Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Lục Hợp Và Tam Hợp Cục: Các Dạng Hợp Cùng Cát Hung Ứng Nghiệm

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch16/09/202620 phút đọc17 lượt đọc
Lục Hợp Và Tam Hợp Cục: Các Dạng Hợp Cùng Cát Hung Ứng Nghiệm

Hợp là trạng thái được ưa chuộng trong Lục Hào, vì sự việc gặp tam hợp, lục hợp thì lâu dài, có thủy có chung. Dã Hạc lão nhân phân sáu dạng lục hợp, từ hào hợp Nhật Nguyệt, hào động hợp hào biến tới quẻ lục xung biến lục hợp. Tuy vậy quẻ lục hợp cũng vô ích nếu Dụng thần bị khắc thất hãm, như quẻ Thái xem kiện tụng vẫn thua. Lục xung biến lục hợp chủ tán rồi lại tụ, ly rồi lại hợp. Tam hợp cục gồm bốn tổ hợp Thân Tý Thìn, Tị Dậu Sửu, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi, và hào Thế phải ở trong cục mới tốt. Phép hư nhất đãi dụng cho thấy cục thiếu một chi thì phải đợi ngày tháng bổ đủ, như quẻ Càn biến Tiểu Súc nhờ tháng Dần mà được tuyển làm quan.


Lục Hợp: sáu dạng hợp và quẻ Quy Muội biến Phục

Chương 20: Lục Hợp

Tý hợp với Sửu, Dần hợp với Hợi, Mão hợp với Tuất, Thìn hợp với Dậu, Tị hợp với Thân, Ngọ hợp với Mùi.

Về phương thức tương hợp, có sáu dạng sau:

Thứ nhất: Hào hợp với Nhật thần, Nguyệt kiến.

Thứ hai: Hào với hào tương hợp.

Thứ ba: Hào động và hào biến tương hợp.

Thứ tư: Quẻ lục hợp.

Thứ năm: Quẻ lục xung biến thành lục hợp.

Thứ sáu: Quẻ lục hợp biến thành lục hợp.

Hào hợp với Nhật thần, Nguyệt kiến: Giả sử vào tháng Sửu xem được quẻ Khảm, hào Thế tại Tý thủy, tương hợp với Nguyệt kiến.

Hào với hào tương hợp: Giả sử xem được quẻ Thiên Địa Bĩ, có hai hào Thế và Ứng đều là hào động, tức là Mão hợp với Tuất. Nhưng nếu có một trong hai hào không động, cũng không được coi là hợp.

Tân bình thích: Có một hào động tức là hợp, hợp chia thành chủ động và bị động, mỗi cái có một ý nghĩa của nó, hai hào động mà tương hợp chính là tượng ăn nhịp với nhau.

Ngày Quý Sửu tháng Thìn, một người phụ nữ gieo quẻ được Quy Muội biến Phục. Không nói là đoán việc gì.

Quẻ gốc Lôi Trạch Quy Muội
Quẻ biến Địa Lôi Phục

Trong quẻ hào Tài Mão mộc động mà tương hợp với Ứng, tôi đoán là cô ấy đã cho người khác vay một khoản tiền. Mộc Ứng số 3, đoán cho người ta vay 3 vạn nguyên hoặc 30 vạn nguyên.

Quan Quỷ Ngọ hỏa phát động, Tài động sinh Quan, Quan động sinh Ứng, Quan Quỷ là gian hào (hào gián), xưa là người môi giới, nay là người trung gian, đoán số tiền này được cho vay thông qua một người khác. Quan Quỷ lâm Câu Trần, Câu Trần xưa là nha môn, nay là nhân viên công vụ, đoán người trung gian là một cán bộ làm việc ở đơn vị cơ quan nhà nước.

Tài động hóa thoái, tiền có thể quay lại.

Toàn bộ đều ứng, là 30 vạn nguyên.

Sao lại có thể nói một hào phát động không thể hợp?

Hào động và hào biến tương hợp: Giả sử xem được quẻ Thiên Phong Cấu, hào Thế là Sửu động hóa thành hào Tý thủy, như vậy hào động và hào biến là tương hợp.

Quẻ lục hợp: Ví dụ tại quẻ Thiên Địa Bĩ, sáu hào của quẻ nội, quẻ ngoại đều tương hợp với nhau, không có hào động cũng được coi là hợp.

Quẻ lục xung biến thành lục hợp: Giả sử xem được quẻ Càn vi Thiên, vốn là quẻ bát thuần lục xung. Nếu như ba hào của quẻ ngoại đều động, sẽ biến thành quẻ Địa Thiên Thái, như vậy là quẻ lục xung biến thành lục hợp.

Quẻ lục hợp biến thành lục hợp: Ví dụ như xem được quẻ Lữ biến quẻ Bí.

Các hào tương hợp, nếu tĩnh mà gặp hợp, gọi là hợp khởi. Nếu động mà gặp hợp, gọi là hợp bán.

Hào với hào tương hợp, gọi là hợp hào.

Hào động và hào biến tương hợp, gọi là hóa phù.

Hào gặp hợp: quẻ Khảm biến Khốn xem thi cử

Hào tĩnh nếu tương hợp với Nhật, Nguyệt, hào động, sẽ được khởi phát, cho dù hào đó hưu tù, cũng được trở nên vượng tướng.

Hào động nếu tương hợp với Nhật, Nguyệt, hào động, sẽ bị ràng buộc (bán), nên không thể động được nữa.

Hào động nếu tương hợp với hào động, tức là có người khác đến tương hợp với ta, sẽ trợ giúp cho ta.

Nếu hào biến ra từ hào động lại hồi đầu tương hợp với hào gốc, gọi là hóa phù, nghĩa là được người khác phù trợ.

Nếu được các dạng tương hợp trên đây, xem về việc gì cũng được coi là cát. Xem về công danh được công danh, xem về lợi lộc được lợi lộc, xem về hôn sự, hôn sự ắt thành; xem về bản thân, bản thân sẽ phấn phát; xem về gia trạch, sẽ được hưng vượng, xem về phong thủy mộ phần, là thế tụ khí tàng phong; xem về mưu sự, sẽ được toại nguyện như ý. Nhưng Dụng thần cần phải có khí mới tốt, Dụng thần thất hãm cũng là vô ích.

Sách xưa có viết:

"Tất cả mọi sự việc đều ưa gặp được tam hợp, lục hợp, gặp được thì mọi sự đều được lâu dài, có thủy có chung".

Thế nhưng xem việc tốt mới nên gặp, việc tốt ắt sẽ được. Xem về việc xấu không nên gặp, vì sẽ chuốc lấy tai họa.

Ví dụ: Ngày Mậu Thân tháng Sửu, xem về thi cử, được quẻ Khảm biến Khốn:

Quẻ gốc Khảm Vi Thủy
Quẻ biến Trạch Thủy Khốn

Đoán rằng: Hào Thế tại Tý thủy, hợp với Nguyệt kiến Sửu; Nhật thần là Thân lâm Phụ Mẫu sinh hào Thế, hào Thân kim lại động. Đây lại là quẻ lục xung biến thành lục hợp, nên tượng quẻ toàn mỹ, ắt bài thi sẽ được liệt vào thượng quyền. Quả nhiên thi đỗ đầu bảng, đến khoa thi năm Tý đỗ cao. Sau hỏi ra, thì khoa thi trước chỉ đỗ thứ tư. Bởi vậy, xem được quẻ lục xung biến lục hợp, tức là tượng trước bĩ sau thái.

Quẻ lục hợp mà Dụng thần thất hãm: quẻ Thái, Minh Di biến Tiểu Quá

Lại như vào ngày Tân Mão tháng Tuất, xem về việc kiện tụng, được quẻ Thái:

Quẻ Địa Thiên Thái

Ta bèn đoán rằng: Tuy rằng các hào gặp lục hợp, nhưng hiềm nỗi bị Nguyệt kiến Tuất xung hào Thế, Nhật thần Mão khắc hào Thế. Hào Ứng lại ám động, được Nguyệt kiến tương sinh, nên được thời, chủ về người khác thắng thế, bản thân mình thua kiện.

Sau quả nhiên thua kiện bị phạt trượng. Đó là do Mão mộc tương khắc hào Thế. Dụng thần bị khắc, thì được quẻ lục hợp cũng vô ích. Bởi vậy, khi được các dạng hợp, mà hào Thế thất hãm, cũng khó có được quẻ tốt.

Lại như vào ngày Bính Tý tháng Thân, xem về xuất hành, được quẻ Minh Di biến Tiểu Quá:

Quẻ gốc Địa Hỏa Minh Di
Quẻ biến Lôi Sơn Tiểu Quá

Hào Thế động, được Nhật thần Tý tương hợp, chắc sẽ gặp vướng mắc, không thể khởi hành. Người này bèn hỏi: "Vướng mắc về chuyện gì?" Ta đáp rằng: "Trong quẻ có Tử động biến Quỷ, đề phòng con gái không được yên ổn."

Người này bèn nói rằng: "Cũng vì con gái nhiều bệnh tật, nhà trai lại thúc giục thành hôn, nên nay ra ngoài vì chuyện cưới gả, để chuẩn bị của hồi môn." Ta bèn hỏi: "Mắc bệnh gì?" Người này đáp: "Huyết khô thành lao." Ta bèn nói: "Tử Tôn Mão mộc gặp Tuyệt tại tháng Thân, bị Nhật thần Tý tương hình, lại động mà biến thành Quan Quỷ, e rằng không kịp cưới gả. Sau vì bệnh nặng, người này không thể đi được, đến ngày Thìn thì con gái chết, sở dĩ không đi được, là vì hào Thế động mà gặp hợp. Con gái chết vào ngày Thìn, do Tử Tôn Mão mộc biến thành Quan Quỷ Thìn thổ."

Những trường hợp trên là hào gặp hợp. Gặp quẻ lục hợp cũng rất ứng nghiệm.

Lục xung biến lục hợp, lục hợp biến lục hợp

Quẻ lục xung biến thành lục hợp

Ví dụ: Vào ngày Đinh Tị tháng Mùi, xem hôn sự đã bị từ hôn liệu còn thành được hay không. Được quẻ Ly biến Hỏa Sơn Lữ:

Quẻ gốc Ly Vi Hỏa
Quẻ biến Hỏa Sơn Lữ

Ta bèn đoán rằng: Quẻ này vốn dĩ khó mà đoán là tốt được. Nhưng theo chiêm nghiệm của ta, gặp quẻ lục xung biến lục hợp, chủ về tán rồi lại tụ, ly rồi sẽ hợp, hôn sự này nhất định sẽ thành. Quả nhiên vào tháng ba năm sau, hai bên lại thành hôn.

Với các dạng hợp, nếu Dụng thần vượng sẽ tốt, duy chỉ có trường hợp quẻ lục xung biến thành lục hợp là không cần xem Dụng thần cũng có thể đoán là tốt; xem về hôn nhân, trước là cách trở, sau lại nên duyên. Xem về vợ chồng, trước là chia lìa, sau lại hòa hảo. Xem về công danh, trước gian nan, sau được vinh hiển. Xem về mưu kế, trước khó khăn, sau sẽ dễ dàng. Xem về vận mệnh, trước khốn khó sau được hưởng thụ. Xem về phong thủy, sẽ tìm được đất tốt. Xem về gia trạch, trước nghèo khổ sau phát đạt. Từng có người vợ bị cướp bắt, sau vẫn được đoàn tụ. Có người ruộng vườn bán hết, sau vẫn được lấy về.

Quẻ lục hợp biến thành lục hợp

Các hào trong quẻ được lục hợp đã là điềm tốt. Nhưng hào động mà lại biến ra quẻ lục hợp, được gọi là thủy chung tương hợp.

Xem về phong thủy, sẽ hiển đạt trăm năm.

Xem về gia trạch, sẽ vững nghiệp muôn đời.

Xem về hôn nhân, sẽ chung sống đến bạc đầu.

Xem về bạn làm ăn, tất cả đều trung thành tận tụy.

Xem về công danh, đường mây rộng mở.

Xem về tiền tài, chất ngất bằng non.

Xem về anh em, sẽ đời đời chung sống.

Xem về học tập, sẽ thành tựu liên tiếp.

Xem về tu luyện, sẽ thành công nhanh chóng.

Nếu được thêm Dụng thần vượng khí, lại gặp Nguyệt kiến, Nhật thần, là đã tốt lại càng thêm tốt.

Duy chỉ có xem về kiện tụng là bất lợi, chủ về thù oán khó giải. Hoặc xem về chuyện ngờ vực, quái đản, sẽ không được toại nguyện.

Xem về thai nghén, gặp quẻ này sẽ được an lành. Xem về sinh sản, gặp quẻ này sẽ khó sinh.

Lại nếu như Dụng thần bị khắc, càng là điềm hung hại.

Trong hợp có khắc: quẻ Khốn biến Tiết xem mồ mả

Giả sử vào ngày Giáp Dần tháng Mão, xem về mồ mả, được quẻ Khốn biến Tiết:

Quẻ gốc Trạch Thủy Khốn
Quẻ biến Thủy Trạch Tiết

Ta bèn hỏi: "Xem về mộ tổ, ắt có duyên cớ. Từ khi mai táng đến nay đã xảy ra chuyện gì? Tại sao hôm nay lại muốn hỏi về việc này? Nếu nói rõ cho ta biết, ta mới dám quyết đoán." Người xem bèn nói rằng: "Từ khi mai táng xong, về đường công danh, bị khiển trách nên về hưu. Nay tuổi đã ngũ tuần, mà vẫn không con cái, nên mới hỏi thầy, có phải là do phong thủy mộ tổ có vấn đề hay không?"

Ta bèn giải đáp rằng: "Lai long đến từ long mạch phía bên phải, nước quành từ bên trái lại, ấy là do dòng nước chảy không về huyệt gây nên." Người này bèn hỏi: "Tại sao thầy biết được?" Ta đáp rằng: "Tử Tôn Hợi thủy, biến thành Thân kim, hồi đầu sinh thủy, Thân là dòng nước, đến ngày Dần bị xung tán. Nếu như có thể khiến nước chảy về huyệt, không còn chảy vòng sang bên cạnh nữa, thì từ năm sau sẽ hiệu nghiệm, công danh được phục hồi, đến năm Thân sẽ sinh quý tử." Người này bèn hỏi có được lâu dài không? Ta bèn đáp: "Quẻ lục hợp biến lục hợp, là tượng an hưởng ngàn năm."

Sách xưa có viết:

"Tý hợp với Sửu, trong Sửu có thổ, thổ khắc Tý thủy, nên gọi là trong hợp có khắc, khắc ba phần hợp bảy phần. Tị hợp với Thân, Tị hỏa khắc Thân kim, nên gọi là khắc bảy phần hợp ba phần".

Những quan niệm đó vẫn không đúng hoàn toàn.

Ta thấy ứng nghiệm ở chỗ, khi Tý hợp với Sửu, nếu xem vào ngày hoặc tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, mà hào Tý thủy không được những chỗ khác sinh phù, thì chỉ coi là khắc mà không nói đến hợp. Nếu được những chỗ khác sinh phù, thì vẫn coi là hợp.

Cho nên khi Tý thủy gặp tháng Sửu, Tuất thổ gặp tháng Mão, Thân kim gặp tháng Tị, lại bị hào động Nhật kiến tương khắc, tức là đã khắc lại thêm khắc, làm sao có thể hợp được! Còn như có người đến hỏi chuyện cát hung, lại giải đáp theo kiểu ba phần, bảy phần như vậy, làm sao có thể giải tỏa được mối ngờ cho người ta.

Quẻ Bác xem bệnh con và bốn tổ hợp Tam Hợp Cục

Ví dụ: Vào ngày Canh Thìn tháng Sửu, xem về bệnh của con, được quẻ Bác:

Quẻ Sơn Địa Bác

Tử Tôn Tý thủy tương hợp với Nguyệt kiến, trong quẻ không còn hào khác sinh phù, nên chỉ coi là khắc mà không coi là hợp. Lại bị Nhật thần khắc chế, Nhật thần lại xung động Tuất thổ để khắc Tý thủy, chỉ e rằng không qua được giờ Thìn. Người này đã sinh đến 9 con, nhưng đều chết cả, nghe vậy thì hết sức đau lòng, bèn lập tức sai nhũ mẫu bế đứa bé lên nhà khách, mời những người thân có quyền chức cao đến vây quanh. Cho đến giờ Dần, thì thấy nhũ mẫu khóc. Đấy là do số mệnh gặp khắc, bệnh không cứu được, sao có thể nói theo kiểu khắc ba hợp bảy được!

Tam hợp cục

Thân, Tý, Thìn hợp thành thủy cục;

Tị, Dậu, Sửu hợp thành kim cục;

Dần, Ngọ, Tuất hợp thành hỏa cục;

Hợi, Mão, Mùi hợp thành mộc cục.

Tam hợp có bốn dạng:

Thứ nhất: Trong một quẻ, có ba hào động mà thành hợp cục.

Thứ hai: Có hai hào động, một hào không động, cũng tạo thành hợp cục.

Thứ ba: Trong quẻ nội, hào sơ và hào 3 động, biến ra hào biến, cùng hào sơ và hào 3 tạo thành hợp cục.

Thứ tư: Trong quẻ ngoại, hào 4 và hào 6 động, biến ra hào biến, cùng hào 4 và hào 6 tạo thành hợp cục.

Tam hợp cục có hung, cũng có cát.

Như xem về công danh, nếu hợp thành Quan cục, gọi là quan vượng.

Hợp thành Tài cục, Tài vượng sẽ sinh Quan.

Nếu hợp thành Tử Tôn cục, sẽ gây tổn hại đến Quan.

Nếu xem về cầu tài, quẻ hợp thành Tài cục, gọi là Tài khố (kho của).

Nếu hợp thành Tử Tôn cục, gọi là thế Tử cục sinh tài.

Nếu hợp thành Huynh Đệ cục, là thế hao tài tán của, ngăn trở chia cách.

Nếu xem về mộ tổ, gia trạch, nếu hào Phụ Mẫu hợp cục là tốt.

Nếu xem về hôn nhân, vợ chồng, hào Tài, Quan vượng mà hợp cục là tốt.

Nếu xem về chuyện tốt đẹp, nếu thành cục là tốt, là thế vững bền, trường cửu.

Nếu xem về kiện tụng, nghi ngờ mà gặp hợp cục, thì một đời phiền muộn uất kết trong lòng, khó có thể trừ bỏ.

Nhưng với tam hợp cục, hào Thế phải ở trong cục mới là tốt. Nếu hào Thế ở ngoài cục, thì cục tương sinh ra hào Thế là cát, cục tương khắc hào Thế là hung. Nguyệt kiến, Nhật thần, nếu được một thứ ở trong cục, thì được gọi là cục vượng, càng cát lợi.

Trong ba hào của cục, nếu có hai hào động sẽ không tạo thành cục, cần phải đợi đến ngày, tháng sau này bổ sung, bù đắp, mới hợp thành được cục. Như vậy, gọi là "hư nhất đãi dụng" (thiếu một đợi dùng).

Nếu có một hào động, một hào ám động, cũng coi như có hai hào động.

Trong tam hợp cục, nếu có một hào gặp Không, Phá, phải đợi đến ngày, tháng hào đó được điền thực, mới có thể thành cục.

Nếu có một hào nhập Mộ, đợi đến ngày xung khai, mới có thể thành cục.

Phàm là được tam hợp cục, nếu cầu việc danh lợi, hôn nhân, gia trạch, phong thủy, mà Dụng thần vượng, thì việc xem đều tốt. Nhưng hào Thế phải ở trong cục mới tốt. Nếu hào Thế ở ngoài cục, nếu được cục tương sinh là cát, nếu bị cục tương khắc là hung.

Như xem về công danh, được tam hợp Quan cục sinh hào Thế, sẽ có lợi cho bản thân; nếu hợp cục sinh hào Ứng, sẽ lợi cho người khác.

Tam hợp Quan cục: quẻ Tiểu Quá biến Mông

Ngày Nhâm Dần tháng Thân, nam đoán quan vận, được Tiểu Quá biến Mông:

Quẻ gốc Lôi Sơn Tiểu Quá
Quẻ biến Sơn Thủy Mông

Quẻ này Quan Quỷ Ngọ hỏa trì Thế, được Nhật sinh, lại tam hợp thành cục, có thể gọi là vượng. Tôi đoán người này khó mà được thăng chức. Kết quả đúng như vậy. Chính là bởi vì tam hợp Quan cục mà sinh hào Ứng.

Ngoài ra, Nhật Nguyệt cũng nhập tam hợp cục, nhưng địa chi ở giữa trong cục phải phát động trong quẻ, lại là bán cục, mới có thể nhận Nhật Nguyệt thành cục.

Xem về tiền tài, được Tài cục sinh hào Thế, sẽ có lợi cho bản thân; nếu Tài cục sinh hào Ứng, sẽ có lợi cho người khác.

Xem về xuất hành, nếu Dụng thần nằm trong tam hợp, sẽ bị hợp mà phải ở lại.

Xem về người đi xa, nếu Dụng thần nằm trong tam hợp, sẽ bị hợp mà không thể trở về.

Tân bình thích: Trong sách cổ có nói:

"Dụng thần trị tam hợp, hành nhân lập hồi trang" (Dụng thần có tam hợp, người đi đường tức khắc về nhà).

Lại nói tam hợp nhanh về. Dụng thần tam hợp thành cục sinh Thế, sao có lý không về?

Như ví dụ thực tiễn của tôi dưới đây.

Một học trò của tôi xuất ngoại, ngày Kỷ Mùi tháng Tý, có người xem anh ta ngày nào về, được quẻ Khiêm biến Lữ.

Tam hợp cục sinh Thế: quẻ Khiêm biến Lữ, phép chia nội ngoại

Quẻ gốc Địa Sơn Khiêm
Quẻ biến Hỏa Sơn Lữ

Xem bạn trở về, lấy hào Huynh Đệ làm Dụng thần, Dụng trị tam hợp cục sinh hào Thế, đang về, hơn nữa ngày về rất gần. Kết quả là ngày hôm sau về đến. Ứng ngày hôm sau vì Dụng thần động hóa hồi đầu khắc, ngày hôm sau hợp trụ khắc thần hào biến mà về. Nếu luận theo Dã Hạc thì nhất định không trở về.

Nếu quẻ nội và quẻ ngoại đều hợp thành tam hợp cục, phải phân chia rõ nội và ngoại.

Ví dụ xem về gia trạch, mà ở nhà phía ngoài, nếu quẻ nội khắc quẻ ngoại là không nên; nếu ở nhà trong, thì được quẻ nội sinh quẻ ngoại là tốt.

Nếu xem về tình trạng của mình và người khác, thì quẻ nội tượng trưng cho bản thân, quẻ ngoại tượng trưng cho người khác. Nếu quẻ ngoại hợp cục, mà sinh ra quẻ nội, là tốt; quẻ ngoại khắc quẻ nội là hung.

Nội ngoại cùng hợp cục: quẻ Ly biến Khôn

Ví dụ vào ngày Đinh Tị tháng Mão, thôn trên và thôn dưới vì tranh chấp nước tưới ruộng mà xảy ra ẩu đả, xem được quẻ Ly biến quẻ Khôn:

Quẻ gốc Ly Vi Hỏa
Quẻ biến Khôn Vi Địa

Ta bèn đoán rằng: Quẻ nội tượng trưng cho thôn mình, được Hợi, Mão, Mùi hợp thành mộc cục. Quẻ ngoại tượng trưng cho thôn người ta, được Tị, Dậu, Sửu hợp thành kim cục. Kim khắc mộc, may là vì kim suy không khắc được mộc vượng, nên không đáng lo. Lại thêm là quẻ lục xung biến thành lục xung, sẽ có người đến can ngăn giải tán nên không nghiêm trọng. Sau quả có người khuyên giải mà giải tán.

Có người hỏi rằng, tình thế của hai bên, ắt phải lấy hào Thế hào Ứng làm chủ, tại sao ở đây lại không nói đến Thế, Ứng? Ta bèn đáp rằng: Nếu không có hợp cục nội ngoại, thì cần xem Thế, Ứng. Nhưng nay tình hình hai thôn hiển thị tại hai quẻ nội và ngoại, vì mọi người đồng lòng, nên cả hai đều hợp cục, ý của thần linh đã hiện rõ, nên mới bỏ mà không dùng đến Thế, Ứng. Nếu quẻ này không biến thành quẻ lục xung, thì chắc chắn sẽ xảy ra chuyện rắc rối.

Hư nhất đãi dụng: quẻ Càn biến Nhu, Càn biến Tiểu Súc

Lại như vào ngày Đinh Dậu tháng Tị xem về công danh, được quẻ Càn biến Thủy Thiên Nhu:

Quẻ gốc Càn Vi Thiên
Quẻ biến Thủy Thiên Nhu

Người này thi tài năng được ngôi đầu, nhưng sau vì nguyên do khác mà không được trọng dụng. Nay lại có vị trí cần tuyển chọn tài năng, có ý muốn ra thi, nhưng lại không dám. Ta bèn nói rằng: Anh đã cầu khấn để hỏi thần linh về chức vị này, thần đã mách bảo với anh, chức này chắc chắn sẽ được. Hào Quan vượng sinh hào Thế, nên chắc chắn sẽ có công danh. Hiềm vì Quan cục tam hợp Dần Ngọ Tuất còn thiếu khuyết Dần, cần phải đợi đến ngày Dần mới hiển hiện đủ, như vậy sẽ được bổ nhiệm chức vị còn khuyết đó. Quả nhiên vào ngày Dần trình lên, được phê chuẩn bổ nhiệm. Trường hợp này chính là "hư nhất dĩ đãi dụng" (khuyết một đợi dùng).

Lại ví dụ: Ngày Bính Thìn tháng Dần, xem về ngày báo danh ứng thí, được quẻ Càn biến Tiểu Súc:

Quẻ gốc Càn Vi Thiên
Quẻ biến Phong Thiên Tiểu Súc

Ta bèn giải thích rằng: Quẻ này nếu đoán theo phương pháp xưa, chỉ có một hào Quan Ngọ hỏa phát động, nên ứng vào ngày Ngọ. Nếu động mà gặp hợp, cần phải đợi dịp xung khai, tức tháng Tý tháng Sửu. Nhưng nay ta không theo phép này. Ngọ hỏa động, hào Tuất ám động, tạo thành tam hợp nhưng còn thiếu Dần, cần nhờ vào Nguyệt kiến để tạo thành tam hợp, tháng này là tháng Dần, ắt sẽ được tuyển. Quả nhiên trong tháng được tuyển đến làm quan tại Mân Trung. Sở dĩ ứng tuyển tại đất Mân, là do hào Thế động tại hào 6, và hào Quan tại Ngọ hỏa. Đây là trường hợp minh động, ám động hợp thành cục.

Tân bình thích: Quẻ này Phụ Mẫu Tuất thổ Nguyệt khắc là hưu tù, nhưng được Quan Quỷ Ngọ hỏa động mà sinh, chuyển nhược thành vượng, Nhật xung không là phá, là ám động.

Tam hợp Tài cục sinh Thế: quẻ Tụy biến Cách

Lại ví dụ: Vào ngày Đinh Hợi tháng Thìn, xem về việc giải trình, được quẻ Tụy biến Cách:

Quẻ gốc Trạch Địa Tụy
Quẻ biến Trạch Hỏa Cách

(Quẻ gốc bản cung thuộc Kim; Không Vong: Ngọ, Mùi.)

Quẻ nội gồm Hợi, Mão, Mùi hợp thành Tài cục (mộc cục), sinh ra hào Thế là hào Quan Tị hỏa. Hào Thế Tị hỏa gặp Dịch Mã, bị Nhật thần Hợi xung mà ám động, chớ nên tiếc chi phí, đến ngày Mùi chắc chắn sẽ được chấp nhận, lập tức được chức vị tốt. Sau đến tháng Mùi, được khôi phục chức vị, bổ nhiệm đến Sở Trung. Sở dĩ ứng nghiệm vào tháng Mùi, là tháng không được điền thực.

Tân bình thích: Quẻ này Quan Quỷ không được Nhật Nguyệt sinh phù, tam hợp Tài cục tới sinh, chính là hối lộ được quan.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch