuất xung nhau thì rời bỏ quê hương lại là điều tốt. Cách góc, tam hình là cốt nhục hình khắc nhau, phải bỏ quê mà đi. Tài tinh bị phá cũng là dấu rời quê. Kiêu thần đóng ở trụ năm thì phải rời quê. Trụ năm gặp kình dương là người phá tổ nghiệp. Lệnh tháng gặp kiến lộc thì khó giữ tổ nghiệp. Chi tháng giống chi năm thì không có tổ nghiệp. Trụ ngày đi ngược với kiến lộc và trạch mã thì phá nghiệp tổ, rời quê.

Trụ năm làm thương tổn quan thì đời cha tốt, đời ông kém. Trụ ngày hưu tù mà tài quan vượng thì nhà chồng thịnh nhưng nhà vợ mất tổ nghiệp. Năm tháng không có tài quan, nhỏ đã gặp vận bại thì phá nhà xa quê. Trụ ngày vượng mà không chỗ dựa thì đi xa; nếu không dời chỗ ở thì sẽ chết nơi đất khách. Hàm trì hợp với quan thì nhà sa sút, người xa nhau. Thực thần gặp kiêu thần rồi gặp tài thì nhà tan người mất. Tứ trụ có cả kiêu lẫn thực thì nghèo xơ xác. Ấn thụ bị thương thì khó giữ của cha ông. Trụ năm là kị thần thì cha ông nghèo rách. Trụ năm là thất sát, tỉ kiếp, thương quan thì cũng đói rách. Can năm đóng tử, tuyệt, mộ hoặc bị hình xung khắc thì tổ tiên suy bại. Lộc bị xung phá thì đi xa.

Thân vượng không chỗ dựa, lại gặp trụ năm xung lệnh tháng thì lập nghiệp xa quê. Thân bị phá không chỗ nương, nếu không rời tổ nghiệp thì cũng phải đi xa. Thân và tài đều nhược thì khó giữ gia nghiệp. Thổ khô, thủy cạn là người phá tổ nghiệp, bỏ quê. Mộc nặng, thổ nhẹ thì suốt đời phiêu bạt. Ngũ hành phản nhau thì tuy đang yên vẫn phải đề phòng nguy cơ. Sát nhiều thì tuy đang yên cũng phải lo xa. Mã rơi vào không vong thì lưu lạc khắp nơi. Ngày giờ mão dậu xung nhau thì cả đời dời chỗ ở. Âm dương xô lệch thì bạn bè ít.

Trụ năm gặp trạch mã thì cha ông đi buôn bán ở ngoài. Trụ tháng phá tài quan thì cha ông nghèo, chẳng để lại gì, mình tay trắng dựng cơ đồ. Kiêu thần đóng ngôi tí là phá mộ tổ. Tứ trụ đều có kiêu và ấn thì cha ông lênh đênh. Tài tinh bị phá thì hết ruộng vườn, bỏ quê đi. Trụ năm có thất sát, tỉ kiếp thì cha ông không có một tấc đất, rời xa quê hương. Trụ ngày xung khắc trụ năm thì không dựa được vào cha ông. Tài phúc mất là khuynh gia bại sản. Trạch mã không hợp thì bỏ quê.

Sáu lá số nhà gốc suy bại hoặc rời quê

Một người họ Dương, năm Quý dậu, tháng Đinh tị, ngày Canh thìn, giờ Đinh hợi. Với nhật chủ Canh, Quý năm là thương, Đinh tháng và Đinh giờ là quan. Trụ năm có thương quan lại phục thêm kình dương, đúng câu về dấu hiệu phá tổ nghiệp.

Một nữ mệnh, năm Bính tí, tháng Kỷ hợi, ngày Quý hợi, giờ Bính thìn. Can năm rơi vào đất tử tuyệt nên ứng với điều tổ nghiệp suy bại.

Một nam mệnh, năm Bính tí, tháng Canh tí, ngày Quý mùi, giờ Quý hợi. Tài ở năm, ấn ở tháng, tỉ ở giờ. Chi tháng trùng chi năm nên không có tổ nghiệp.

Một nam mệnh, năm Đinh sửu, chi tháng mùi, ngày Bính thân, giờ Canh dần. Hai trụ năm và tháng đều là kiếp tài. Trụ ngày và trụ giờ đều gặp tài nên tự mình thành gia lập nghiệp, tổ nghiệp thì rất nghèo. Về sau, khi đất nước mở cửa, người này giàu vọt lên.

Ông Lưu, năm Kỷ sửu, tháng Kỷ tị, ngày Tân hợi, giờ Kỷ hợi. Tháng 4 năm 1991, ở Xingapo, người xem thấy lá số có kiêu ở năm, tháng và giờ, tức nhiều kiêu thần nên đoán ông bỏ tổ nghiệp, rời quê. Ông cho biết cha ông rất nghèo, chính ông cũng nghèo nên phải đi làm thuê ở mấy nước.

Một nam mệnh ở Thái Lan, năm Ất hợi, tháng Giáp thân, ngày Bính dần, giờ Kỷ sửu. Người này không phải nhà tư bản lớn nhưng cũng là một phú ông. Năm là ấn, tháng là kiêu, giờ là thương. Trong Tứ trụ có cả kiêu lẫn ấn, nên đời cha ông nghèo, phải phiêu bạt sang Thái.

Người tự mình dựng nên cơ nghiệp

Có những lá số không mượn được bóng cây nào, vì ngay từ đầu đã đứng giữa nắng.

Năm và tháng không có tài, quan; ngày và giờ cũng không có tài, quan thì người ấy tự phấn đấu mà thành. Trụ tháng phá tài quan thì cha ông nghèo, mình dựng cơ đồ từ hai bàn tay trắng. Trụ ngày và trụ giờ cùng gặp tài thì cũng tự thành gia lập nghiệp, như người đàn ông sinh năm Đinh sửu vừa nhắc: tổ nghiệp nghèo mà về sau vẫn giàu lên.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc