Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Tìm Đất Tốt: Hào Thế Định Huyệt, Hào Tử Tôn Định Phúc Con Cháu

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch20/09/202610 phút đọc2 lượt đọc
Tìm Đất Tốt: Hào Thế Định Huyệt, Hào Tử Tôn Định Phúc Con Cháu

Ngày Mậu Tý tháng Mão, một người xem về đất, được quẻ Tốn biến Thăng. Hào Thế là huyệt, lại lâm Nguyệt kiến, được Nhật thần Tý thủy tương sinh, đúng là đất lành. Chỉ hiềm quẻ ngoại có chỗ đáng ngại mà Dã Hạc lão nhân đã chỉ ra. Người ấy vẫn cứ mai táng nơi đó. Trong vòng bốn năm, hai con trai một con gái nối nhau qua đời, bản thân mắc chứng bán thân bất toại. Một quẻ khác lại cho miếng đất phía tây nam, an táng năm Mão, đến năm Dậu con cả thi đỗ, con thứ ba cũng đỗ theo. Cùng là đất được khen lành, cớ sao một nơi phát phúc, một nơi tuyệt tự?


Tìm Đất Tốt: Hào Thế Là Huyệt, Hào Tử Tôn Là Phúc Phần Con Cháu

Thế hào vượng tướng, tổ phụ hồn an; Phúc đức hưng long, nhi tôn cẩm tự.

Hào Thế vượng tướng, tổ tiên bình yên; Phúc đức hưng long, cháu con vượng phát.

Theo sách xưa, có phép coi hào 2 là huyệt, hoặc coi quẻ nội là huyệt, hoặc coi Đằng Xà là huyệt, ta thử nhiều lần không thấy ứng nghiệm. Chỉ thấy lấy hào Thế làm huyệt là ứng nghiệm. Hào Thế cần vượng tướng, hoặc lâm Nhật, Nguyệt, hoặc được Nhật, Nguyệt, hào động sinh phò, thì đó là cát địa. Con cháu là hậu duệ tế bái, nên được Tử Tôn trì Thế là tốt, hoặc được hào khác vượng tướng, đều là tượng con cháu thịnh vượng.

Tam hợp Lục hợp, tụ khí tàng phong; Thế xung Lục xung, phi sa tẩu thạch.

Tam hợp, Lục hợp, là nơi tụ khí tàng phong; Thế xung, Lục xung, ắt chốn cát bay đá chạy.

Nếu được quẻ Lục hợp, hoặc hào Thế và hào Tử Tôn hợp thành Lục hợp, thì đó là huyệt tốt tụ khí, mai táng nơi đó, sẽ được đời đời hưng thịnh. Nếu gặp quẻ Lục xung, hoặc quẻ Lục xung biến Lục xung, hoặc Thế, Ứng tương xung, gặp xung sẽ tán, nên không thể tụ khí.

Lục xung biến hợp, địa dĩ khứ nhi phục lai; Lục hợp biến xung, hình dĩ thành nhi phục thất.

Lục xung biến hợp, đất đã mất lại quay về; Lục hợp biến xung, hình đã thành mà lại mất.

Về câu nói này, có hai cách giải thích. Nếu là quẻ Lục xung biến Lục hợp, tức đất này trước mắt không lấy được, nhưng về sau ắt sẽ được; hoặc cũng có thể là vận đất đã suy, long đã đi mất từ trước, nhưng bây giờ lại quay lại. Nếu được quẻ này, lại thêm hào Thế tại Tử Tôn vượng tướng, thì rất nên chọn đất này. Ta từng xem cho một vài người gặp quẻ này, đời sau khoa giáp thường xuyên đỗ đạt.

Nếu là quẻ Lục hợp biến Lục xung, thì hoặc là đất đã có được nhưng sau lại mất, hoặc là vận đất sắp suy, long sắp đi mất, không nên dùng.

Thế vượng nhi hóa Tuyệt Phá, cát xứ tàng hung; Thế suy nhi hóa sinh hợp, hung trung hữu cát.

Thế vượng mà hóa Tuyệt hóa Phá, trong cát ẩn hung; Thế suy mà hóa sinh hóa hợp, trong hung có cát.

Hào Thế tuy vượng, nhưng không nên hóa Phá, hóa Mộ, hóa Tuyệt, hóa hồi đầu khắc, vì chủ về trước là đất tốt, nhưng sau lại có chỗ bất lợi; hoặc chôn cất không được ngày tốt; hoặc sau khi chôn xong có người phá hoại, đều là điềm cát biến thành hung. Nếu hào Thế suy nhược, nhưng động hóa hồi đầu sinh, hóa Trường Sinh, Đế Vượng, hóa Nhật thần, Nguyệt kiến, hóa hợp, hóa Tiến thần, là điềm trước hung sau cát. Tuy địa thế trước mắt là đất tài đinh, nhưng về sau thế đất sẽ trở nên hưng thịnh, mà biến thành đất phú quý.

Những Quẻ Xem Đất Thật Và Ứng Nghiệm Của Đời Sau

Câu phú đã nói đủ, chỉ còn đem đặt cạnh những mảnh đất có thật.

Ví dụ: Ngày Mậu Ngọ tháng Dần, xem về đất, được quẻ Di biến Vô Vọng:

Quẻ Sơn Lôi Di
Quẻ biến Thiên Lôi Vô Vọng

Đoán rằng: Hào Thế Tuất thổ, do xem vào mùa xuân nên hưu tù, lại động hóa thành Tử Tôn Ngọ hỏa, hồi đầu sinh Thế, Nhật, Nguyệt và hào Thế hợp thành Tam hợp. Thanh Long tại hào thủy tạo thành thế Thanh Long hý thủy, thủy hóa Thân kim là hóa Trường Sinh, nguồn nước dồi dào. Chỉ hiềm Thân gặp Nguyệt phá, Tuất thổ khắc Tý thủy, lại bị Nhật thần xung tán, xuân hạ có nước, đến thu đông sẽ khô. Người này bèn nói: Đúng là như vậy. Ta nói: Không đáng ngại! Không thể cầu toàn được. Trong quẻ Nhật, Nguyệt và Tử Tôn hợp thành Tam hợp, nên người chết được yên, người sống được an lạc, con cháu phát đạt, nên không phải lo lắng. Sau quả nhiên táng ở mộ đấy. Năm Thìn chôn cất, năm Dậu cháu trai đỗ á khoa. Đến năm Tý, cháu trai thứ lại đỗ thi hương.

Thế hóa Tiến thần, thiên thu miên viễn; Phúc đức hóa Tiến, bách đại chưng thường.

Thế hóa Tiến thần, ngàn năm trường cửu; Phúc đức hóa Tiến, hương khói muôn đời.

Hào Thế nên vượng tướng hoặc hóa Tiến thần, hóa Nhật Nguyệt, hóa hồi đầu sinh, hóa hợp, hóa Trường Sinh Đế Vượng, là tượng long mạch vững vàng, thủy tụ, mạch đất sâu xa.

Nếu hào Tử Tôn vượng tướng hóa Tiến thần, hoặc hóa hợp, hóa sinh, hóa Nhật Nguyệt, hóa vượng tướng, là tượng con hiền cháu quý, rạng danh chốn triều đình.

Thế hóa Thoái thần, chung tu thiên cải; Tử Tôn hóa Thoái, đại đại bất như.

Thế hóa Thoái thần, sẽ phải thay đổi; Tử Tôn hóa Thoái, mỗi đời một suy.

Hào Thế và hào Tử Tôn đều nên được Nhật, Nguyệt, hào động sinh phò, không nên bị Nhật thần, Nguyệt kiến xung khắc.

Vượng Thế lâm Hổ, quan thượng gia quan; vượng Phúc phùng Long, Dần táng Mão phát.

Thế vượng lâm Hổ, quan tài chồng lên quan tài; Phúc vượng gặp Long, chôn năm Dần phát năm Mão.

Nếu hào Thế lâm Quỷ Bạch Hổ, hoặc theo Quỷ nhập Mộ, đều chủ dưới đất có hài cốt. Nếu hào Thế vượng tướng, lại được sinh phò, là tượng quan chồng lên quan. Từng gặp hai người chôn như vậy, về sau đại phát. Nếu hào Thế hưu tù, thì không thể đoán như vậy.

Nếu hào Tử Tôn vượng tướng, được Nhật Nguyệt sinh phò, lại gặp Thanh Long, là cát địa, chôn cất năm Dần, sang năm Mão lập tức đại phát, ý nói tốc độ vượng phát rất nhanh.

Ví dụ: Ngày Mậu Tý tháng Thân, xem về phần mộ, được quẻ Bác:

Quẻ Sơn Địa Bác

Đoán rằng: Tử Tôn trì Thế, gặp Nhật thần, được Nguyệt kiến Thân kim tương sinh. Lại thêm Thanh Long hý thủy, nước từ mé tả vòng lại, vượng tướng nên sẽ gần sông lớn, nếu không cũng có dòng nước chảy dài. Bạch Hổ tại Mão mộc, Tý và Mão tương hình, nên có nanh vuốt mai phục, Ứng là núi chầu, Ứng hỏa bị thủy khắc, nên núi không cao. Tuất là án sơn, Tuất thổ khắc thủy, nên án sơn sẽ cao hơn. Người xem bèn nói: Tất cả đều đúng. Ta nói: Mau táng chỗ đấy, đến mùa đông sẽ phát. Quả nhiên tháng tám an táng, đến tháng mười, con trai thứ lập công lớn, được lên cấp thăng chức cao. Đến tháng tư năm sau, được lập phủ riêng, giữ chức nguyên nhung. Con trai trưởng vốn không có con cái, đến năm sau cũng sinh được.

Lại ví dụ: Ngày Nhâm Dần tháng Mão, xem về tìm đất, được quẻ Trạch Hỏa Cách biến Ký Tế:

Quẻ Trạch Hỏa Cách
Quẻ biến Thủy Hỏa Ký Tế

Lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, Phụ Mẫu Thân kim hồi đầu sinh Hợi thủy, hào Thế tuy hưu tù, nhưng gặp sinh nên vượng. Chỉ hiềm Nhật thần Dần xung mất Thân kim, nên phải đến tháng bảy mùa thu đắc lệnh mới được đất. Hào Phụ tại Thân, Dậu, nên sẽ có đất tại phía tây nam, là đất tài đinh, đến năm Thân, long hưng vận đến, sẽ vượng phát lớn. Thế suy mà hóa hồi đầu sinh, là tượng trong hung có cát.

Quả nhiên đến tháng bảy, được miếng đất ở phía tây nam, năm Mão an táng, đến năm Dậu con trai cả thi đỗ, con trai thứ ba cũng đỗ võ khoa.

Tán Mộ Tuyệt Không, Ứng Xung Thế Và Nỗi Lo Nước Lụt Dời Lăng

Đất lành đã khó tìm, giữ được cho con cháu lại còn khó hơn.

Tán Mộ Tuyệt Không, Thế dữ Tử Tôn vật kiến; hóa Khắc hóa Quỷ, Đệ Huynh Thê Tử hưu phùng.

Tán, Mộ, Tuyệt, Không, Thế với Tử Tôn đừng gặp; hóa Khắc hóa Quỷ, Huynh Đệ, Thê, Tử chớ nên.

Hào Thế, hào Tử Tôn không nên hưu tù, Mộ, Tuyệt, Không, Phá, không nên động mà gặp Phá Tán hoặc hóa Phá Tán, hóa Tuyệt, hóa Mộ, hóa Quỷ, hóa Thoái thần, hóa hồi đầu khắc. Nếu gặp một trong những trường hợp đó, đều không phải là đất tốt.

Lục thân không nên hóa Quỷ, không nên Phụ hóa Tử, Tử hóa Phụ, Quỷ hóa Tử, Tử hóa Quỷ, Huynh hóa Quỷ, Quỷ hóa Huynh, Huynh hóa Tài, Tài hóa Huynh, Tài hóa Quỷ, Quỷ hóa Tài, như vậy là bất lợi cho anh em, vợ con. Trong nhà còn cha mẹ, cũng không nên gặp Quỷ hóa Phụ, Phụ hóa Tài, Tài hóa Phụ.

Ứng xung Thế hợp xứ phùng xung, lưu di thiên đồ. Phản Phục quái biến hóa khắc, hồng phiếm lăng mộ.

Ứng xung tại nơi hợp cục, đổi dòng di chuyển. Quẻ Phản Phục biến hóa Khắc, nước lụt dời lăng.

Khi chọn đất, không những không nên gặp quẻ Lục xung, mà hào Ứng xung hào Thế cũng là không cát lợi. Nếu Thế, Ứng tương hợp, hoặc gặp quẻ Lục hợp, hoặc Thế, Ứng, Tử Tôn hợp thành Tam hợp cục, là cát địa. Nếu gặp quẻ Phục ngâm, đợi đến năm, tháng xung khai, sẽ phải chuyển dời. Nếu gặp quẻ Phản ngâm, gặp năm, tháng xung khai sẽ phải đổi chỗ. Nếu quẻ nội quẻ ngoại phản ngâm, là quẻ biến. Như Tốn biến Càn, Khôn biến Chấn, đều là hóa tuyệt hóa khắc, nếu gặp những quẻ đó, nếu nặng thì bị sạt lở, nứt vỡ, nhẹ thì phải di chuyển.

Ví dụ: Ngày Mậu Tý tháng Mão, xem về đất, được quẻ Tốn biến Thăng:

Quẻ Tốn Vi Phong
Quẻ biến Địa Phong Thăng

Thế là huyệt, quẻ này Thế lâm Nguyệt kiến, được Nhật thần Tý thủy tương sinh, nên là cát địa. Nhưng hiềm vì quẻ ngoại phản ngâm, hào Thế bị Dậu kim xung khắc, hào Tử Tôn bị Hợi thủy xung khắc, chốn ấy không nên dùng. Người xem bèn nói: "Đã mua xong rồi!" Ta bèn nói: "Không chôn đất ấy có được không?" Người xem bèn đáp: "Thầy địa lý bảo rằng đấy là đất tốt."

Rồi vẫn mai táng ở đất đấy, trong vòng bốn năm, hai con trai một con gái theo nhau mà chết, bản thân cũng mắc chứng bán thân bất toại. Nhưng không biết tự kiểm thảo, lại oán trách tổ tiên, quật quan tài lên dầm mưa dãi nắng mà không mang chôn, hai năm sau thì chết, quan tài cũng để phơi cùng ở đó, sau thành tuyệt tự. Sở dĩ ứng vào năm Dậu, là vì năm xung hào Thế.

Phụ hóa Phụ, nhi tôn yểu chiết. Tử hóa Tử, tử nữ thành hành.

Phụ hóa Phụ, con cháu chết yểu. Tử hóa Tử, con đống cháu đàn.

Không nên gặp hào Phụ động, Phụ động hóa Phụ lại càng hung. Nếu Tử Tôn hóa Tử Tôn mà không bị thương khắc, là điềm con cái đầy đàn, không có tình trạng độc đinh.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch