Bài tổng quan
Con Cái Thừa Tự, Vợ Lẽ Và Thai Sản: Những Mối Lo Sau Hôn Nhân
Một người nhiều thê thiếp nhưng không con, xem quẻ thấy Tử Tôn gặp Tuyệt, biết chắc số mệnh mình không con. Nghe lời khuyên tích âm đức, ông bố thí cho người nghèo, xây cầu làm đường — về sau sinh liền hai con trai, lúc lâm chung dặn con phải nhớ tích đức. Một sản phụ khác đau đẻ đã một ngày một đêm, Dã Hạc lão nhân đoán chắc: giờ Thân ngày mai sẽ sinh con trai, vì phải đợi đúng giờ Tử Tôn xuất hiện mới khắc được Quan Quỷ. Quả nhiên đúng giờ, mẹ tròn con vuông. Tăng San Bốc Dịch gói trọn những mối lo sau hôn nhân: con cái thừa tự, có hợp cha mẹ hai bên hay không, chuyện vợ lẽ nàng hầu, và cả việc xem thai sản. Điều gì khiến số mệnh không con vẫn đổi được bằng đức hạnh?
Mục lục · 5 phần
Con Cái Thừa Tự Trong Hôn Nhân: Hào Tử Tôn Và Chuyện Tích Âm Đức
Nếu xem về tình hình con cái thừa tự trong hôn nhân, mà hào Tử Tôn vượng tướng, hoặc hưu tù nhưng động, hoặc động mà hóa cát, chủ về hôn nhân sẽ có con cái. Hào Tử hóa Tiến thần, hóa hồi đầu sinh, sẽ có nhiều con. Nếu hào Tử Tôn gặp Mộ, Tuyệt, hoặc động mà biến Quỷ, hoặc Quỷ biến Tử Tôn, hoặc Phụ hóa Tử, Tử hóa Phụ, Phụ động khắc Tử, đều chủ về mệnh của mình không con cái, cho dù không chấp nhận cuộc hôn nhân này, cũng là không con. Chỉ còn cách tích nhiều âm đức mới có hy vọng.
Ví dụ: Ngày Đinh Sửu tháng Thân, do có nhiều thê thiếp, nên xem người mệnh nào sẽ có con, được quẻ Cách biến Quải:


Đoán rằng: Hào Tử Tôn Mão mộc gặp Tuyệt ở tháng Thân, hào Quỷ Sửu thổ biến thành Tử Tôn, mà Tử Tôn lại gặp Nguyệt phá, nên người này vốn dĩ số mệnh không con, không có liên quan gì đến mệnh vợ. Người này bèn đưa bát tự cho ta xem, là Giáp Dần, Giáp Tuất, Giáp Tý, Mậu Thìn, bèn nói rằng: Bát tự tuy tốt, là thuần dương bao âm, nên binh quyền hiển hách. Nhưng hiềm vì Bình Đầu sát quá nặng, Khôi Cương chồng chất, nên cũng chủ về không con.
Người xem bèn hỏi: "Còn có cách gì không?" Ta đáp: "Phải tích lũy âm đức!"
Người này bèn nói: "Bất hiếu có ba điều, không con là lớn nhất", từ đó tích cực bố thí cho người nghèo, thành toàn cho vợ chồng người, xây cầu làm đường, phát thuốc phát quan tài,... về sau sinh liền hai con trai. Đến lúc lâm chung có dặn con rằng: "Nếu không nhờ âm đức thì không có được các con. Sau này nên người, phải chăm tích đức".
Hôn Nhân Có Hợp Với Cha Mẹ Hay Không: Hào Phụ Mẫu Lên Tiếng
Ngoài chuyện con cái, còn một mối lo khác gắn liền với đấng sinh thành của cả hai bên.
Chuyên lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, hào Phụ Mẫu là vượng hay suy đều không kỵ, chỉ kỵ hào Tài phát động, thì hôn sự này cần phải đề phòng. Nếu hào Tài động hóa Phụ Mẫu, hào Phụ Mẫu động hóa Tài, hào Quỷ hóa Phụ Mẫu, hào Phụ Mẫu động hóa Mộ, Tuyệt, Không, Phá, hoặc hóa hồi đầu khắc, hoặc động mà phá tán, hoặc Nhật Nguyệt khắc Phụ Mẫu, là tượng cha mẹ sắp hết tuổi trời, tuy không ưng thuận hôn sự này, cũng khó tránh khỏi.
Lấy Vợ Lẽ, Lấy Tỳ Thiếp: Hai Đề Mục Sách Bỏ Ngỏ
Dã Hạc lão nhân chỉ để lại tên gọi cho hai việc này, không viết thêm lời giải, tương tự cách ông từng bỏ ngỏ việc nhờ người mua chức quan.
Lấy Đàn Bà Bỏ Chồng, Lấy Ca Kỹ: Nỗi Lo Tai Họa Đi Kèm Hôn Sự
Có một dạng hôn nhân khác mà sách cũng dành riêng lời bàn, khi người phụ nữ đã qua một lần đò hoặc xuất thân chốn lầu xanh.
Nếu xem để giải tỏa lo âu, thì lấy Tử Tôn làm Dụng thần, nếu Tử Tôn trì Thế, hoặc phát động, thì không có gì phải lo lắng.
Nếu hào Tài trì Thế, được Tử động tương sinh lại càng tốt.
Nếu hào Quỷ lâm Huynh khắc Thế, nhập Mộ, hoặc hào Quỷ trì Thế, hôn nhân tuy thành, nhưng đi liền với tai họa.
Nếu hào Tài khắc Thế, hào Huynh trì Thế, chủ về bị người lừa gạt, tổn hại cả người lẫn tiền của.
Nếu xem có gặp cản trở không, mà hào Huynh động sẽ không thành; nếu hào Quỷ động sẽ có tai họa. Hào Huynh động trì Thế, hôn sự khó thành; Tài động tương sinh, không cầu cũng được.
Nếu gặp quẻ Lục xung biến xung là hung; gặp Tam hợp, Lục hợp là cát. Quẻ Lục hợp biến Lục xung, hôn sự thành nhưng không bền lâu; Lục xung biến Lục hợp, thì cuối cùng cũng thành.
Nếu là chuyện cưỡng ép thành hôn, tư tình, không theo lễ nghĩa, chớ đem hỏi thần linh.
Lý Ngã Bình bàn rằng: Sách xưa bàn về hôn nhân, không nói lên cái lý lẽ chủ yếu, mà phần nhiều bàn tán phù phiếm dông dài, không có bằng cứ, không hiểu các tiên hiền đời trước làm sao lại khiến người đời sau mê muội như thế. "Hoàng kim sách" có viết: "Chồng có tài năng, xem hào Quan gặp Trường Sinh; vợ nếu xấu xí, bởi hào Tài nhập Mộ khố, lời này còn có phần hợp lý. "Dịch mạo" căn cứ vào bát cung để suy đoán về dung mạo, dùng Lục thần để đoán về tính tình tài cán, là không đúng. Ví dụ ngày Tuất tháng Mão gieo được quẻ Thiên Địa Bĩ, Tài vượng trì Thế, nếu dựa vào bát cung để suy đoán dung mạo, thì quẻ này Tài thuộc cung Càn. Càn vi Thiên, nên dung mạo đoan chính, tính tình thông minh, là hàng thục nữ phối cùng Thiên Đức. Căn cứ vào Lục thần, thì Tài lâm Bạch Hổ, mà Hổ là bội nghịch. Hàng thục nữ phối cùng Thiên Đức mà lại bội nghịch, là chuyện không thể. Bởi vậy, dung mạo tài tình không cần phải xem, chẳng lẽ chưa nghe câu, đức không ở sắc đẹp hay sao.
Hôn nhân là do duyên tiền định, nếu Tài vượng Quan hưng, ắt vợ chồng hòa hợp. Tài Quan tương sinh tương hợp, ắt dung mạo đẹp đẽ. Nếu cát thì lấy, nếu hung thì bỏ. Căn cứ vào Tài, Quan, kiêm thêm Thế, Ứng mà luận đoán, như vậy là đủ! Còn muốn hai mệnh không nhập Mộ, Lục thân không tổn hại lẫn nhau, Phụ Mẫu, Tử Tôn không hưu tù, hào Tài không nên động, Quan Quỷ không nên phục, vợ chồng không hai lòng, âm dương không đối nghịch... tức mọi việc đều cầu toàn, nếu cầu toàn như vậy, không những trên đời không có người con gái thập toàn như vậy, mà trong 64 quẻ, cũng không có quẻ nào thập toàn như thế. Lời lẽ phù phiếm chỉ là lừa đời dối người mà thôi.
Thai Sản: Hào Tử Tôn Định An Nguy, Trai Gái Và Giờ Sinh Nở
Sau mọi mối lo trước và trong hôn nhân, sách còn dành hẳn một phần cho thời khắc thiêng liêng nhất: lúc đứa trẻ chào đời.
Xem thai nhi có tốt không, xem về sự an nguy khi mang thai, sự lành dữ khi sinh nở, xem thai nhi là trai hay gái, đều phải xem riêng từng quẻ. Tự xem hay người khác xem hộ, đều lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần. Chỉ có trường hợp con xem cho mẹ mang thai, cần lấy hào Huynh Đệ làm Dụng thần.
Phúc thần vượng tướng ngộ sinh phù, lân chủng triệu thụy; Tử Tôn hưu tù phùng phá tán, bào dựng không hư.
Phúc thần vượng tướng gặp sinh phù, điềm sinh quý tử; Tử Tôn hưu tù lại phá tán, bào thai rỗng không.
Hào Tử Tôn lâm Nhật, Nguyệt, hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh phù, hoặc động mà hóa cát, đều là điềm thai nghén thành công. Nếu Tử Tôn lâm Không, Phá, Tán, Tuyệt, hoặc bị Hình, Xung, Khắc, Hại, hoặc động mà hóa Quỷ, hóa Tuyệt, hóa Phá, hoặc hào Quỷ biến Tử Tôn, Phụ biến Tử Tôn, Tử hóa Phụ, thì khác gì ngọn đèn trước gió, chủ về thai không giữ được.
Tử hóa Tử, song sinh hữu chuẩn;
Tử hóa Tử, song sinh điềm chuẩn.
Hào Tử động mà hóa Tử Tôn, hoặc trong quẻ có nhiều hào Tử Tôn phát động, hoặc đã có một hào Tử Tôn vượng tướng phát động, mà hào khác lại hóa ra hào Tử Tôn vượng tướng, đều chủ về song sinh. Sách "Bốc phệ nguyên quy" có viết: "Hai Tử cùng động, hẳn là song sinh".
Giác Tử bàn rằng: Nếu có hai hào Tử Tôn cùng động hoặc cùng vượng, thì đoán như vậy là đúng. Nhưng nếu trong đó có một hào suy, thì cặp song sinh một sống một chết; nếu một hào âm, một hào dương, là song sinh một nam một nữ. Nhưng trong đó có một hào không động, thì không đoán như vậy.
Dương biến âm, nam nữ khả biện.
Dương biến âm, trai gái dễ phân.
Sáu hào đều tĩnh, cần xem quái bao. Nếu âm bao dương, là con gái; dương bao âm, là con trai.
Âm bao dương, tức các quẻ Khảm, Đại Quá, Tiểu Quá, Hàm, Hằng; dương bao âm, tức các quẻ Ly, Trung Phu, Di, Tổn. Những quẻ còn lại đều không phải.
Sáu hào đều tĩnh, nếu không có quái bao, cần xem hào Tử Tôn. Nếu là hào dương sẽ sinh con trai, nếu là hào âm sẽ sinh con gái. Nếu trong quẻ có hào động, tuy có quái bao cũng không được dùng. Vì thần mách bảo thiên cơ ở hào động, nên trước hết cần xem hào động. Trong quẻ có một hào động, nếu là dương động sẽ sinh con gái, nếu là âm động sẽ sinh con trai. Trong quẻ có hai hào động, cần xem hào phía trên. Trong quẻ có ba hào động, cần xem hào ở giữa. Nếu số hào động nhiều hơn, tức ý niệm chưa thành khẩn, đợi ngày khác xem lại. Nếu xem lại ngay, cũng không ứng nghiệm.
Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Thìn, xem mang thai con trai hay con gái, được quẻ Tiểu Quá biến Dự:


Ta bèn hỏi: Ý của ông là muốn biết vợ mang thai có được bình an không, hay là muốn hỏi xem con trai hay con gái? Người xem đáp: Cả hai việc đều muốn hỏi. Ta nói: Sau này nhất định phải chia ra hai quẻ xem riêng, không được hỏi chung. May mà trong quẻ này, cả hai sự việc đều hiển hiện. Hào Huynh tuy động, nhưng không khắc hào biến Thê Tài, nên việc thai nghén của vợ ông không có điều gì đáng ngại. Trong quẻ hào dương động biến âm, nên sẽ sinh con gái. Người xem bèn hỏi: Tôi xem được quẻ Tiểu Quá là âm bao dương, tại sao lại sinh con gái? Ta bèn đáp: Thần mách bảo cơ trời tại quẻ động, nên phải xem trọng hào động hơn. Sau quả nhiên đến ngày Nhâm Thân sinh con gái, mẹ tròn con vuông.
Tân bình thích: Chỗ này và phần trình bày ở trên có mâu thuẫn, ở trên nói âm bao dương sinh nữ, quẻ này lại hỏi vặn lại là tại sao âm bao dương sinh nữ, có thể thấy phép này vẫn cần phải nghiên cứu.
Giác Tử bàn rằng: Xem về tình hình thai sản của vợ, cùng xem sinh con trai hay còn gái, vốn nên chia ra để xem. Người kia hỏi cùng cả hai việc, vì vào lúc mới mang thai còn thong thả, nên còn có thể đoán gộp. Còn nếu đến lúc sắp sinh sắp nguy mới hỏi, thì không thể dùng quẻ này để suy đoán giới tính nam nữ.
Ví dụ: Ngày Mậu Tý tháng Thìn, bà bầu tự xem về việc mang thai, được quẻ Cấn biến Bác:


Người này đã đau đẻ một ngày một đêm, ta bèn đoán rằng: "Sẽ sinh vào giờ Thân ngày mai." Chị ta bèn hỏi: "Dựa vào đâu mà thầy biết được?" Ta đáp: "Trong quẻ hào Tử Tôn Thân kim độc phát. Tự xem được Quan Quỷ trì Thế, đến giờ Thân hôm sau, Tử Tôn sẽ xuất hiện, khắc đi Quỷ bên mình nên không còn gì đáng ngại."
Có người hỏị rằng: "Tại sao không phải là giờ Thân hôm nay?" Ta bèn giải thích: "Hôm nay là ngày Tý, xung động Ngọ hỏa khắc kim, nên hôm nay không sinh được. Lại hỏi là con trai hay con gái, ta đáp: Quẻ này làm sao định được là trai hay gái. Thần căn cứ vào ý niệm của người xem mà cho quẻ, xem việc gì ứng với việc nấy. Nếu như hỏi vào lúc bình thường vô sự, ắt sẽ có ý niệm về trai hay gái. Lúc này tính mệnh sản phụ ngàn cân treo sợi tóc, nên chỉ muốn sinh sản thuận lợi bảo tồn mạng sống mà thôi. Nên thần chỉ mách bảo về thời điểm sinh nở, chứ không mách bảo là trai hay gái."
Sau quả nhiên đến giờ Thân hôm sau sinh con trai. Nếu như cho rằng trong quẻ hào dương động biến âm mà đoán là con gái, thì thật không hiểu gì về Dịch lý.
Tân bình thích: Quẻ cần phán đoán linh hoạt, nếu dựa vào lý luận trước kia của Dã Hạc thì Tử Tôn hóa Quỷ trăm con không sống được một, ví dụ này vì sao lại có thể được sống? Bởi vì là sinh khó, đầy bụng lo lắng mà xin đoán, vì thế mừng được Tử Tôn phát động, Tử Tôn này không phải là Tử Tôn sinh đẻ, mà chính là Tử Tôn vui vẻ.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
